Công tác quản lý của nhà nước về hoạt động tôn giáo ở việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ HƢỚNG

CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CỦA NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI, 2012

1


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy, cô Khoa Giáo dục chính trị đã giảng dạy
em trong suốt thời gian qua.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Ths. Lê Thị Minh Thảo người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo
điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân,
nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót, kính mong sự chỉ bảo của các
thầy (cô), cũng như của các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hướng


KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72
4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội ra đời từ hàng nghìn năm nay và
sẽ tồn tại cùng với loài người trong một thời gian khó đoán định. Trong quá
trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính
trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của
nhiều dân tộc, nhiều quốc gia.
Hiện nay tôn giáo ngày càng can thiệp sâu hơn vào đời sống con người
bằng nhiều hình thức khác nhau. Là một trong những vấn đề nhạy cảm không
chỉ riêng ở Việt Nam mà cả trên thế giới, tôn giáo và dân tộc là một trong
những nhân tố tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Bởi vậy, không một quốc gia nào không đặt ra vấn đề cần phải có
sự quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, số lượng người theo tôn giáo khá
đông (chỉ tính riêng 6 tôn giáo lớn, số tín đồ đã chiếm khoảng ¼ dân số). Do
đó, việc đề ra chính sách tôn giáo đúng đắn và thực hiện có hiệu quả chính
5


sách đó là một vấn đề hệ trọng, không những ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp và nhu cầu của một bộ phận nhân dân, mà còn tác động không nhỏ đến
tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước. Nhận thức rõ điều này,
Đảng và Nhà nước ta luôn đưa ra và thực hiện được chính sách đúng đắn về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nghị quyết số 24/NQ-TW của Bộ

ngưỡng, tôn giáo của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng
tôn giáo để đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Công tác quản lý của
nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” làm chủ đề nghiên
cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, có nhiều công trình, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởng
của tôn giáo đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Điều này
được thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu như: “Lý luận về tôn giáo và tình
hình tôn giáo ở Việt Nam” của GS. Đặng Nghiêm Vạn (2003, Nxb Chính trị
quốc gia); “Một số hiểu biết về tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn
Văn Trung (1993, Nxb Quân đội nhân dân). Đây là những công trình đã đi
sâu nghiên cứu sự ra đời, phát triển của tôn giáo nói chung, tôn giáo ở Việt
Nam nói riêng và vai trò của tôn giáo đối với đời sống Việt Nam qua các thời
kỳ kịch sử.
Vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo có các đề tài như: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện
nay” của TS Nguyễn Hữu Khiển (2001, Nxb Công an nhân dân), tác giả chủ
yếu nghiên cứu những nội dung về công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo
ở nước ta hiện nay; “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một yêu
cầu khách quan” của TS Trần Minh Thư (2005, Tạp chí công tác tôn giáo số
3), nghiên cứu về tính tất yếu khách quan của việc quản lý nhà nước đối với

7


hoạt động tôn giáo; “Quản lý hoạt động tôn giáo - cơ sở lý luận và thực tiễn”
của Bùi Đức Luận (2005, Nxb Tôn giáo), tác giả đã lý giải những vấn đề có
tính lý luận và thực tiễn đang diễn ra sôi động hiện nay trong hoạt động tín

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo bao gồm
việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý, tổ chức tôn giáo.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ sau khi có Nghị
quyết 24 NQ/TW của Bộ chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới (Từ năm 1990 đến nay).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng,
Nhà nước ta về tôn giáo và quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo; đồng thời
kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến đề tài.
Các phương pháp được sử dụng khi nghiên cứu đề tài là: phương pháp
logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, khảo sát thực tế
và liên hệ thực tế để đạt được mục đích và nhiệm vụ đề ra.
6. Đóng góp của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu đề tài một cách hệ thống, cùng với việc sưu
tầm khối lượng liến thức liên quan giúp bản thân có thêm những hiểu biết về
tôn giáo, làm giàu thêm những kiến thức về tôn giáo học, củng cố lập trường
duy vật và phương pháp luận biện chứng, đồng thời góp phần làm sáng tỏ
phần nào nội dung và phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo.

