Không gian nghệ thuật trong thơ chữ hán cao bá quát - Pdf 31

Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

BÙI THỊ THUỲ

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoá học:
Thạc sĩ: NGUYỄN THỊ TÍNH

HÀ NỘI - 2010

Bùi Thị Thùy –K32B

-1-

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN


Hà Nôi, ngày 10 tháng 05 năm 2010
Người thực hiện

Bùi Thị Thuỳ

Bùi Thị Thùy –K32B

-3-

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................... 5
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................................. 6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 7
4. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 8
6. Đóng góp của khoá luận .............................................................................................. 8
7. Bố cục khóa luận.......................................................................................................... 8
NỘI DUNG .................................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: CAO BÁ QUÁT - TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM. ..................................... 10
1.1.Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX .................. 10
1.1.1.Chính trị ................................................................................................................ 10

Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
a. Cao Bá Quát là một trong những nhà thơ vĩ đại hàng đầu của văn học
dân tộc, là một hiện tượng lạ của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế
kỷ XIX.
Có thể nói ông là một nhà thơ, một nhân vật đặc biệt ở thế kỷ XIX,
một tài hoa lỗi lạc luôn được dân chúng xưng tán là “Thần Siêu thánh Quát”.
Vua Tự Đức đã phải hết lời khen ngợi rằng:
“Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường.”
Không những vậy, ông còn được mệnh danh là một thi hào nổi tiếng - người
làm giàu cho tao đàn Việt Nam bằng những “hàng châu ngọc” đầy giá trị.
b. Cao Bá Quát để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ có giá
trị to lớn về cả nội dung và nghệ thuật. Nhưng nổi bật hơn cả về mọi mặt,
những sáng tác đã làm nên tên tuổi của nhà thơ đó là mảng thơ chữ Hán.
Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát đạt được thành công xuất sắc trên mọi
phương diện: giá trị, nội dung, tư tưởng, nghệ thuật… cả về số lượng. Những
tác phẩm ấy đã vẽ lên chân dung một người nghệ sĩ tài ba, một nhà thơ lớn
của văn học dân tộc.
c. Trong thơ luôn có không gian, thời gian nghệ thuật, chúng chính là
hình thức để con người cảm thụ thế giới và con người.
Tìm hiểu không gian trong tác phẩm văn học chính là tìm hiểu cách
cảm nhận của cuộc sống một cách nghệ thuật và thẩm mĩ ở trong đó, từ đó
cảm nhận được tâm hồn, tình cảm và cách cảm nhận của nhà văn.
d. Có rất nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu thơ văn Cao Bá

đến một tiếng nói riêng một cá tính sáng tạo độc đáo, để lại những dư âm đậm
sâu trong lòng người đọc. Cao Bá Quát là một nhà nho học uyên bác, một văn
gia đã được văn giới Việt Nam tặng cho huy hiệu “Thánh Quát”. Hiện nay
việc đánh giá về tác gia này đã được nhìn nhận từ nhiều góc độ nhiều phương
diện. Chính vì vậy các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát và tác phẩm của
ông ngày càng tăng lên với một số lượng đáng kể.
Thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng có rất nhiều bài viết, công trình
nghiên cứu lớn. Nhưng vấn đề không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán của
ông thì số lượng bài viết còn ít.

Bùi Thị Thùy –K32B

-6-

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Dưới đây là một số công trình nghiên cứu và bài viết về thơ chữ Hán
Cao Bá Quát :
1. Nguyễn Huệ Chi (1961), “Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong
thơ Cao Bá Quát”, Tạp chí nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 6.
2. Tảo Trang (1963), “Một số tài liệu về thơ văn Cao Bá Quát”, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 2.
3. Vũ Khiêu (1969), “Lời giới thiệu” trong sách “Thơ chữ Hán Cao Bá
Quát” tuyển dịch, in lần thứ 1 - 1970 và lần thứ 2 - 1976, Nxb Văn học, Hà
Nội.

trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát với cách chiếm lĩnh không gian trong ca dao
dân ca Việt Nam, và một số nhà thơ trước và cùng thời với ông.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
a. Góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống sâu sắc, và cụ thể hơn vấn
đề không gian nghệ thuật trong tác phẩm thơ chữ Hán Cao Bá Quát. Từ đó có
cái nhìn toàn diện sâu sắc hơn về con người và giá trị thơ văn của ông.
b. Thực hiện đề tài mục đích lớn nhất là có một cái nhìn mới mẻ từ góc độ
nghệ thuật - không gian ở những tác phẩm thơ chữ Hán Cao Bá Quát. Có cách
tiếp cận, điểm nhìn mới - không gian nghệ thuật trong tác phẩm thơ chữ Hán
Cao Bá Quát - về con người về giá trị tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm của
ông.
c. Đề tài góp phần phục vụ cho việc giảng dạy về tác gia và tác phẩm
Cao Bá Quát ở trường phổ thông sau này.
d. Người viết bước đầu tập tìm hiểu nghiên cứu khoa học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thống kê phân loại.
- Phương pháp đối chiếu so sánh.
- Phương pháp bình giảng văn học.
6. Đóng góp của khoá luận
Tìm hiểu phân tích hệ thống không gian trong thơ chữ Hán Cao Bá
Quát làm nổi bật con người, phong cách và những sáng tạo độc đáo của
nhà thơ.
7. Bố cục khóa luận
Mở đầu :
Nội dung :

Bùi Thị Thùy –K32B



NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CAO BÁ QUÁT - TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM.

1.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX
Cao Bá Quát sống ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, cùng thời với
các nhà thơ lớn của dân tộc: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công
Trứ… Đây là giai đoạn tổng khủng hoảng một cách toàn diện sâu sắc của chế
độ phong kiến, biểu hiện trên mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…

1.1.1. Chính trị
Chính trị trong nước khủng hoảng trầm trọng. Sự khủng hoảng bắt đầu
từ các tập đoàn phong kiến thống trị Trung ương. Đó là sự thất thế liên tục
của triều đại phong kiến. Cao Bá Quát đã tận mắt chứng kiến sự hưng thịnh
cũng như suy vong của ba triều đại: triều Tây Sơn, triều Lê, triều Nguyễn.
Đời sống nhân dân vì vậy vô cùng cực khổ: loạn lạc, đói kém, mất mùa,
bệnh dịch, đau ốm… Đặc biệt là sự hoành hành, lan rộng từ Nam ra Bắc của
bệnh dịch.
Cũng lúc đó xảy ra hành loạt các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cướp
giật, lừa đảo…
Nông dân ở khắp mọi nơi đã bùng lên khởi nghĩa đòi quyền sống, đòi
sự công bằng, đòi sắp xếp lại trật tự xã hội.
Mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra vô cùng gay
gắt, quyết liệt: mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, mâu thuẫn giữa nhân
dân lao động với địa chủ quan lại vua chúa.
Bị áp bức bóc lột đến thậm tệ khốn cùng, nhân dân không thể chịu
đựng được nữa họ vùng lên đấu tranh, khởi nghĩa. Các cuộc khởi nghĩa nông

Bùi Thị Thùy –K32B

thuật sân khấu, điêu khắc kiến trúc…

1.1.4. Về tư tưởng
Từ sự khủng hoảng của xã hội dẫn đến Nho giáo - hệ tư tưởng chính
thống của chế độ phong kiến cũng bị phá sản. Đồng thời với nó là sự xuất
hiện của hệ tư tưởng mới, tiến bộ mang tính nhân văn sâu sắc: tư tưởng dân
chủ.

Bùi Thị Thùy –K32B

- 11 -

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

1.1.5. Về ngoại giao
Các quan niệm và các giai thoại xưa cho rằng: giai cấp phong kiến giai
đoạn này tỏ ra phản động, họ đã bán nước, làm tay sai cho quân xâm lược mà
tiêu biểu là Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh… Điểm sáng ngoại giao bừng
lên trong thời của vua Quang Trung …
Cao Bá Quát đã sống và chứng kiến sự chìm nổi trong thời đại ấy. Ông
là một nhân chứng của thời đại đau thương mà quật khởi có bi kịch cũng có
anh hùng ca. Những điều đáng thương, những điều “trông thấy mà đau đớn
lòng”, những cuộc thay thầy đổi chủ ấy, hiện thực chốn quan trường, cuộc
sống sự mưu sinh cực khổ ấy đã ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến thế giới
quan của nhà thơ.

