Chiến lược che giấu tình cảm trong giao tiếp ngôn ngữ của người việt (có đối chiếu với tiếng anh) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

VŨ THU HUYỀN

CHIẾN LƯỢC CHE GIẤU TÌNH CẢM
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA
NGƯỜI VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI – 2010


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

VŨ THU HUYỀN

CHIẾN LƯỢC CHE GIẤU TÌNH CẢM
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA
NGƯỜI VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học


Nguyên nghĩa

TS

Tiến sĩ

GS.TS

Giáo sư - Tiến sĩ

S

Speaker (Người nói)

Sp1

Speaker 1(Vai phát ra diễn ngôn tức
vai nói, viết)

Sp2

Speaker 2 (Vai tiếp nhận diễn ngôn tức
vai nghe, đọc)

H

Hearer (Người nghe)

U

được thực hiện qua các chiến lược giao tiếp nhằm hướng tới mục đích của giao tiếp
và tính hiệu quả của nó đối với người nói. “Che giấu tình cảm” là một trong những
chiến lược giao tiếp quan trọng và phổ dụng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ.
Lý thuyết lịch sự chính là tiền đề lý luận cơ bản của hiện tượng “che giấu
tình cảm” bởi chính lịch sự đã chi phối việc “che giấu tình cảm” và bản chất của
“che giấu tình cảm” là mong muốn giữ thể diện. Lý thuyết lịch sự đã được rất
nhiều các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu, điển hình như: Lakoff; Leech; Brown
và Levinson... Tuy nhiên, đây là những tri thức đại cương về lịch sự không đi
sâu đề cập đến vấn đề lịch sự và thể diện trong một khu vực giao tiếp nhất định
như “che giấu tình cảm”. Bên cạnh đó, trong một số tài liệu tiếng Việt, đặc biệt
là tiếng Anh thực hành (điển hình là cuốn “Say it naturally!” của tác giả Allie
Patricia Wall), “che giấu tình cảm” đã được đề cập đến nhưng dưới góc độ một hành
động ngôn ngữ (speech act). Ở đề tài này, chúng tôi nghiên cứu “che giấu tình cảm”
trên bình diện là một chiến lược giao tiếp thông qua các hành động ngôn ngữ cụ thể.
“Che giấu tình cảm” với tư cách là một chiến lược giao tiếp là sự thể hiện
của phép lịch sự được người nói dùng để hoàn thành mục đích giao tiếp như thiết
lập hoặc duy trì những quan hệ liên nhân (interpersonal) hài hoà. Lịch sự là một
phương thức giao tiếp thể hiện các khoảng cách xã hội giữa những người tham
gia giao tiếp, có tính phổ quát đối với mọi xã hội trong mọi lĩnh vực tương tác.
Đây là vấn đề văn hóa và mang tính đặc thù của từng nền văn hóa.


Một trong những điểm nổi bật của tính cách Việt trong giao tiếp là sự
khiêm tốn và ôn hoà. Trong hoạt động giao tiếp, người Việt rất ưa tế nhị, kín
đáo, tránh làm tổn thương đến đối tượng mà mình đang giao tiếp. Chính vì thế,
“che giấu tình cảm” là một chiến lược mà người Việt thường xuyên ưa dùng.
Việc tìm hiểu chiến lược này sẽ làm sáng tỏ phần nào tính cách, sở thích của người
Việt trong giao tiếp; mặt khác, góp phần bổ xung cho những tri thức đại cương về
“lịch sự” trong giao tiếp ngôn ngữ nói chung và hiện tượng “che giấu tình cảm” nói

- Góp phần bổ xung cho những tri thức đại cương về “lịch sự” trong giao
tiếp ngôn ngữ nói chung và hiện tượng “che giấu tình cảm” nói riêng.
- Bước đầu xác định được xu hướng, sở thích của cộng đồng nói tiếng Việt
và Anh trong khu vực giao tiếp cụ thể này.
8. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo bao gồm bốn chương:
Chương 1: Những tiền đề lý luận
Chương 2: Chiến lược “che giấu tình cảm” của người Việt qua các thủ
thuật thực hiện chiến lược đó.
Chương 3: Cấu trúc các phát ngôn thể hiện các thủ thuật “che giấu tình
cảm” của người Việt
Chương 4: Chiến lược “che giấu tình cảm” trong giao tiếp ngôn ngữ của
người Việt đối chiếu với tiếng Anh.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1


NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Lý thuyết lịch sự
Như chúng ta đã biết, tương tác bằng lời là một hoạt động xã hội. Trong
hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin còn có quan hệ liên cá nhân. Các quy
tắc lịch sự sẽ đề cập đến phương diện liên cá nhân của hội thoại.
1.1.1. Định nghĩa lịch sự
Lịch sự là hiện tượng được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên
cứu. Theo đó, đã có nhiều quan niệm khác nhau về lịch sự. Có thể đưa ra một số
quan niệm sau về hiện tượng lịch sự:
Theo Leech, “phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia
mà chúng ta có thể gọi là “ta” và “người” ( “self” and “other”)”. Nó có chức
năng “gìn giữ sự cân bằng xã hội quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến

gũi về quan hệ xã hội. Dành cho sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý
kiến hay lời thỉnh cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị phản
bác hay từ chối. Nói chung nếu S muốn thuyết phục H theo một quan điểm hay
một công việc nào đó thì S sẽ nói sao cho H không buộc phải nhận ra ý định của
S. Những điều S khẳng định hay thỉnh cầu đều được rào đón hay nói theo lối
hàm ẩn.

Thứ ba: Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè.


Quy tắc này thích hợp với những bạn bè gần gũi hoặc thích sự thân mật
với nhau. Trong phép lịch sự thân tình, hầu như tất cả các đề tài đều có thể đưa
ra trò chuyện. Trong phép lịch sự này, người ta không phải nói với nhau bằng lối
nói gián tiếp, hàm ẩn rằng quan hệ chưa được thân tình. Nguyên tắc chi phối ở
đây không phải chỉ dừng ở chỗ tỏ ra quan tâm thực sự đến nhau mà còn phải tỏ
ra săn sóc, tin cậy nhau bằng cách thổ lộ tâm tình, bộc lộ mọi chi tiết của cuộc
sống, kinh nghiệm, cảm xúc của mỗi người.
b. Lý thuyết của Leech
Quy tắc lịch sự của Leech được xây dựng trên hai khái niệm: tổn thất
(cost) và lợi ích (benefit). Siêu quy tắc lịch sự của Leech: Hãy giảm thiểu biểu
hiện của những niềm tin không lịch sự, hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin
lịch sự. Siêu nguyên tắc này bao gồm sáu phương châm lịch sự lớn. Cụ thể như sau:
(1) Phương châm khéo léo
(2) Phương châm rộng rãi
(3) Phương châm tán thưởng
(4) Phương châm khiêm tốn
(5) Phương châm tán đồng
(6) Phương châm thiện cảm
Theo Leech, mức độ lịch sự của một hành vi ở lời phụ thuộc vào ba nhân
tố: bản chất của hành vi đó; hình thức ngôn từ thể hiện hành vi đó; mức độ quan

giá trị của mình được tán thưởng” (G.M.Green). G.Yule giải thích cụ thể rằng:
“Thể diện dương tính của một người là cái nhu cầu được chấp nhận, thậm chí
được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là thành viên của cùng một


nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũng được người
khác chia sẻ. Nói đơn giản thì thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể
diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác”.[Dẫn theo 8, 264]
Hai thể diện âm tính và dương tính là hai mặt bổ xung cho nhau. Chúng
phát huy tác dụng theo lối “cộng sinh” với nhau, có nghĩa là một sự vi phạm thể
diện âm tính cũng đồng thời làm mất thể diện dương tính.
c2. Hành vi đe doạ thể diện (FTA)
Thể diện có thể bị mất đi; được duy trì, bảo vệ; hay được đề cao, tôn thêm.
Mỗi thành viên đều muốn thể diện của mình được tôn trọng trong quá trình
tương tác mang tính xã hội, đặc biệt trong hội thoại. Đại bộ phận các hành vi
ngôn ngữ trong quá trình tương tác bằng ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn
hại đến thể diện. Brown và Levinson gọi chúng là các hành vi đe doạ thể diện Face Threatening Acts, viết tắt là FTA.
Chính vì vậy, lịch sự trong giao tiếp chủ yếu là sự điều phối các thể diện
bằng các hành vi ngôn ngữ. Trong hội thoại, các đối tác đều thể hiện mong muốn
được giữ thể diện (Face want). Mong muốn giữ thể diện có nghĩa là xử sự làm
sao cho hình ảnh về ta công cộng của mình được tôn trọng, mà tôn trọng thể diện
của mình là tôn trọng thể diện của người khác.
Khi thực hiện một hành động hay một hành vi ở lời nào đó mà có khả năng làm
mất thể diện của đối tác thì người nói tìm cách làm dịu khả năng đe doạ thể diện đó
bằng những hành vi mà Brown và Levinson gọi là cứu vãn thể diện (Face saving acts).
Tuy nhiên, bản thân các hành vi ngôn ngữ tự chúng không phải bao giờ
cũng chỉ có hiệu quả đe doạ thể diện. Nhiều hành vi ngôn ngữ khi thực hiện lại
có hiệu quả làm gia tăng sự tôn trọng thể diện của cả người nói và người tiếp
nhận. Đó là các hành vi tôn vinh thể diện - hành vi phản đe doạ thể diện (anti -


FTA

Nhiều hơn

Theo sơ đồ này thì lịch sự nhất là không thực hiện FTA. Nếu bắt buộc
phải thực hiện một FTA thì lịch sự nhất là thực hiện bằng lối nói kín (off record).
Nếu buộc phải thực hiện bằng lối nói trắng ra (on record) thì chọn lối nói trắng
có bù đắp mà không chọn lối nói không bù đắp. Để thực hiện một FTA có bù đắp
thì chọn siêu chiến lược âm tính rồi mới đến siêu chiến lược dương tính.


Như vậy, mức độ lịch sự từ cao xuống thấp của các hành vi ngôn ngữ
được sắp xếp như sau:
5. Không thực hiện FTA
4. Thực hiện FTA bằng lối nói kín
3. Thực hiện FTA bằng lối nói trắng có bù đắp theo phép lịch sự âm tính
2. Thực hiện FTA bằng lối nói trắng có bù đắp theo phép lịch sự dương tính
1. Thực hiện FTA bằng lối nói không bù đắp.
Có thể nói, lịch sự chính là lý thuyết chi phối hiện tượng “che giấu tình
cảm” trong giao tiếp ngôn ngữ. Bản chất của “che giấu tình cảm” chính là giữ
thể diện cho đối tác giao tiếp. Bởi vậy, việc tìm hiểu chiến lược “che giấu tình
cảm” sẽ góp phần bổ xung cho tri thức đại cương về lịch sự.
1.2. Chiến lược giao tiếp
1.2.1. Khái niệm giao tiếp
Hoạt động giao tiếp được hiểu là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa các
thành viên trong một cộng đồng, được thực hiện bằng nhiều phương tiện, cách
thức khác nhau. Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ là quan trọng nhất.
Trong quá trình giao tiếp, người nói (viết) mã hoá thông tin và thực hiện
hành vi nói (viết) để truyền thông tin cho người nghe. Người nghe (đọc) tiếp
nhận thông tin và giải mã thông tin để hiểu. Sự thông hiểu là kết quả cuối cùng

hiểu như một kế hoạch cụ thể cho một mục đích giao tiếp nhất định trong một
trường hợp giao tiếp nhất định, được thực hiện thông qua việc lựa chọn những


phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.” (“Communicative strategy is grasped as a
particular plan used for a certain communicative purpose in a certain
communicative situation through choosing non - verbal and verbal means of
communication”).
Như vậy, có thể thấy rằng, chiến lược giao tiếp bao gồm chiến lược giao
tiếp bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Hai chiến lược giao tiếp
này được phân biệt rạch ròi với nhau. Trong phạm vi của luận văn tốt nghiệp
này, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát chiến lược giao tiếp bằng phương tiện ngôn
ngữ, cụ thể là chiến lược “che giấu tình cảm” bằng ngôn ngữ trong giao tiếp của
người Việt (có đối chiếu với tiếng Anh).
1.2.3. “Che giấu tình cảm” như một chiến lược giao tiếp
Như đã đề cập trong phần mở đầu, trong luận văn này, chúng tôi nghiên
cứu hiện tượng “che giấu tình cảm” như một chiến lược giao tiếp chứ không đơn
thuần chỉ là một hành động ngôn ngữ. Bởi lẽ, việc che giấu tình cảm của người
nói là có mục đích, chủ ý rõ ràng, cụ thể và khác nhau trong những ngữ cảnh
giao tiếp cụ thể. Trên cơ sở ngữ cảnh, tình huống và mục đích giao tiếp cụ thể
đó, nhân vật giao tiếp sẽ chọn cho mình cách “che giấu tình cảm” thích hợp và
hiệu quả nhất (thông qua các hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ). Tuy nhiên,
trong luận văn này, chúng tôi đi sâu vào phân tích các hành vi ngôn ngữ thực
hiện chiến lược “che giấu tình cảm” đó.
Trước tiên cần phải hiểu mục đích chung nhất của việc “che giấu tình
cảm” trong giao tiếp là gì? Hay nói cách khác: tại sao trong một số trường hợp,
đôi khi người ta cần hay muốn che giấu tình cảm thực sự của mình? Một lý do cơ
bản nhất chính là việc người nói muốn tránh làm tổn thương đến tình cảm của
đối tác hay của chính mình. Mà bản chất chính là việc giữ thể diện cho đối tác và
cho chính mình. Bởi vậy, “che giấu tình cảm” như thế nào trong giao tiếp cho

phái lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ và Pháp. Cụ thể, các đơn vị hội thoại sẽ bao
gồm:

a. Cuộc thoại (Conversation)
Đây là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất. Đó là một lần trao đổi, nói
chuyện giữa các cá nhân trong hoàn cảnh xã hội nào đó. Theo C.K.Orechioni,
“để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một khung thời gian - không gian
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [Dẫn theo 8, 313].
Để xác định một cuộc thoại, ta có các tiêu chí sau: Nhân vật hội thoại;
tính thống nhất về nội dung và địa điểm; tính thống nhất về đề tài diễn ngôn; các
dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại (dấu hiệu mở đầu, kết thúc).
b. Đoạn thoại (Sequence)
Đó là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với
nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề, một
chủ đề duy nhất. Về ngữ dụng, đó là tính duy nhất về đích của diễn ngôn.
Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại có thể bao gồm: đoạn thoại mở đầu,
thân cuộc thoại, đoạn thoại kết thúc. Trong đó, đoạn thoại mở đầu và kết thúc ít
nhiều được định hình do đó dễ nhận biết hơn các đoạn thoại khác. Tổ chức của
đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hoá và lệ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như vào kiểu cuộc thoại, vào hoàn cảnh giao tiếp, mục đích, hoàn
cảnh gặp gỡ, vào sự quen thuộc, sự hiểu biết về nhau, vào quan hệ thân thuộc giữa
các nhân vật hội thoại. Chúng cũng mang đậm dấu vết của từng nền văn hoá.
c. Cặp thoại hay cặp trao đáp (Adjacency Pairs)


Trong hội thoại có sự tương tác giữa những người tham gia hội thoại.
Tương tác (Interaction) là hoạt động qua lại đối với hoạt động của nhau giữa
những người tham gia hội thoại. Có tương tác bằng lời và tương tác không bằng
lời. Trong tương tác bằng lời, mỗi phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp với những

hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn.
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra
một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.
c. Phân loại các hành động ngôn ngữ
Searle đã dùng bốn tiêu chí: đích ở lời; hướng khớp ghép lời với hiện thực
mà lời đề cập đến; trạng thái tâm lý được thể hiện; nội dung mệnh lệnh để phân
biệt năm phạm trù hành vi ở lời khác nhau. Đó là:
- Tái hiện (Respresensatives): Với hành vi tái hiện, đích ở lời là miêu tả
sự việc đang được nói đến. Hướng khớp ghép là lời - hiện thực, trạng thái tâm lý
là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Các mệnh
đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai, logic.
- Điều khiển (Directives) (ra lệnh, yêu, hỏi, cho phép): Đích ở lời là đặt
người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai; hướng khớp
ghép hiện thực - lời; trạng thái tâm lý là sự mong muốn của người nói và nội
dung mệnh đề là hành động tương lai của người nghe.
- Cam kết (Commissives) (hứa hẹn, tặng, biếu): Đích ở lời là trách nhiệm
phải thực hiện hành động tương lai mà người nói bị ràng buộc; hướng khớp ghép
hiện thực - lời; trạng thái tâm lý là ý định của người nói; nội dung mệnh đề là
hành động tương lai của người nói.


- Biểu cảm (Expressives): Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp với
hành vi ở lời. Trạng thái tâm lý thay đổi tuỳ theo từng loại hành vi; nội dung mệnh
đề là một hành động hay một tính chất nào đó của người nói hay của người nghe.
- Tuyên bố (declarations): Đích ở lời là nhằm làm cho có tác dụng nội
dung của hành vi; hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực; vừa là hiện thực - lời;
nội dung mệnh đề là một mệnh đề.
1.3.2.2. “Che giấu tình cảm” như một chiến lược giao tiếp thông qua
các hành động ngôn ngữ

khác nhau để thực hiện chiến lược “che giấu tình cảm” khi cần thiết. Tên gọi các
thủ thuật này được chúng tôi khái quát thông qua việc thống kê các dẫn chứng cụ
thể (dẫn theo các tác phẩm văn học hay trong giao tiếp thường nhật) căn cứ vào
các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Có thể đưa ra một số thủ thuật điển hình sau:
2.1. Sử dụng lời nói dối vô hại
Trong giao tiếp của người Việt, việc sử dụng lời nói dối vô hại (white lie)
diễn ra rất phổ biến và đa dạng cùng với sự phong phú của hoàn cảnh giao tiếp.
Trong luận văn này, chúng tôi không đồng nhất “lời nói dối” với sự gian dối
nhằm mục đích lừa lọc hay trục lợi. Trái lại, trong một số trường hợp giao tiếp
nhất định, việc đưa ra một lời nói dối là để tránh làm tổn thương đến thể diện dương
tính của đối tác hay thể diện âm tính của bản thân mình. Khi đó, đưa ra một lời nói dối
vô hại chính là nhằm mục đích “che giấu tình cảm”. Hãy xét các trường hợp sau:
a/ Trường hợp 1: Đoạn trích
“Ông chồng gần chúi hẳn người vào gầm bộ ngựa tìm và hỏi toang toang:
- Ơ hay! Cái đèn búp măng đâu rồi? U em!
Bà tớn tác:
- U em đâu rồi?...Con! Chạy ra bảo u em thắp đèn!...Mau con!
Thấy họ rối rít cả lên, hò hổng om xòm mà vẫn không có một cái đèn.
Ông chủ thì vẫn lục sục dưới những gầm bàn, gầm ghế và thỉnh thoảng gọi u em như
quát. Bà chủ đã phải hơi gắt tiếng. Thứ vội bảo: - Thưa ông, thôi ạ…vẫn còn sáng
chán!”
Y nhã nhặn thì đúng hơn. Thật ra thì trong nhà đã nhá nhem rồi…không
gian xám màu tro.”
(Nam Cao, Sống mòn) [22,612]


Có thể thấy, hoàn cảnh giao tiếp giữa Thứ và ông bà chủ - người cho Thứ
thuê nhà đã được tái hiện khá đầy đủ bằng những câu trần thuật: trời nhá nhem
tối, trong nhà không có ánh đèn, ông bà chủ nhà rối rít tìm một cái đèn, có lúc đã
phải gắt tiếng với nhau mà không thấy. Trước hoàn cảnh đó, Thứ vội vàng phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status