Đề tài:
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, thực trạng và giải pháp
Nhóm 15:
1. Đinh Xuân Cương
2. Trần Thị Thu Hà
3. Phạm Thị Thanh Nga
4. Nguyễn Thị Minh Quý
5. Bùi Thị Bích Thủy
6. Mai Thanh Tùng
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ có những chuyển biến mới mẻ, mau lẹ, đột biến cả
về kinh tế, chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Những nhân tố quan trọng nhất quyết
định sự phát triển chính là những thành tựu to lớn về khoa học công nghệ, tin học, công
nghệ sinh học, vật liệu mới… Những đóng góp to lớn của những thành tựu này trong mọi
lĩnh vực của đời sống đã hình thành nên nền sản xuất hiện đại, mà trong đó lao động cơ
bắp của con người chỉ chiến một phần nhỏ.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu
đưa đất nước phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghị quyết
trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “ Thực sự coi giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước thời kỳ công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước. Xây dựng con người phát triển toàn diện - nhân tố phát triển
của xã hội thế kỷ 21 là mục tiêu cao cả mà cách mạng nước ta hướng tới.”
Việt Nam sẽ sớm chuyển sang giai đoạn mới của công nghiệp hóa trong những năm tới và
đòi hỏi nhiều nguồn lực cho phát triển. Phát triển nguồn nhân lực tương xứng với yêu cầu
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề trung tâm. Kinh nghiệm thành
công của các nước đang phát triển trong thế kỷ XX cho thấy vai trò thiết yếu của việc đầu
tư phát triển nguồn nhân lực một cách chiến lược. Điều đó có nghĩa là nguồn nhân lực
trong nước phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các công ty trong nước và nước
ngoài, của các ngành và nền kinh tế ở các mức độ phát triển khác nhau. Bên cạnh đó,
những thay đổi mạnh mẽ của môi trường kinh doanh thế giới đem lại những bối cảnh phát
triển mới cho những nước đang phát triển trong thể ký XXI với nhiều khó khăn và thách
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ
yếu sau:
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.
Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo
định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều
yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tuổi thọ bình quân.
- Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.
- Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.
- Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.
- Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc
HIV/AIDS…
2.2.2.Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực,
và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo
khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:
- Tỉ lệ người lớn biết chữ.
- Tỉ lệ đi học chung.
- Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu
hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả
năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn
của nguồn nhân lực được đo bằng:
- Tỉ lệ cán bộ tổ chức.
- Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
- Tỉ lệ cán bộ trên đại học.
2.2.4.Chỉ số phát triển con nguời HDI
3.2. Nguồn nhân lực là đối tượng mà sự phát triển kinh tế xã hội phải hướng vào
phục vụ
Phát triển kinh tế xã hội cũng chính là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc
sống của con người ngày càng tốt hơn. Con người vừa là lực lượng tiêu dùng của cải vật
chất tinh thần của xã hội, nhưng cũng chính nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động
mạnh mẽ tới sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Nhu cầu của
con người là vô hạn và ngày càng phong phú, đa dạng. Chính vì vậy nó đã tác động không
nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế và xã hội.
B - Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
1.Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành
các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì
mục tiêu phát triển.
Tài sản mới bao gồm tài sản vật chất (Nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, trí
năng, chuyên môn nghiệp vụ…).
Đầu tư phát triển bao gồm:
- Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)
- Đầu tư phát triển tài sản vô hình.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển những
tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm tăng
quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia.
2.Nội dung của đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc
phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO không lâu,
Việt Nam gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức trên con đường phát triển.
Trong đó có việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực thế nào để đạt hiệu quả ? Chúng ta sẽ
nghiên cứu nội dung của vấn đề này để từ đó tìm ra những giải pháp và hướng đi đúng đắn
cho bài toán nan giải này. Về cơ bản, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội
dung sau: