Khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi đáp trên ngữ liệu một số sáng tác của nhà văn chu lai - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cộng đồng xã hội, giữa con người với con người luôn diễn ra hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ với hai hình thức là: Giao tiếp đối thoại và giao
tiếp đơn thoại, trong đó hình thức giao tiếp đối thoại được sử dụng thường
xuyên hơn. Khảo sát hiện tượng này ta có thể thấy được một số đặc trưng cơ
bản của giao tiếp hội thoại.
Ngôn ngữ học hiện nay đã xem xét câu ở ba bình diện: kết học, nghĩa
học và dụng học. Ở bình diện nghĩa, câu có cấu trúc nghĩa miêu tả (biểu hiện).
Ở bình diện ngữ pháp, câu có trúc ngữ pháp. Ở bình diện sử dụng trong giao
tiếp câu có cấu trúc tin. Nếu như cấu trúc nghĩa miêu tả quan tâm đến các vị
tố và các tham thể của sự tình, cấu trúc ngữ pháp quan tâm đến các thành
phần ngữ pháp cùng với các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu thì cấu trúc tin chỉ
quan tâm đến phần thông tin của câu, chủ yếu là tin cũ (tin đã biết) và tin mới
(tin cần biết)
Trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao tiếp ít chú ý xem phát
ngôn mình nhận là loại câu gì, bao gồm những thành phần câu nào, đâu là chủ
ngữ, vị ngữ mà thường chỉ quan tâm đến ý nghĩa của phát ngôn, những tin
mới và bổ ích, cần thiết đối với mình. Như vậy, xét trên bình diện ngữ dụng,
đặc biệt là mục đích thì yếu tố quan trọng không phải là cấu trúc ngữ pháp
hay cấu trúc vị từ tham thể mà là cấu trúc tin.
Đời sống của nền Văn học nước ta những năm gần đây diễn ra rất sôi
động, phần nào đã đáp ứng được thị hiếu của người đọc và phần nào góp phần
vào xu thế chung của xã hội: xu thế hội nhập. Đặc biệt những nhà văn đương
đại như: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai, Lê Lựu, Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thùy Linh … họ đã cho ra đời một khối lượng tác

Lý thuyết về cấu trúc tin (còn gọi là cấu trúc thông tin) là một vấn đề đã
được các nhà ngôn ngữ học thế giới nghiên cứu từ những năm nửa cuối thế kỷ
XIX và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Cho đến nay, lý thuyết về cấu
trúc tin vẫn đang là một vấn đề phức tạp trong đời sống ngôn ngữ học. Trước
tiên là công trình nghiên cứu của tác giả Lý Toàn Thắng với bài viết “Giới
thiệu về lý thuyết phân đoạn thực tại của câu” (tạp chí ngôn ngữ số 1 năm
1981). Trong bài viết, tác giả chủ yếu giới thiệu về sự phân đoạn chủ đề thuật đề của sự phân đoạn thực tại câu. Tác giả chỉ ra hai cách hiểu về hai
thành phần trên như sau: (a) Tác giả cho rằng chủ đề là cái vào thời điểm giao
tiếp người nghe đã biết (hoặc đoán được) nhờ vào ngữ cảnh hoặc vốn tri thức
chung. Còn thuật đề là cái mới, cái chưa biết … (b) Tác giả cho rằng chủ đề là
cái nói đến, được nêu rõ làm đề mục của câu. Theo cách hiểu thứ hai này, chủ

Nguyễn Thị Nhị
Văn

2

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

đề và thuật đề thì cái đã biết và cái mới không liên quan đến sự phân đoạn
thực tại câu mà liên quan đến cấu trúc từ vựng ngữ nghĩa của câu. Tiếp đó, tác
giả còn khẳng định: “Xu thế chung của các nhà nghiên cứu là đi theo cách
hiểu thứ hai, bởi lẽ ngữ liệu của các ngôn ngữ cho thấy: thường thì chủ đề
trùng với cái đã biết nhưng cũng có khi nó lại là cái chưa biết, là thông tin