Anh trai Cao Bá Quát là Cao Bá Đạt.
Cao Bá Quát hầu như không được thừa hưởng gì từ gia đình vì
nghèo.Thủa nhỏ, ông sống ở khu Hoành Đình, tức Đình Ngang phía Nam
thành. Đó là căn nhà lụp xụp giữa nơi hẻo lánh, ngõ vào chật hẹp, với xóm
giềng xung quanh không có giậu rào.
Vì vậy cái nghèo theo ông từ nhỏ đến suốt cuộc đời.

1.2.2. Thân thế, cuộc đời Cao Bá Quát
Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên và Cúc Đường. Anh em
ông được đi học rất sớm, đều nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Cả hai đều được
chính Hương cống Cao Huy Diệu là ông trong họ trực tiếp dạy dỗ.
Cao Bá Quát nổi tiếng thông minh, cá tính: Có một lần vua Minh Mệnh
ra Bắc, trên đường đi gặp Cao Bá Quát đang tắm ở hồ Tây. Cao Bá Quát cứ
thế chạy lên xem và bị lính bắt trói lại. Vua ra câu đối:
“Nước trong leo lẻo cá đớp cá”
Cao Bá Quát đối lại:
“Trời nắng chang chang người trói người”

Một hôm có một ông quan dạy học, Cao Bá Quát tò mò liền đứng xem.
Tỏ thái độ khinh bạc, ông thầy liền ra câu đối:

“Nhi tiểu sinh hà khứ đáo lai
Cảm thuyết trình, Chu sự nghiệp”.

Bùi Thị Thùy –K32B

- 13 -

Khoa Ngữ văn


Mùa hè năm 1843, ông được về nước. Tuy nhiên, sau khi về nước Cao
Bá Quát không được làm quan nữa, ông trở về quê hương.

Bùi Thị Thùy –K32B

- 14 -

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Năm 1847, Cao Bá Quát lại được triều đình gọi vào Huế làm ở viện
Hàn lâm. Công việc rất buồn, tẻ nhạt. Ông rất chán nản.
Năm 1851, Cao Bá Quát lại bị đổi từ viện Hàn lâm sang làm giáo thụ
(quan giáo dục) ở Quốc Oai Hà Tây. Lúc bấy giờ, Quốc Oai là một nơi hẻo
lánh, Cao Bá Quát buồn và đã viết thơ.

“Nhà trống ba gian một thầy, một cô, một chó cái.
Học trò dăm đứa nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.”

Năm 1853, Cao Bá Quát thôi làm quan và về nuôi mẹ.
Năm 1854, ông tôn một người là Lê Duy Cự làm minh chủ, mình là
minh sự khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn. Họ tiến hành cuộc khởi nghĩa Mỹ
Lương đánh ở Thanh Oai - Hà Tây và một phần của Vĩnh Phúc.
Đầu 1855 (tháng 12 Giáp Dần), Tự Đức cho phái 500 quân ở Thanh
Hoá đến đóng giữ Sơn Tây, đồng thời treo giải thưởng 500 lạng cho ai bắt
sống, hoạc 300 lạng cho ai giết chết được Cao Bá Quát.

dung một con người có hoài bão, có tài năng và có chí lớn, một con người
giàu tình cảm yêu quê hương, làng xóm, vợ con bạn bè, một con người dám
đấu tranh đương đầu với chế độ phong kiến, một con người trọng nghĩa khí
cảm thương xót xa cùng nhân dân.
CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CHỮ HÁN
CAO BÁ QUÁT

2.1. Quan niệm về không gian nghệ thuật
2.1.1. Không gian
“Không gian là một khái niệm thuộc phạm trù triết học, là một hình
thức tồn tại của vật chất. Trong cuộc sống không có gì có thể tồn tại ngoài
không gian và thời gian”.
Con người luôn phải tồn tại thể hiện tính xác định của mình trong thế
giới khách thể lớn chiều. Đó là ba chiều không gian một chiều thời gian. Thơ
phải thích nghi với ba chiều không gian một chiều thời gian đó. Giữa ba chiều
không gian và một chiều thời gian có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cũng
vì thế quan niệm khoa học hiện đại đã coi thời gian là chiều thứ tư của không
gian là ý nghĩa ấy.

