Công giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống cộng đồng giáo dân ở huyện duy tiên, tỉnh hà nam hiện nay - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------

ĐỖ THỊ NGUYỆT

CÔNG GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN VỚI CỘNG
ĐỒNG GIÁO DÂN Ở HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Ngƣời hƣớng dẫn :
Th.s: Lê Thị Minh Thảo

HÀ NỘI, 2012

1


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm khóa luận cũng nhƣ học tập tại trƣờng, em
nhận đƣợc sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa
Giáo dục chính trị, nhất là các thầy cô trong tổ CNXHKH cùng sự động viên
khích lệ của gia đình, bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu
này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - Lê Thị Minh
Thảo đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua để em có thể
hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp đại học.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời

1.1.2. Nội dung cơ bản về giáo lý, luật lệ và lễ nghi ......................................
1.2. Công giáo ở Việt Nam ................................................................................
1.2.1. Quá trình du nhập và phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam .............
1.2.2. Những biến đổi của Công giáo khi đƣợc du nhập vàoViệt Nam .............
Chƣơng 2: Ảnh hƣởng của đạo Công giáo đối với đời sống của
cộng đồng giáo dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay ......................
2.1. Khái quát chung về huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam....................................
2.1.1. Một số đặc điểm về huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ................................
2.1.2. Sự du nhập của Công giáo vào huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ...............
2.2. Ảnh hƣởng của đạo Công giáo đối với giáo dân và một số phƣơng
hƣớng, giải pháp xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” ở huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam ..............................................................................................
2.2.1. Lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội
2.2.2. Đạo đức lối sống ......................................................................................
2.2.3. Một số phƣơng hƣớng và giải pháp .........................................................
Kết luận .............................................................................................................
Tài liệu tham khảo ...........................................................................................

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tƣợng lịch sử - xã hội có quá trình ra đời và phát
triển của riêng nó, xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của ý thức,
tinh thần của con ngƣời. Tôn giáo là một vấn đề xã hội khách quan luôn gắn
liền với đời sống chính trị, văn hóa và là nhu cầu của một bộ phận nhân dân.
Từ khi ra đời đến nay nó đã tác động chi phối đời sống của con ngƣời trên
nhiều lĩnh vực, có lúc có nơi tôn giáo đã đóng vai trò chính trong một nƣớc,
một khu vực nhất định.

lƣợng tín đồ đông và cũng là đề tài đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu và tìm hiểu
ở nhiều góc độ khác nhau nhƣ:
Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam (2005), “Nửa thế kỉ ngƣời Công
giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc”: Kỉ yếu tọa đàm khoa học Hà Nội
ngày 21 - 22 tháng 12 năm 2004, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Nhằm khẳng định
vai trò tích cực của Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam và phong trào yêu
nƣớc của các đồng bào Công giáo trong tiến trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Hồ Bá Thâm (2007), “Đạo và đời với truyền thống nhân văn Việt Nam”,
Nghiên cứu Tôn giáo, tháng 10. Nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn thực tiễn,
triết lí về con ngƣời trong văn hóa truyền thống gắn với hiện đại ở nƣớc ta và
trong nền văn minh nhân loại là nhằm cả vào mục tiêu thực tiễn và mục tiêu
xây dựng nền triết học Việt Nam hiện nay.
Hà Huy Tú (2002), “Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo”, Nxb
Văn hóa thông tin. Tác giả muốn đi tìm hiểu về những luật lệ, lễ nghi rất phong
phú và chặt chẽ của Thiên Chúa giáo và ảnh hƣởng của nó đến nền văn hóa
Việt Nam để biết đƣợc những nét hay, nét đẹp của giáo lý Thiên Chúa giáo.
Hội đồng Giáo hoàng về công lý và hòa bình (chủ biên), “Tóm lƣợc học
thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Là công trình

6


tập thể của Ủy ban Bác ái xã hội thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam biên
dịch nhằm giới thiệu cho đồng bào Công giáo và không Công giáo những
nguyên tắc nền tảng và đƣờng hƣớng hoạt động của giáo hội công giáo trong
lĩnh vực xã hội.
Trên cơ sở kế thừa nhũng công trình Công giáo của những nhà nghiên
cứu đi trƣớc tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu cụ thể ảnh hƣởng của Công giáo đối
với đời sống tinh thần của ngƣời dân Việt Nam nói chung và của cộng đồng
giáo dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

và tìm hiểu tài liệu, rèn luyện tƣ duy khoa học. Nâng cao tính tích cực, nâng
cao tính tích cực, nhận thức khoa học về Công giáo, từ đó có cái nhìn đúng
đắn khách quan về tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
đƣợc chia làm 2 chƣơng, 4 tiết.