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

phát ngôn nói chung. Ông chỉ ra: cái “cũ” hay cái “cho sẵn” là cái mà người
nói căn cứ vào tình huống của cuộc đối thoại mà ước đoán là đang có mặt
trong ý thức của người nghe lúc mình sắp nói. Còn cái “mới” mà người nói
cho là không có mặt trong ý thức của người nghe lúc bấy giờ. Đồng thời, tác
giả chỉ ra sự khác biệt giữa cấu trúc “đề - thuyết” và cấu trúc tin - một vấn đề
gây không ít tranh cãi trong ngôn ngữ học.
Vấn đề cấu trúc tin: cấu trúc cho sẵn - mới (cũ - mới) được trình bày
thống nhất trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng và ngữ pháp tiếng
Việt như: Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998) , Đỗ
Hữu Châu (Giản yếu về dụng học - Giáo trình Đại học từ xa, 1990), Nguyễn
Thiện Giáp (Dụng học Việt ngữ, 2000), Nguyễn Thị Thúy (2001), Luận văn
Thạc sĩ (Cấu trúc thông báo của câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi chính
danh), Diệp Quang Ban (2005) “Ngữ pháp tiếng Việt”, Bùi Minh Toán,
Nguyễn Thị Lương (2007) “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt”, Bùi Thị Bình
(2008) “ Luận văn Thạc sĩ: Cấu trúc đề thuyết và cấu trúc tin trong ca dao
tình nghĩa”
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến
đề tài đã được công bố trong những năm gần đây. Ta có thể thấy được những
quan điểm về cấu trúc tin đã nêu trên là nền tảng ban đầu về mặt lý thuyết cho
tôi nghiên cứu về cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp.
3.Mục đích nghiên cứu
Hệ thống các kiến thức về lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ
và lý thuyết về cấu trúc tin.
Nắm vững và hiểu rõ hơn cấu trúc tin trong các cặp thoại hỏi - đáp đặc

Phạm vi khảo sát ngữ liệu của khóa luận là các cặp thoại hỏi - đáp được
chọn trong các sáng tác của nhà văn Chu Lai.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống, thống kê những ngữ liệu từ một số sáng tác của
nhà văn Chu Lai.
- Phương pháp phân tích cấu trúc tin trong ngữ cảnh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu để làm nổi bật sự khác biệt giữa các
kiểu cấu trúc tin với các kiểu câu phân loại theo cấu trúc tin.
- Phương pháp tổng hợp.
7. Đóng góp của khóa luận
- Thực hiện khóa luận này, tôi muốn được góp phần vào việc khẳng định
tính đúng đắn của việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ vào nghiên cứu văn học.
Đồng thời tôi hy vọng khóa luận này sẽ góp phần vào việc hoàn thiện khuynh
hướng nghiên cứu tích hợp giữa ngôn ngữ và văn học.

Nguyễn Thị Nhị
Văn

5

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

- Giới thiệu một số sáng tác của nhà văn Chu Lai, đồng thời qua việc
khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp ở một số sáng tác của nhà văn

nghĩ, tư duy) và một hành động đặc biệt đó là hành động ngôn ngữ.
Người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hành động trong lời nói được
phát ra là nhà triết học người Anh J.L.Austin. Theo ông: “một hành động
ngôn ngữ được thực hiện khi người nói (hoặc người viết) SP1: nói ra một
phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) SP2: trong một ngữ cảnh”. Lý
thuyết về hành động ngôn ngữ của Austin sau đó được nhiều nhà ngôn ngữ
học trên thế giới kế tục và trở thành xương sống của ngành ngữ dụng học.
Austin cho rằng có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: Hành động tạo lời,
hành động mượn lời và hành động ở lời.
Hành động tạo lời là hành động sử dụng những yếu tố ngôn ngữ như ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ để tạo thành câu tạo ra các phát ngôn về hình thức
và nội dung.
Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, các phát
ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người
nhận hoặc chính người nói. Hiệu quả của hành động mượn lời rất phân tán,
không thể tính toán được vì chúng không có quy ước.
Hành động ở lời là những hành động của người nói thực hiện ngay khi
nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là
chúng gây ra phản ứng ngôn ngữ tương ứng với người nhận. Khác với hành
động mượn lời hành động ở lời có ý định (đích) có quy ước và thể chế, dù quy
ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành của chúng

Nguyễn Thị Nhị
Văn

7

Lớp K32C – Ngữ



định của SP1. Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của SP2. Các hành
động như yêu cầu, hỏi, khuyên… thuộc nhóm này.