Bùi Thị Thùy –K32B

- 16 -

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2



Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

thuật là mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ
của các biểu tượng không gian” [2, 108 - 109 ]
Trong cuốn “Một số vấn đề thi pháp học hiên đại” GS.Trần Đình Sử
lại đưa ra một cách hiểu khác về không gian nghệ thuật: “Không gian nghệ
thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển
khai thế giới nghệ thuật. Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và
mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn cách nhìn”.
I.U.Lôman cho rằng: “Việc chú ý đến vấn đề không gian nghệ thuật là
hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như một trong những không gian
được khu biệt theo một cách nào đó, phản ánh trong cái hữu hạn của mình
một đối tượng vô hạn - là thế giới ngoài tác phẩm” [3, 376 ]
Nói chung không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một vấn đề
có nhiều tranh cãi, nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, các quan điểm đều
thống nhất ở chỗ cho rằng: Không gian nghệ thuật không đồng nhất với
không gian hiện thực. Đó là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người
đang sống đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong không gian đó.
Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình thức tồn tại của
thế giới nghệ thuật, là phạm trù của thế giới nghệ thuật. Tuy nhiên điều đặc
biệt ở chỗ, không gian nghệ thuật là hình thức mang tính nội dung.
Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm
biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Do đó
không thể quy không gian nghệ thuật về sự phản ánh giản đơn không gian địa

Nhìn chung, không gian nghệ thuật không phải là không gian hiện thực,
vật lý mà là hình tượng không gian, là hình thức tồn tại của hình tượng con
người trong thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn liền với quan
niệm về con người góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là mô hình của thế giới nghệ thuật. Sự
đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian, các miền phương vị: cao - thấp;
xa - gần; các chiều: sâu – cao - rộng…tạo thành các ngôn ngữ nghệ thuật để
biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm. Sự lặp lại cuả các hình thức không
gian tạo thành tính loại hình của không gian nghệ thuật.

2.1.3. Các hình thức không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học
Hình thức không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một vấn đề
phức tạp, đa diện bởi nó có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Bùi Thị Thùy –K32B

- 19 -

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tuy nhiên để thuận lợi nhất cho việc triển khai đề tài khóa luận chúng
tôi tạm chia hình thức không gian nghệ thuật thành hai kiểu: không gian nghệ
thuật trong các loại tiểu thuyết, không gian nghệ thuật trong các thể loại phi
tiểu thuyết.
Ở đây chúng tôi chỉ lưu ý đến không gian nghệ thuật trong các thể loại


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

“Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
Cánh cò bay lả rập rờn.
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều,,

Hình ảnh của “biển lúa” của “đỉnh Trường Sơn”, một không gian đất
nước thật nên thơ mờ ảo : “mây mờ , rập rờn”, không gian thiên nhiên lại có ở
thơ trữ tình, ở truyện ngắn, ở tiểu thuyết… nó hiện hữu trong mọi hoàn cảnh
và không gian. Các nhà thơ, nhà văn dù ở thời đại nào, dù sáng tác với mục
đích gì, nội dung thế nào… thì thiên nhiên, đất trời… luôn là một mảng và đề
tài không thể thiếu, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp.
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi sông.”