8


NỘI DUNG
Chƣơng 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.
1.1.1. Nguồn gốc ra đời
Đạo Kitô là tên gọi chung của các tôn giáo cùng thờ một Đấng thƣợng đế
là Crixtô (Christo), phiên âm Hán Việt là Cơ đốc, đạo này ra đời vào khoảng
thế kỉ I Tr.CN ở các tỉnh phía đông Đế quốc La Mã cổ đại.
Về kinh tế - xã hội: Đây là thời kì Đế quốc La Mã cổ đại lâm vào khủng
hoảng trầm trọng và chứa nhiều mâu thuẫn ,đặc biệt là mâu thuẫn giữa nô lệ
với chủ nô và mâu thuẫn giữa các dân tộc bị xâm lƣợc với đế quốc La Mã là
kẻ đi xâm lƣợc. Khởi nghĩa nô lệ nổ ra ở khắp mọi nơi và phát triển nhanh.
Nhƣng do đế quốc La Mã vẫn còn rất hùng mạnh nên các cuộc khởi nghĩa đều
nhanh chóng bị dập tắt một cách dã man, tàn bạo. Tâm trạng bi quan tuyệt
vọng bao trùm đời sống của quần chúng lao khổ. Khắp mọi nơi, nhân dân
trông chờ vào một Đấng cứu thế có thể giải thoát cho họ cuộc sống hiện tại.
Sự ra đời đạo Kitô chính là xuất phát từ nhu cầu tinh thần đó. Nó vừa là mơ
ƣớc đƣợc giải thoát khỏi cuộc sống bi đát, bế tắc và đẩy khổ ải, đau thƣơng
của quần chúng, vừa là phản ứng của họ trƣớc thực tại cuộc sống đó. Trong

triển nó đã chọn lọc, gạt bỏ những chi tiết địa phƣơng không thích hợp, cố
gắng tạo những nét chung mang tính phổ cập đáp ứng với xu hƣớng thờ nhất
thần và phù hợp

c khác nhau về một Đấng

cứu thế.
Công giáo là giáo phái sinh ra từ đạo Do Thái đã trở thành tôn giáo phổ
biến nhất từ trƣớc đến nay và hiện tôn giáo này đang là tôn giáo thống trị thế
giới vì nó có nhiều tín đồ nhất thế giới (chủ yếu ở các nƣớc phƣơng Tây).
Công giáo đã mang tính chất đại đồng chủ nghĩa về nguyên tắc đồng thời nó
có một tầm quan trọng về ảnh hƣởng của nó trong các lĩnh vực văn hóa, đời
sống và chính trị.

10


Về tôn giáo: Sự ra đời của đạo Kitô dựa trên sự kế thừa những yếu tố
thần học và tín ngƣỡng phong tục tập quán của các dân tộc vùng Trung Cận
Đông đặc biệt là đạo Do Thái - một tôn giáo thờ phụng chúa Giêhôva ra đời
từ thế kỉ VI Tr.CN.
Do Thái là một sứ nhỏ bé ở vùng Trung Cận Đông chỗ tiếp giáp 3 châu
Âu - Á - Phi, là giao điểm của nhiều nền văn minh khoảng hơn một ngàn năm
trƣớc Công Nguyên, quốc gia Do Thái đƣợc thành lập theo chế độ quân chủ
chủ nô, là quốc gia trải qua nhiều lần hƣng thịnh và suy vong.
Thời kỳ đầu Công Nguyên trong xã hội Do Thái phát triển nhiều giáo
phái cứu thế đạo Công giáo ra đời chủ yếu dựa trên cơ sở thần học Do Thái.
Ngay từ năm 61 Công giáo đã có mặt ở Rô ma. Sau nhiều sự ngƣợc đãi cuối
cùng Công giáo đã đƣợc mở thông lối vào mọi miền của xã hội La Mã, từ thế
giới La Mã Công giáo đã vƣợt sang miền Basbasie và phát triển rộng rãi chủ