9


Khóa luận góp phần làm tài liệu tham khảo cho những người làm công
tác giảng dạy và học tập chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, những

Nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý. Sự tác động này không phải mang tính
đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà
chủ thể quản lý đặt ra là hướng tới đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý
chí của mình.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước.
* Khái niệm quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó
quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội xuất hiện từ khi
lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. Quản lý xã hội là sự tác
động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật
khách quan. Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành. Khi nhà nước xuất
hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm
- quản lý nhà nước xuất hiện. Hiện nay khái niệm quản lý nhà nước được hiểu
theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, được sử dụng quyền
lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến
hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội.

11


Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với
chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan
trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp).
* Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội đã xuất hiện từ lâu (Phật

sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những
lực lượng siêu trần thế” [12, tr.437].
Ở Việt Nam hiện nay, vẫn phổ biến một quan điểm về tôn giáo theo
loại hình tôn giáo của giáo hội, vẫn phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
như là hai cấp độ phát triển, như nhận xét của một tác giả nghiên cứu tôn
giáo: “Hiện nay, ở nước ta và một số nước dường như chỉ coi các hình thức
tôn giáo nảy sinh ra từ xã hội có giai cấp, hay đúng hơn nữa là phải có tổ
chức, giáo lí, giáo luật, mới được coi là tôn giáo” [22, tr.29]. Thêm vào đó là
những khó khăn về khoảng cách giữa những định nghĩa về tôn giáo có tính
cách học thuật và thực tiễn thi hành chính sách tôn giáo. Trong thời gian gần
đây, những nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam cũng bàn luận về định nghĩa
tôn giáo bằng cách phê phán hay tán đồng định nghĩa của các tác giả nước
ngoài, như định nghĩa của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn: “… đối tượng chung
nhất của tôn giáo, Tây cũng như Đông, là thế giới siêu nhiên vô hình được
chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo giữa con
người và thế giới đó nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như thế
giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau của từng cộng
đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau” [22, tr.23]. Hay trong sách: “Lý luận về
tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” có nêu: Tôn giáo là niềm tin vào
các lực lượng siêu tự nhiên cũng như thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu
hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý, văn
hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng
những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt:
13


“Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm, dựa trên cơ sở tin
và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu
tự nhiên định đoạt tất cả, con người phải phục tùng và tôn thờ” [24, tr.1011].
Như vậy, hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tôn giáo chưa được giải thích

tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được
mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy
ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi
hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của
pháp luật.
1.1.2. Yêu cầu khách quan của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở nước ta hiện nay
Trong quá trình quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo có
một số quan điểm cho rằng hoạt động tôn giáo là hoạt động mang tính chất
nội bộ của tôn giáo, nhà nước không cần phải quản lý, điều chỉnh, nếu nhà
nước quản lý, điều chỉnh sẽ không còn tự do tôn giáo.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, nhà nước nào, ở
đâu có hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp, điều chỉnh của nhà nước.
Tuy nhiên, sự điều chỉnh của nhà nước ở mức độ nào có sự khác nhau, tùy
thuộc vào nhà nước, nếu thấy là cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi
ích của xã hội, giữ gìn được trật tự xã hội : Yêu cầu quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo trong lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển, ảnh
hưởng của tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý chí của nhà nước mà còn xuất
phát từ thực tế khách quan về lịch sử, hiện tại và tương lai. Tôn giáo là thực
thể của xã hội, tồn tại khách quan, lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội.
Tôn giáo ra đời từ những tiền đề về kinh tế - xã hội, từ các nguồn gốc tâm lý,
nhận thức, trong đó nguồn gốc về kinh tế - xã hội giữ vai trò quyết định. Khi