Cao Bá Quát đã tiếp thu và sáng tạo nguồn mạch ấy của văn học dân
tộc. Ông là một nhà thơ lớn, là một tâm hồn giàu cảm thông, yêu mến.Thơ
ông chan chứa những cảm xúc chân thành, thắm thiết: yêu quê hương, yêu
làng xóm…Ông luôn say mê những cảnh đẹp của đất nước, có thể ông đã đi
rất nhiều nơi, thăm quan nhiều danh lam thắng cảnh. Từ Bắc vào Trung ông
đã đều tới thăm và đều có thơ ngâm vịnh. Đối với Cao Bá Quát, thiên nhiên
chính là niềm tự hào của đất nước. Vì thế mà không gian thiên nhiên trong thơ
của ông xuất hiện nhiều, và với nhiều loại không gian khác nhau, đa dạng:
không gian trời đất, không gian đồi núi, không gian biển cả…có những không
gian rất đặt biệt - không gian con đường, không gian bãi cát… tạo nên một
Cao Bá Quát mới mẻ, độc đáo.
Trong bài thơ “Quá Dục Thúy Sơn” ta thấy không gian trời đất kỳ vĩ:

nhiều, bao quát nhất là không gian trời đất.

“Đầu non ném hạt mai gieo,
Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi.
Nữa mai xuân điểm bầu trời.
Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung.”
-Tài mai-

Bùi Thị Thùy –K32B

- 22 -

Khoa Ngữ văn


Khoá Luận Tốt Nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Không gian ở đây có một điểm nhấn, đó là hình ảnh hạt “mai gieo” trên
đỉnh núi đồi. Chỉ mới đem đi gieo thôi mà ta như tưởng tượng thấy một rừng
mai rực rỡ giữa bầu trời. Vũ Khiêu trong “Lời giới thiệu” - “Thơ chữ Hán
Cao Bá Quát” NXB.VH - 1976 có nhận xét về thiên nhiên và con người trong
thơ Cao Bá Quát như sau: “Càng lớn, càng đi sâu vào cuộc đời thì thiên
nhiên càng gắn bó với ông. Thiên nhiên trở thành bạn tâm tình của ông, cùng
ông suy nghĩ trong hoàn cảnh cô đơn, thất vọng,…yêu thiên nhiên cũng là yêu
đất nước, yêu những con người đang sống và đã từng sống trên dải đất này”.
Nhà thơ như muốn giang rộng cánh tay của mình để ôm trọn lấy “đất trời”.
Trong mắt nhà thơ, núi cao biển cả nói lên khí phách hào hùng của dân tộc.
Chính vì thế không gian thiên nhiên đất trời luôn hiện hữu rất lạ - hùng vĩ đến

“Bậc cao lên mãi không cùng
Đứng trên nhìn khắp, mắt dường ngủ mê.
Bé teo đường tỉnh lối quê
Đỉnh trời thấp giữa bốn bề núi quây.
Biển xa, thuyền tựa lá cây,
Đường lên ải: chiếc thang mây khác nào.
Nhìn ven rừng, thú biết bao,
Suối tuôn trong vắt màu trắng in”.

Ở đây “trời”như hoà vào cùng núi rộng, trời như thấp xuống để ôm bọc
lấy đất.
Không gian trong lành, tươi mát biết bao! Trước không gian thiên nhiên
trời đất ấy, tác giả cảm thấy “mắt dường ngủ mê”, đẹp và cuốn hút đến lạ kì .
“Đỉnh trời thấp giữa bốn bề núi quây”. Nhìn ra xa lại là biển rộng , những
chiếc thuyền trên biển được ví như những chiếc lá cây. Không gian trời đất
trong thơ Cao Bá Quát thật tự nhiên. Trong một bài thơ khác ta thấy xuất hiện
những địa danh :
“Vầng dương ló rạng, cảnh thanh quang,
Côn hứng lâng lâng , dạo khán sơn .
Tam Đảo, Tân Viên, lừng thắng cảnh,
Hồ Tây, sông Nhị, nhích gần hơn.
Thôn xa, đồng rộng phô mây trắng,
Gác tía, lầu son ứng bóng gương.”
- Đăng Khán sơn hữu hoài –

Bùi Thị Thùy –K32B

- 24 -

Khoa Ngữ văn

Ta thấy số lượng bài thơ viết về không gian trời đất là rất nhiều. Nó như một

Bùi Thị Thùy –K32B

- 25 -

Khoa Ngữ văn


Trích đoạn Không gian hải ngoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status