Kinh thánh: Là lời Chúa diễn tả bằng ngôn ngữ loài ngƣời ở một thời kì
và trong một nền văn hóa rõ rệt. Kinh thánh gồm 73 sách,nhiều sách khác
nhau hợp lại. Hiện nay Kinh thánh đƣợc dịch ra hầu hết các tiếng trên thế
giới. Kinh thánh chia làm 2 bộ: Tân ƣớc và Cựu ƣớc ban đầu đƣợc truyền
miệng về sau đƣợc các thánh Mát-thêu, Lu-ca, Gio-an, Mác-cô ghi lại trong
các sách tin mừng, bốn sách tin mừng này quan trọng nhất trong Kinh thánh.
- Bộ Cựu ƣớc: Có 46 cuốn gồm 5 cuốn đầu gọi là “Năm quyển sách của
Môise”, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn đầu gọi là “Sáng thế kỉ” kể chuyện
Đức Chúa Trời tạo thành trời đất cùng muôn loài, 14 cuốn tiếp theo là “Các
sách về lịch sử” kể chuyện các chi họ Do Thái phiêu bạt khắp vùng Tiểu Á, 7
cuốn tiếp theo là “Các sách văn thơ”, 18 cuốn cuối cùng là “Các sách tiên tri”
ghi lời đoán ƣớc của các bậc thông thái.
- Bộ Tân ƣớc: Có 27 cuốn gồm 4 cuốn “Phúc âm” nói về cuộc đời Chúa
Giêsu, 1 cuốn “Công vụ các sƣ đồ” chuyện kể về các thánh Tông đồ, 22 lá thƣ
gửi các giáo đoàn và cuối cùng là sách “khải huyền” tiên đoán về tƣơng lai:
Trái đất và muôn loài tận thế, quỷ sa tan bị thua đời đời,…
Nội dung giáo lý:
Theo giáo lý thì Thiên Chúa có trƣớc đời đời, có trƣớc cả không gian và
thời gian. Thiên Chúa có ba ngôi: Ngôi nhất là Cha - ngôi hai là Con - ngôi ba
là Thánh Thần. Tuy là 3 ngôi riêng biệt nhƣng cùng một bản thể là thánh,
12


Thiên Chúa 3 ngôi nhƣng đều “Đồng đẳng, đồng vinh, đồng tuyền”. Mỗi ngôi
có một chức năng, vai trò khác nhau đối với con ngƣời (ngôi nhất tạo dựng,
ngôi hai cứu chuộc, ngôi ba thánh hóa). Thiên Chúa là đấng sáng tạo nên trời
đất, muôn loài từ hƣ không trong 6 ngày:
- Ngày thứ nhất: Tạo nên sự sáng, tối đặt tên là ngày, đêm.
- Ngày thứ hai: Tạo ra không gian gọi là trời
- Ngày thứ ba: Tạo ra cây cỏ, đất, nƣớc

với Thiên Chúa. Vì thế, loài ngƣời mới bị Thiên Chúa trừng phạt bằng cách
bất đồng ngôn ngữ để không xây đƣợc tháp.
Chúa Giêsu) xuống trần gian để cứu
chuộc tội lỗi cho loài ngƣời.
:
* Mƣời điều răn: Đây là mƣời điều răn mà Chúa truyền cho Môise đƣợc
ghi lại trong Kinh Cựu ƣớc, ở “sách thứ 5 của Môise” gọi là phục truyền luật
lệ kí. Mƣời điều răn đó là:
Thờ phƣợng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự
Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ
Giữ ngày chủ nhật
Thảo kính cha mẹ
Chớ giết ngƣời
Chớ làm sự dâm dục ngƣời
Chớ lấy của ngƣời
Chớ làm chứng dối
Chớ muôn vợ chồng ngƣời
Chớ tham của ngƣời

14


Mƣời điều răn ấy tóm về hai điều này: Trƣớc kính mến Ngƣời trên hết
mọi sự, sau này yêu ngƣời nhƣ mình ta vậy.
* Bảy phép bí tích:
1. Phép rửa tội
Mục đích là rửa tội tổ tông để đƣợc trở thành Kitô hữu, đƣợc gia nhập
hội thánh và đƣợc tái sinh trong ngày phán xét. Đối tƣợng chịu Phép rửa là trẻ
sơ sinh và ngƣời trƣởng thành muốn gia nhập vào đạo.
Nghi lễ tiến hành Phép rửa là dùng nƣớc lã đã đƣợc làm phép dội lên đầu


Về nghĩa vụ của tín đồ: Lấy điều thiện mà khuyên ngƣời, hƣớng dẫn cho
kẻ mê muội, tha thứ cho kẻ khinh rẻ mình, nhịn kẻ xúc phạm đến mình, răn
bảo kẻ tội lỗi, an ủi kẻ âu lo, cầu nguyện cho kẻ sống và ngƣời chết, rồi cho
kẻ đói ăn, cho kẻ khát

,....