Nguyễn Thị Nhị
Văn

8

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

Biểu cảm (expressives): Đích ở lời là lời bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp
với hành động ở lời. Hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực vừa là hiện thực
- lời. Nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Các hành động như tuyên bố, buộc
tội thuộc nhóm này.
Theo cách thực hiện các hành động ngôn ngữ các nhà nghiên cứu còn
phân biệt hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp.
Hơn nữa trong hội thoại, căn cứ vào lượt người, còn có sự phân biệt hành
động dẫn nhập và hành động hồi đáp thì hành động hồi đáp có 2 loại: Hành
động hồi đáp trực tiếp và hành động hồi đáp gián tiếp.
Hành động hồi đáp trực tiếp thuộc hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành
động hồi đáp gián tiếp là hành động ngôn ngữ gián tiếp. Theo tác giả Đỗ Hữu
Châu những hành vi ngôn ngữ chân thực có nghĩa là các hành vi thực hiện
đúng với các điều kiện sử dụng đúng với cái đích ở lời của chúng và trong
thực tế sử dụng ngôn ngữ và nhiều lý do người nói sử dụng hành động ngôn

biết và thông tin còn thiếu hụt ở câu hỏi.
Ví dụ 2 :
SP1 : Nhà chị ở gần đây không?
SP2 : Từ mặt lộ, quẹo tay mặt xắn riết đụng cái lò heo, kế cây
bông điệp bự là tới.
(Chu Lai - Truyện ngắn “Kỉ niệm vùng ven”)
Trong ví dụ trên SP1 đưa ra hai khả năng để SP2 lựa chọn: “ở gần” hoặc
“ở xa”. Thông qua việc đưa ra cách chỉ dẫn SP2 đã gián tiếp trả lời ở khả
năng thứ hai. Cách hồi đáp này mang ý nghĩa ẩn ý của người nói, người nghe
muốn nhận biết được phải thông qua quá trình suy ý.
Như vậy để đáp lại hành động dẫn nhập trong câu hỏi, hành động hồi đáp
trong câu hỏi có thể diễn ra theo hai khả năng là hồi đáp trực tiếp và hồi đáp
gián tiếp.
1.2. Lý thuyết hội thoại
1.2.1. Cặp thoại
Hội thoại là hành động phổ biến nhất căn bản nhất của con người. Đó là
sự giao tiếp 2 chiều có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với
sự luân phiên lượt lời. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ và lý thuyết về hội
thoại cho rằng: trong hội thoại mỗi phát ngôn đều có mối quan hệ mật thiết
với những phát ngôn trước và sau nó. Nhưng phát ngôn đi trước có vai trò
định hướng cho những phát ngôn đi sau; phát ngôn đi sau có vai trò hồi đáp
và phát triển cho phát ngôn đi trước.
Ví dụ 3:
a, SP1: Anh gì ơi … anh cho em hỏi anh Hưởng có ở đây không ạ?

Nguyễn Thị Nhị
Văn

10


là cặp kế cận”.
Ví dụ 4:
SP1: Pháp luật gì ?
SP2: Pháp luật bảo vệ rừng.
( Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)

Nguyễn Thị Nhị
Văn

11

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

Nhưng đôi khi phát ngôn trong một cặp thoại không liền kề nhau mà bị
tách ra khỏi một cặp thoại khác. Cặp thoại này được gọi là cặp thoại chêm
xen.
Ví dụ 5:
SP1: Biết tại sao anh nghĩ vậy không?
SP2: Biết đã không hỏi.
SP1: Vì anh ghen. Ghen với sự hạnh phúc và ấm êm của người
khác. Người lận đận nào cũng hay sinh tật khắt khe.
(Chu Lai - “Vòng tròn bội bạc”)
Đoạn trên gồm ba phát ngôn, phát ngôn (a) là một câu hỏi nhưng câu trả
lời cho phát ngôn này không được trả lời liền kề ở phát ngôn (b) mà câu trả