15


những nguồn gốc làm phát sinh tôn giáo chưa giải quyết được, tôn giáo vẫn
còn tồn tại. Thừa nhận thực tế khách quan này, nhà nước cần tôn trọng và

dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết các dân tộc”
và “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc; đoàn
kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”. Quán triệt những
quan điểm của Đảng, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần
có những đổi mới, có sự tăng cường để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Thứ hai, trước yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước nói chung và
quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng đặt ra nhiều
vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Về hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động tôn giáo trước khi có Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao
nhất điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mới dừng ở hình thức
Nghị định của Chính phủ, giá trị pháp lý thấp, nhiều nội dung thiếu rõ ràng,
còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu các biện pháp bảo đảm thực hiện. Sau khi
Pháp lệnh được ban hành, để đưa Pháp lệnh vào cuộc sống cần phải tiếp tục
có những văn bản hướng dẫn chi tiết.
Các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo rất thiếu, còn rườm rà; nhiều nội dung quản lý thiếu
các quy định cụ thể gây khó khăn cho cả người quản lý và đối tượng thực
hiện, không đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính hiện nay.
Về tổ chức, bộ máy làm công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo trước khi Nghị định số 91/2003/NĐ-CP ngày 13/08/2003 của Chính
phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo
Chính phủ, Nghị định số 22/2004/NĐ-CP ngày 12/01/2004 của Chính phủ về
kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân các
cấp được ban hành còn rất nhiều bất cập. Bộ máy thiếu thống nhất; chức

17




động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện những hành vi trái pháp luật
sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở nước ta hiện nay
* Mục tiêu quản lý
Mục tiêu là cái hướng tới và cần đạt được. Đối với công tác quản lý nhà
nước về hoạt động tôn giáo, cần hướng tới và đạt được mục tiêu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đảm bảo cho các
hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định của pháp luật.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người
cơ bản được công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp
quốc ghi nhận. Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại lâu dài cùng với sự
phát triển của xã hội loài người chừng nào những nguồn gốc làm phát sinh ra
nó chưa giải quyết được. Suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân
tộc, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là quyền cơ bản của công dân. Cùng
với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phải bảo
đảm cho tổ chức, cá nhân tôn giáo được thực hiện các hoạt động hành đạo,
truyền đạo và quản lý tổ chức một cách thuận lợi.
Quản lý nhà nước cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy
với hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để có những biện pháp quản lý phù
hợp, tránh can thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo. Trong hoạt động tôn
giáo, chúng ta cũng yêu cầu các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành
tuân thủ quy định của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm đều phải bị phê phán,
nghiêm cấm và xử lý theo quy định của pháp luật.

19



Mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo luôn là bài học quan
trọng trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, là
truyền thống quý báu tạo nên sức mạnh của dân tộc. Trong công tác tôn giáo,
mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo càng quan trọng khi tôn giáo
luôn là một trong những công cụ, phương tiện được các thế lực thù địch, phản
động trong và ngoài nước chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo,
thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình.
Thứ tư, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải đảm bảo sự
tăng cường vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh hoạt động tôn giáo.
Tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được nhà nước
thừa nhận, phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Hoạt động tôn giáo phải
tuân thủ những quy định của Nhà nước. Mọi hành vi nhằm biến tôn giáo
thành một lực lượng đối trọng với nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà
nước đều là bất hợp pháp. Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật
mà nhà nước đã đặt ra đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi vai
trò của nhà nước trong điều chỉnh các hoạt động tôn giáo được tăng cường,
hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ được nâng
cao, các quy định quản lý nhà nước được các tổ chức, cá nhân tôn giáo thực
hiện nghiêm chỉnh, triệt để, pháp chế trong công tác tôn giáo được giữ vững.
* Nguyên tắc quản lý
Hoạt động quản lý nhà nước, trước hết, theo các nguyên tắc cơ bản của
quản lý nhà nước (nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý, nguyên tắc
tập trung dân chủ,…). Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực của quản lý những hoạt động
đặc thù, do đó cần thiết phải tuân theo một số các nguyên tắc có tính riêng
biệt liên quan đến đối tượng, khách thể quản lý.
Trong lĩnh vực các hoạt động tôn giáo, có một số nguyên tắc chính sau:
- Nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật

21

22


- Nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá
trị văn hóa
Tín ngưỡng bao giờ cũng thể hiện thông qua vật chất của con người.
Tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo được vật chất hóa trong đời sống xã hội thể hiện
qua các kinh sách, luật lệ, lễ nghi,… Các công trình kiến trúc tôn giáo bao giờ
cũng vừa là nơi thờ phụng của các tôn giáo, đồng thời cũng là những kiệt tác
về kiến trúc, về văn hóa, nó gắn liền hoặc trở thành những trường phái hội
họa, kiến trúc qua các thời kỳ khác nhau.
Vì vậy, sự tồn tại của tôn giáo, của đời sống tinh thần trong tín ngưỡng
của con người là những động lực cho sự phát triển và bảo tồn văn hóa. Những
sự bịa đặt, những hủ tục mê tín, lợi dụng trong sinh hoạt tôn giáo thể hiện ra
trong một vài sinh hoạt thường nhật lẫn vào sinh hoạt tôn giáo trở thành hạt
sạn, trở thành vật cản không những trái với lòng tin tôn giáo, mà còn là những
sản phẩm ít có giá trị văn hóa.
- Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất, hài hòa giữa lợi ích cá nhân, cộng
đồng và lợi ích quốc gia, xã hội
Nhận thức cơ bản của nguyên tắc này là mỗi người có đạo thường có
nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu tâm linh thể hiện trong sinh hoạt tôn giáo và
trách nhiệm của công dân.
Đối với một tín đồ, nhu cầu tâm linh được thỏa mãn ngay trong sinh
hoạt tôn giáo như hành lễ, cầu nguyện. Nhưng với người tín đồ đó, với tư
cách công dân thì lợi ích xã hội nào đó có thể thực hiện được thông qua việc
thực hiện một nghĩa vụ của người đó.
Nguyên tắc này thực ra là yêu cầu ứng xử được đặt ra khi cùng một
thời điểm xuất hiện hai hoạt động khác nhau: một là sinh hoạt tôn giáo; hai là
hoạt động xã hội. Ví dụ, thời điểm để đi hành hương, hành đạo ở một nơi nào
đó trùng vào đúng thời điểm xảy ra thiên tai ở một địa phương cần có sự huy

thống cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp trong quản lý nhà nước đối với hoạt

24


động tôn giáo. Trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải phát huy, đề cao vị trí, vai trò của các cơ
quan này trong quản lý hoạt động tôn giáo.
* Khách thể quản lý
Khách thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo chính là hoạt
động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.
- Về tín đồ, chức sắc, nhà tu hành
Là những công dân Việt Nam, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành vừa mang
bản sắc vừa mang bản chất, đặc trưng chung của người Việt Nam nhưng đồng
thời cũng có những nét đặc trưng riêng của những người có đạo.
Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa
nhận. Số lượng tín đồ tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá đông đảo (khoảng
20% dân số cả nước). Đại đa số đồng bào tín đồ các tôn giáo là nông dân và
nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ
quốc. Nhìn chung đồng bào tín đồ theo các tôn giáo khác nhau và đồng bào
không theo tôn giáo đang đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng
hướng tới mục tiêu chung xây dựng Việt Nam ngày một phát triển. Trong
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những điểm
tích cực ấy, phải coi đó là một yếu tố quan trọng góp phần phát huy nội lực để
xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, còn có một số tín đồ bị các thế lực thù địch
lợi dụng, nghe theo kẻ xấu tham gia vào các vụ gây rối trật tự công cộng, đòi
hỏi công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần hết sức lưu ý.
Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng
theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo.
Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo. Là những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status