* Những ngày lễ trọng:
Lễ Giáng sinh 25 - 12 (Noel).
Lễ Phục sinh khoảng từ 21 - 3 đến 25 - 4
Lễ Chúa Giêsu lên trời, sau lễ Phục sinh 40 ngày.
Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, sau lễ Chúa Giêsu lên trời 10 ngày.
Lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời (15 - 8).
Lễ các Thánh ngày 1 - 11 (giống với lễ Thanh Minh của những ngƣời
không theo Công giáo).
Lễ chủ nhật quanh năm.
Tất cả các lễ trọng trên ngƣời giáo dân phải nghỉ làm việc xác cả ngày.
Riêng đạo chính thống không có lễ Giáng sinh vào ngày 25 - 12 mà là vào
ngày 6 - 1.
1.2. Công giáo ở Việt Nam
1.2.1.
Công giáo khởi điểm là một tôn giáo dân tộc địa phƣơng đã nhanh chóng
tỏa ra rộng rãi trở thành tôn giáo của đế chế La Mã. Công giáo cho rằng việc
truyền đạo là một sứ mạng rất đỗi thiêng liêng và luôn thƣờng trực trong tâm
tƣởng, Kinh thánh từng viết: “Hãy đi khắp thế gian và giảng phúc âm cho mọi
ngƣời” lời thúc đó có từ rất sớm.
Thời kì cận đại, có nhiều cuộc phát kiến địa lí đã mở ra trƣớc mắt nhân
loại nhiều triển vọng mới, trong đó có việc mở rộng “nƣớc Chúa” đến những
miền đất ngoại. Những quốc gia hƣng thịnh thời đó nhƣ Bồ Đào Nha, Tây

truyền giáo cũng không hoàn toàn giống nhau nên công việc truyền bá Tin
Mừng của mỗi Dòng là khác nhau. Nhiều thừa sai vào xã hội Việt đã cố gắng
trở nên giống dân Việt bao nhiêu có thể. Họ cũng phải ăn cơm, ở nhà lá, nhà
sàn nhất là ở tại Đàng Trong vào thế kỉ XVII – XVIII,…

18


Trong đó các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa
Minh thuộc Tây Ban Nha đóng vai trò chủ yếu đã đi theo thuyền buôn vào
Việt Nam thời kì 1533 đến 1614. Buổi ban đầu ấy họ chƣa quen phổ thông và
chƣa thành thạo ngôn ngữ nên gặp nhiều khó khăn, do “Tây với Ta” mới gặp
nhau, hai bên chƣa hiểu nhau. Vì vậy, đã ảnh hƣởng đến kết quả truyền giáo.
Đến năm 1613 đến 1645 các giáo sĩ dòng tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao
(Trung Quốc) vào Việt Nam mở rộng phạm vi hoạt động cả Đàng Trong và
Đàng Ngoài. Thời gian này nhiều giáo sĩ đã thông thạo tiếng Việt và biết hoạt
động khôn khéo nên cho dù gặp nhiều khó khăn phức tạp có khi phải đổ máu
nhƣng họ đã thu hút đƣợc khá đông ngƣời theo đạo. Nhƣ ở Đàng Ngoài năm
1659 đã có 240 nhà thánh (tức là nhà thờ) và sau 36 năm truyền giáo (1627 1663) đã có tới 350.000 ngƣời tòng giáo [4, tr.171].
Năm 1626, giáo sĩ ngƣời Pháp Alexandere de Rhodes (1591 - 1660),
thƣờng phiên âm là Á - lịch - sơn Đắc Lộ, thuộc giáo hội Bồ Đào Nha đã đến
Thanh Hóa. Ông là ngƣời có nhiều sáng kiến trong hoạt động truyền giáo lại
thông thạo tình hình, vì thế sau mấy năm truyền giáo ở Đàng Trong và Đàng
Ngoài cuối năm 1642 ông đã trở về Châu Âu vận động tòa thánh Rô ma giao
cho Pháp quyền truyền đạo ở Viễn Đông (trong đó có Việt Nam).
Đạo phát triển mạnh đặt ra yêu cầu mới là cần phải có Giám mục phụ
trách việc truyền giáo ở mức cao hơn. Năm 1645 bề trên dòng tên ở Việt Nam
đã cử giáo sĩ về Rô ma chọn ngƣời xin Giáo hoàng phong Giám mục và phái
sang Việt Nam. Một giáo sĩ dòng tên tên là Alexandere de Rhodes ngƣời Pháp
dù đã tuyên thề trung thành với vua Bồ Đào Nha nhƣng vấn đề tình cảm và

tình hình tranh chấp gay gắt nhƣ vậy Giáo hoàng phải ra lệnh rút khỏi Đông
Dƣơng và cũng từ đó hội thừa sai Pari đã độc quyền truyền giáo ở Pari. Thế kỉ
XVI và XVII là thời kì truyền giáo của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha, nhƣng theo thời gian vai trò của họ lu mờ dần, trong khi đó các giáo sĩ
Pháp ngày càng mạnh đặc biệt từ khi hội thừa sai ra đời. Nƣớc ta thế kỉ XVII
và XVIII đã có rất nhiều thay đổi phức tạp nhƣ cuộc thôn tính giữa hai chúa
phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng trong. Tiếp đó là
20


cuộc nội chiến Nguyễn Ánh Tây Sơn và sự phục hồi của nhà Nguyễn làm cho
kinh tế bị gián đoạn, hỗn loạn về chính trị dao động li tán trong lòng dân
chúng bởi cách ấy làm cho tình thế thuận lợi cho sự bành trƣớng của hội thừa
sai Pari, hoạt động ráo riết ấy phải kể đến các giáo sĩ Pallu, Pugini, Puginter,
Behaine, Letebver,…họ có những đóng góp tích cực vào việc truyền giáo ở
Việt Nam cả ở Đàng Trong và Đàng ngoài.
Giáo sĩ Pallu là Giám mục Đàng Ngoài, năm 1669 đã gửi thƣ cho bộ
trƣởng hải quân Pháp Lambest đem quân sang chiếm vùng Châu thổ Sông
Hồng.
Pingneau de Behaine còn gọi là Bá Đa Lộc, giám mục can thiệp rất sâu
vào nội bộ Việt Nam đã xây dựng giúp đỡ Nguyễn Ánh lại lập cơ đồ và đƣa
Việt Nam vào vòng ảnh hƣởng của Pháp.
Letebver phó Giám mục thƣờng xuyên liên lạc với tàu chiến của quân
đội Pháp và đã dẫn dắt đến những hành động bạo lực những năm 40, 50 của
thế kỉ XIX ngƣời Pháp đánh giá cao lòng trung thành của Letebvre. Một sứ
giả ngƣời Pháp đã viết: “Ngày nay nếu viết lịch sử các cuộc chinh phục của
chúng ta không nên quên Đức Cha Letebver ngƣời mà lòng ái quốc đã khiến
cho nƣớc An Nam trở thành thuộc địa của Pháp”.
Giám mục Pellesin là ngƣời đã mở cuộc vận động trong chinh giới Pháp
can thiệp vũ trang vào Việt Nam. Ngƣời đã gợi ý cho quân đội Pháp chọn Đà

tôn giáo trong đó có Công giáo, lời lẽ nhƣ sau “...Lại như đạo Gia tô là tôn
giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa ra thuyết Thiên Đàng, địa ngục khiến
kẻ ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen mà không biết. Từ nay
về sau dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia tô thì phải đưa đơn trình quan
trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm...” [13, tr.168]. Để bảo
tồn văn hóa và tạo điều kiện giữ ổn định về chính trị, nhà Nguyễn đã khôi
phục Nho giáo làm quốc giáo. Gia Long từng căn dặn Minh Mạng: “Hãy biết
ơn người Pháp, nhưng đừng bao giờ để họ đặt chân vào triều đình của con”.
Dƣới thời Minh Mạng (1820 - 1840), các thừa sai nƣớc ngoài bị cấm
nhập cảnh vào Việt Nam. Với 21 năm cầm quyền Minh Mạng ra 6 chỉ dụ cấm
đạo vào các năm 1825, 1826, 1833, 1836, 1838 và 1839. So sánh thấy 13 năm
22