lời hỏi - được gọi là câu hỏi; lượt lời thứ hai - trả lời được gọi là câu trả lời.
Khi đặt ra một câu hỏi thì người hỏi đang chờ đợi một thông tin nào đó từ
phía người trả lời. Như vậy, hành vi hỏi luôn diễn ra trước hành vi trả lời. Có
nhiều dấu hiệu để người tham gia giao tiếp dễ dàng nhận biết được lượt lời
hỏi và lượt bắt đầu lượt trả lời của mình như: các đại từ nghi vấn, các tiểu từ
chuyên dụng, ngữ điệu …
Ví dụ 6:
SP1: Bà ấy người ở đây hay người nơi khác đến ?
SP2 : Chắc là người ở đây, nghe giọng thì biết.
(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)
Trong ví dụ trên, người hỏi đã sử dụng từ chuyên dụng “hay” để tạo ra
lượt hỏi của mình. Đó cũng là tín hiệu để người nghe bắt đầu lượt trả lời.
Ví dụ 7:
SP1: Sao! Cô ấy không chịu đi à ?
SP2: Chịu, chịu chớ sao không.
(Chu Lai - Truyện ngắn “Anh hai Đởm”)
Trong ví dụ trên, SP2 dựa vào ngữ điệu tăng dần từ đầu đến kết thúc phát
ngôn để kết thúc lượt hỏi và chuẩn bị lượt trả lời của mình.
Ngoài nguyên tắc luân phiên lượt lời, quy tắc cộng tác hội thoại cũng chi
phối đến hành động hỏi và hành động trả lời. Cái đích việc, một tình huống
chưa biết hoặc chưa rõ. Vì vậy, người hỏi và người trả lời đều tham gia cộng
tác hội thoại để đưa cuộc thoại tới đích mong muốn.
1.2.2.2. Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát cấu trúc tin trong cặp
thoại hỏi- đáp, chính vì vậy cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa câu hỏi và câu
trả lời để thấy được sự gắn bó mật thiết chặt chẽ giữa chúng. Chính sự gắn bó
mật thiết này quy định cấu trúc tin của câu hỏi và câu trả lời bởi hỏi - trả lời

Nguyễn Thị Nhị
Văn

giải đáp thắc mắc cho SP1, SP2 đã trực tiếp trả lời câu hỏi “lâu chưa ?” bằng
“Tám năm”. Như vậy, câu trả lời mâu thuẫn giữa cái chưa biết và cái đã biết
về thông tin đã được giải quyết.
Ở sự tương hợp thứ hai, tương hợp về nội dung mệnh đề. Nội dung của
câu hỏi và câu trả lời tương ứng với nhau theo quy luật: cả người hỏi và người
trả lời đều cùng phải hướng tới một sự tình duy nhất ngoài hiện thực, với
những thành tố hoàn cảnh đồng nhất được kết nối với nhau bằng quan hệ
đồng nhất và cùng được đặt trong một hệ quy chiếu về không gian, thời gian

Nguyễn Thị Nhị
Văn

14

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

… để cùng hướng tới làm rõ một thông tin nào đó. Vì vậy, cả người hỏi và
người trả lời đều phải tuân thủ quy luật này. Khi đưa ra câu hỏi, người hỏi đã
tự xác định và ấn định cho người trả lời nội dung thông tin mà người trả lời
cần cung cấp. Người trả lời cần phải cung cấp đúng thông tin mà người hỏi
yêu cầu. Câu trả lời có thể có cấu trúc đầy đủ hoặc lược bỏ một số thành phần
nhất định không có giá trị cần thiết về mặt thông tin so với mục đích phát
ngôn; hoặc cũng có thể trả lời bằng từ hoặc câu đặc biệt. Dù có trả lời theo
cách nào câu trả lời cũng phải hướng tới một nội dung mệnh đề nhất định.


Chuyên ngành Ngôn

Ví dụ 11:
SP1 : Ba Sương nào?
SP2 : Ba Sương y tá của đội du kích.
(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)
Trong ví dụ trên, câu hỏi của SP1 yêu cầu SP2 cung cấp những thông tin
còn thiếu hụt, thông tin thiếu hụt được xác định qua từ nghi vấn “nào?” Câu
hỏi của SP1 có cấu trúc:
Ba Sương
nào?
Tin đã biết
Tin cần biết
SP2 đã xác định được thông tin SP1 đã biết và thông tin thiếu hụt, SP2
cũng có chung nhưng tri thức đã biết nên câu trả lời đáp ứng được nhu cầu
thông tin cần thiết cho SP1. Câu trả lời của SP2 có cấu trúc:
Ba Sương
y tá của đội du kích
Tin cũ
Tin mới
Có thể cấu trúc tin trong câu hỏi và câu trả lời ở ví dụ trên tương hợp
nhau.
Mối quan hệ thống nhất chặt chẽ của các cặp thoại hỏi - đáp (trả lời)
cũng thể hiện rõ sự tương hợp của thông tin tiền giả định. Người ta chỉ có thể
trả lời cho câu hỏi đặt ra khi chấp nhận các tiền giả định chứa trong câu hỏi
đó. Khi người trả lời phủ định tiền giả định trong câu hỏi thì cuộc hội thoại
chuyển sang hướng mới.
Ví dụ 12:
SP1: Một mình Krovan sử dụng à ?

được câu trả lời đúng yêu cầu.
Ví dụ 13 :
SP1: Ông là công an hộ tịch đấy à ?
SP2: Cái bà này … Hỏi cho biết, chả lẽ hàng xóm láng giềng tối
lửa tắt đèn …
(Chu Lai - Truyện ngắn “Chỗ ấy có một ngôi nhà”)
Khi đặt câu hỏi trên, người hỏi (SP1) dựa trên một tiền giả định : “Ông”
là công an. Nhưng tiền giả định đó không đúng với thực tế lên nó bị phủ nhận
ngay trong câu trả lời. Cho nên câu trả lời chưa đáp ứng điều chưa biết của
câu hỏi mà có tác dụng đính chính lại thông tin tiền giả định của câu hỏi.
Trong câu hỏi chính danh, bao giờ cũng có hai phần tin: tin đã biết và tin
chưa biết. Tiền giả định trong câu hỏi là cái mà người hỏi đã biết và mặc
nhiên cho người trả lời cũng chấp nhận. Tiền giả định thực chất là tin cũ,
được dùng làm căn cứ để đặt câu hỏi.

Nguyễn Thị Nhị
Văn

17

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

Trong câu trả lời cũng vậy, tiền giả định chính là tin cũ. Câu trả lời dù có
cấu trúc hai phần (tin đã biết và tin mới) hay cấu trúc một phần (tin mới) thì


Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn
(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

Ví dụ 16: Chủ nhật mà đi đâu cả để nhà vắng vẻ thế này? (chào)
(Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)
1.2.3.2. Các loại câu hỏi chính danh
Có thể phân biệt câu hỏi chính danh thành một số loại nhỏ như sau: Câu
hỏi tổng quát, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi chuyên biệt, câu hỏi giả thiết.
1.2.3.2.1. Câu hỏi tổng quát
Câu hỏi tổng quát là dạng câu hỏi được sử dụng khi SP1 mới chỉ biết có
một sự tình sảy ra nhưng chưa biết một chi tiết nào về sự tình trong câu hỏi và
hỏi thăm về sự tình đó. Khi trả lời câu hỏi dạng này SP2 phải dùng câu đầy đủ
các thành phần.
Ví dụ 17:
SP1: Bị thương hồi nào vậy, Krovan?
SP2: Năm ngoái, dính mìn, nhưng tôi cũng bắn chúng nó thấy mẹ cha.
(Chu Lai - Truyện ngắn “Người không đi qua hoàng cung”)
Ví dụ 18:
SP1: Gia đình ta đi kinh tế mới lên đây à?
SP2: Không, cháu vừa ở bộ đội chuyển ra.
(Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)
Khi dùng câu hỏi tổng quát thường có một tiền giả định tồn tại: Có một
sự tình gì đó nhưng chưa biết thông tin gì về sự tình đó. Câu hỏi thường là “gì

Ví dụ 21:
SP1: Anh còn tiền không ?
SP2: Còn.
(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)
1.2.3.2.3. Câu hỏi lựa chọn
Câu hỏi lựa chọn là câu hỏi trong đó đặt ra những khả năng khác nhau
cho người trả lời lựa chọn. Kiểu câu hỏi này được biểu thị ở một số dạng như
sau:
Sử dụng quan hệ từ “hay” với ý nghĩa lựa chọn.
Ví dụ 21: Kén à ? Hay ngại?
(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)
Ví dụ 22: Cảm ơn cái con khỉ. Rượi nữa không hay nước mát?
(Chu Lai - Truyện ngắn “Phố nhà binh” )
Sử dụng cặp phụ từ: có, không, đã , chưa …
Ví dụ 23:
SP1: […] Này, cô bé có biết cái bà ở phòng đang nói kia không?
SP2: Dạ, biết chớ! Bà Tư Lan, cả tỉnh này ai không biết.

Nguyễn Thị Nhị
Văn

20

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

Văn

21

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ

Chuyên ngành Ngôn

trên cơ sở thực tế của sự tình, xác nhận giả thiết mà người nói đưa ra là có hay
không.
1.2.3.3 Các dạng câu trả lời
Với mỗi câu hỏi có thể có rất nhiều câu trả lời khác nhau. Chẳng hạn cô
giáo kiểm tra bài cũ của học sinh, thấy học sinh trả lời ấp úng cô giáo hỏi “Về
nhà em không học bài cũ à ?”. Học sinh có thể trả lời theo các kiểu sau:
- Em có học ạ.
- Em không học ạ
- Em bị mệt ạ
- Câu hỏi của câu quá khó em không trả lời được
Dù được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng những câu trả
lời đó đều thuộc một trong hai phương thức cơ bản của hành động trả lời là
trả lời trực tiếp và trả lời gián tiếp.
Trả lời trực tiếp: Là cách trả lời tường minh hiển ngôn vào điều cần biết
mà câu hỏi đã giả định truớc đó, do đó không cần phải suy luận.
Ví dụ 28:
SP1 : Nào, uống gì chú ?
SP2 : Anh cho … chén trà.

an hộ tịch à?” của câu hỏi. Câu trả lời của SP2 đưa ra nội dung mang tính phủ
định. Từ đó SP1 đưa ra nghĩa hàm ẩn của câu trả lời (SP2 là người sống tình
nghĩa, quan tâm mọi người). Qua những từ ngữ mang tính tường minh đó,
SP1 mới có thể suy ra làm hàm ngôn trong câu trả lời gián tiếp mà SP1 nhận
được từ SP2.
Ở ví dụ 31, SP2 cũng không trả lời trực tiếp câu hỏi “sao” mà đưa ra
những lời khẳng định về thái độ và cách cư xử của cô gái. SP2 gián tiếp trách
cô gái về việc cô chưa chép bản thảo cho mình.
Như vậy, để giải mã được thông tin của câu trả lời gián tiếp, người nghe
cần thông qua quá trình suy ý.
Câu trả lời và câu đáp: từ hai phương thức trả lời trục tiếp và gián tiếp,
tác giả Lê Đông trong luận án PTS. “Ngữ nghĩa - ngữ dụng - câu hỏi chính
danh” đã phân biệt câu trả lời và câu đáp như sau:
Khác với câu trả lời, câu nói chỉ là nhưng từ ngữ phát ngôn mà người nói
phát ra để phản ứng một phát ngôn có trước. Nó không đáp ứng những nhu
cầu về thông tin của câu hỏi và thường đi chệch điểm hỏi, đi chệch khỏi
khuôn câu trả lời mà câu hỏi đặt ra đã giả định trước.
Với hình thức câu đáp, tác giả Lê Đông đưa ra bốn kiểu câu đáp thường
gặp:
- Câu đáp từ chối yêu cầu trả lời hoặc nêu lý do không thể trả lời.

Nguyễn Thị Nhị
Văn

23

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp

Trạng ngữ
Thời gian

Huy
Chủ ngữ
Chủ thể

đi
vị ngữ
vị tố

Lào Cai
Bổ ngữ
Đích thể

Xét về bình diện sử dụng trong hoạt động giao tiếp câu còn cấu trúc tin.
Halliday cho rằng thông tin là một quá trình tương tác giữa cái đã biết hoặc có
thể dự đoán cái mới. Tác giả cũng đưa ra khái niệm đơn vị thông tin và quan
niệm đơn vị thông tin là một cấu trúc được tạo ra từ hai chức năng cái mới

Nguyễn Thị Nhị
Văn

24

Lớp K32C – Ngữ


Khóa luận tốt nghiệp
ngữ


+ Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Tối qua, ai đi Lào Cai?
Thì (A) có cấu trúc tin là:
(32)
Cấu trúc tin

Tối qua,
Tin cũ

Huy
Tin mới

đi Lào Cai
Tin cũ

+ Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Huy đi Lào Cai khi nào?
Thì (A) có câu trúc tin là:
(32)
Cấu trúc tin

Tối qua,
Tin mới

Huy đi Lào Cai
Tin cũ

+ Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Anh nói gì?
Thì (A) có cấu trúc tin là:
(32)
Cấu trúc tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status