đầu (1820 - 1832) có 2 chỉ dụ, 4 chỉ dụ còn lại tập trung vào 8 năm về sau
(1833- 1840). Tƣơng tự trong số 117 vị thánh tử đạo ở Việt Nam đƣợc công
nhận vào tháng 6 năm 1988, có 58 vị dƣới thời Minh Mạng thì 13 năm đầu
không có ai, 7 vị ở 5 năm (1833 -1837), 51 vị vào 3 năm (1838 - 1840).
Dƣới thời vua Thiều Trị (1841 - 1847), Công giáo đƣợc phép hoạt động
trở lại, chia thành 4 địa phận: địa phận Đông Đàng Trong, địa phận Tây Đàng
Trong và địa phận Đông Đàng Ngoài, địa phận Tây Đàng Ngoài.
Sang thời Tự Đức (1848 - 1883) cuộc leo thang xâm lƣợc của thực dân
Pháp ngày càng gia tăng . Những ngƣời Pháp làm quan tại triều Nguyễn và
nhiều cha cố đã báo về cho chính phủ Pháp nhiều tin tình báo quan trọng, một
số giáo sĩ theo tàu chiến Pháp thâm nhập Việt Nam,...không phân biệt đƣợc
bọn thực dân đội lốt tôn giáo và tay sai với những con chiên nhẹ dạ cả tin và
những giáo dân lƣơng thiện. Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đã ra một loạt
chỉ dụ cấm đạo. Việc cấm đạo và giết giáo dân đến lƣợt mình lại tạo thêm một
cớ rất mủi lòng cho bọn thực dân can thiệp vũ trang ráo riết hơn, cái sai này
kéo theo cái sai khác. Trƣớc sức ép của Pháp tháng 5 năm 1862 Tự Đức buộc

mục, 1.544.765 giáo dân trên tổng số 23.193.769 ngƣời.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng cộng sản Đông Dƣơng đã tiếp
tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn này
các tổ chức Công giáo đã đƣợc thành lập nhƣ: Việt Nam Công giáo cứu quốc
hội, Việt Nam Công giáo cứu quốc đoàn,...và đã tham gia cƣớp chính quyền
cùng với dân tộc.
Tuy cuộc chiến tranh ác liệt, nhƣng nhân ngày lễ của các tôn giáo Hồ
Chí Minh thƣờng gửi thƣ chúc mừng và nói rõ những chính sách đoàn kết của
mình. Trong Noel năm 1945, ngƣời gửi thƣ cho đồng bào Công giáo, Ngƣời
viết “...Ngày nay đồng bào cả nƣớc giáo và lƣơng đều đoàn kết chặt chẽ nhất
tâm nhất trí nhƣ con một nhà, kiên quyết giữ vững quyền tự do độc lập,...tinh
24


thần hy sinh ấy là noi theo tinh thần cao thƣợng của Đức Chúa Giêsu” [10,
tr.490]. Trong cuộc kháng chiến ngƣời Công giáo chịu nhiều khổ cực thiếu
thốn về vật chất nhƣng điều đáng nói là họ còn bị Giáo hội coi là phản tin
mừng. Dù khó khăn nhƣng Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn đồng tâm hiệp
lực đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trong sứ điệp gửi giáo hoàng Pie XII ngày 23/9/1945 Giám mục Nguyễn
Bá Tòng viết: “Đứng trước những biến cố hết sức xúc động như thế này và
bản thân chúng con cảm động đến tận đáy lòng, vì ý thức bổn phận thiêng
liêng với Tổ quốc chúng con, các Giám mục người Việt Nam chúng con nài
xin Đức Thánh Cha, Tòa thánh Rô ma, các Đức Hồng Y, các Đức Tổng Giám
mục và toàn thể anh chị em Công giáo khắp thế giới và đặc biệt Công giáo
Pháp hãy hỗ trợ cho quyết định của Tổ quốc yêu quý chúng con” [12, tr.59 60]. Thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lƣợc nƣớc ta một lần nữa, khi nhân
dân bƣớc vào cuộc kháng chiến cũng là lúc liên đoàn Công giáo kháng chiến
Nam bộ và các Uỷ ban liên lạc Công giáo kháng chiến ở Bắc Bộ đƣợc thành
lập tham gia chống Pháp. Để đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Hội
nghị Công giáo toàn quốc đã đƣợc tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngày 11 tháng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status