Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
VitaminC (Vit.C) hay còn được gọi là axit L-ascobic là một trong
những loại hợp chất phổ biến và có vai trò quan trọng đối với sự sống của con
người.
Vit.C đóng vai trò thiết yếu trong các quá trình sinh hóa xảy ra trong cơ
thể người, nó tham gia vào quá trình trao đổi chất, điều tiết quá trình sinh tổng
hợp hoormon, là chất đề kháng cho cơ thể sinh vật, chất chống lão hóa các tế
bào . . .
Nếu thiếu Vit.C có thể gây bệnh Scrobut, biểu hiện ban đầu: mệt mỏi,
đau cơ, xương khớp, chán ăn, da khô ráp, chảy máu chân răng, xuất huyết
dưới da, vết thương chậm liền sẹo, thiếu máu, … Nếu không điều trị kịp thời
sẽ bị phù tiểu cầu, thần kinh bị kích thích, xuất huyết não và chết.
Vit.C còn được sử dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm với
vai trò là chất chống oxi hóa. Nó giúp cho các sản phẩm giữ được sự tươi
ngon trong quá trình bảo quản. Nhiều loại hàng hóa trên thị trường như nước
giải khát, nước ép trái cây đóng hộp, bột dinh dưỡng trẻ em… chứa Vit.C
nhằm duy trì chất lượng sản phẩm.
Các loại trái cây tươi như nước ép Dưa hấu là nguồn cung cấp Vit.C tự
nhiên, rât tốt cho sức khỏe. Ngoài ra Vit.C cũng được tổng hợp theo con
đường nhân tạo như nước uống đóng hộp (Triocam) đáp ứng nhu cầu cao về
vitamin của cơ thể người cũng như của các ngành công nghiệp có liên quan.
Vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươi, trái cây xanh chua, có
ít trong thịt.
Tuy nhiên Vit.C là một chất rất dễ bị phân hủy trong điều kiện nhiệt độ
và ánh sáng bình thường. Do đó, việc xác định nó trong các đối tượng trên
một cách chính xác, nhanh chóng là một yêu cầu hàng đầu được đặt ra. Ở Việt
2
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƢƠNG VỀ VITAMIN C
1.1.1. Công thức và nhận định
Vitamin C là tên thường gọi của axit L-ascobic, có tên quốc tế là:
2-oxo-L-threo-hexono-1,4-lactone-2,3-enediol.
hoặc: (R)-3,4-đihydroxy-5-((S)-1,2-đihydroxylethyl)furan-2-(5H)-one.
Công thức phân tử: C6H8O6
Khối lượng phân tử: 176,1
Nhiệt độ nóng chảy: 193°C
Công thức cấu tạo:
6CH2OH
5
OH
O
4
HO
Axit ascobic rắn là những tinh thể đơn tà, không màu, không mùi, có vị
chua, nóng chảy ở 193°C. Axit asscobic dễ tan trong nước, ít tan hơn trong
rượu và không tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực.
Axit ascobic rất dễ bị phân hủy dưới tác dụng của ánh sáng, nhiệt độ.
Vì vậy cần bảo quản axit ascobic trong bóng tối và nhiệt độ thấp.
1.1.2. Tính chất hóa học
a. Tính khử
Axit ascobic là chất khử mạnh, có bán phản ứng như sau:
CH2OH
OH
O
HO
CH 2OH
OH
O
O
OH
O
Ax it L- ascobic
O
2H +
OH
O
H 2O
O
Sản phẩm tạo ra là axit L-đehiđroascobic, chất này cũng có hoạt tính
sinh học tương tự như axit L-ascobic, nhưng không bền, nó dễ bị thủy phân
Tạ Thị Liên
4
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
phá vòng tạo axit 2,3-đixetogulonic CH2OH-(CHOH)2-CO-CO-COOH, là
chất không có tác dụng sinh hóa.
Tốc độ oxi hóa axit ascobic thành axit L-đehiđroascobic càng lớn khi
pH càng tăng. Các chất saccarozơ, carotenoit, flavonoit,… có khả năng làm
chậm quá trình oxi hóa của axit ascobic nên được dùng làm chất ổn định hóa
Vit.C.
Cơ chế sự phân hủy của axit ascobic bởi chất oxi hóa có thể được biểu
HO
O
Ax it L- ascobic
COOH
C O
O
HO
CH 2OH
CH 2OH
C HO
HO
HO
C O
[ O]
CH 2OH
HO
CH 2OH
CH 2OH
COOH
H 2O
Ax it 2,3- dix etogulonic
[ O]
CH 2OH
COOH
CH 2OH
Ax it L- dehidr oascobic
COOH
OH [ O]
COOH
[ O]
COOH
COOH
[ O]
Trong dung dịch nước axit ascobic là một axit yếu ở nấc 1, pK a,1=4,2
tương ứng với quá trình phân ly H+ của nhóm OH đính vào C3 (*), và rất yếu
ở nấc 2, pKa,2 = 11,6 tương ứng với sự phân li H+ của nhóm OH đính vào C2
(*). Axit ascobic dễ dàng phản ứng với dung dịch bazơ mạnh như NaOH,
KOH, Ca(OH)2 tạo muối.
CH 2 OH
CH2OH
OH
OH
O
HO
O
O
O
NaOH
OH
NaO
H 2O
Tuy nhiên, khi axit hóa và đun nhẹ thì vòng lacton lại lặp lại.
Tạ Thị Liên
6
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
c. Tác dụng với axit hữu cơ tạo este
Trong CTCT của axit ascobic có nhiều nhóm OH như nhóm chức rượu,
có khả năng tạo este với các axit hữu cơ, đặc biệt là các axit béo như axit
panmitic, axit stearic. Sản phẩm este dạng 6-O-axyl L-ascobic (ascobyl
panmitat, ascobyl stearat) có mạch cacbon dài, dễ tan trong dầu. Những este
này được tổng hợp dùng làm chất bảo quản chất béo trong công nghiệp chế
biến. Một số dẫn xuất khác của axit ascobic cũng được sử dụng là:
CH2OH
CH2OH
OH
O
HO
OH
O
HO
OH
CH 2OH
OH
O
O
O
3- O- ankyl ax it ascobic
CH 2OCOR
O
R
OH
O
O
OCOR
thành colagen, nhờ có quá trình hyđroxyl hóa prolin thành oxyprolin cần thiết
cho việc tổng hợp colagen, vì vậy Vit.C làm cho vết thương mau lành.
Vit.C có vị trí quan trọng trong quá trình hình thành các hoormon của
tuyến giáp trạng và tuyến trên thận.
Khi cơ thể thiếu Vit.C sẽ xuất hiện các triệu chứng bệnh lí như: chảy
máu ở lợi, răng, lỗ chân lông hoặc các cơ quan nội tạng. Đó là do thành các
mạch máu bị mỏng.
Cơ thể bình thường có nhu cầu Vit.C trong 24h là: 60÷80 mg
1.1.4. Các nguồn cung cấp Vit.C
Trong tự nhiên, thực vật tổng hợp được Vit.C, do đó Vit.C có nhiều
trong rau xanh đặc biệt là ớt và các loại rau cải, rau ngót….; Trong các loại
quả như: cam, chanh, bưởi, ổi, khế, táo, dưa hấu… không thấy xuất hiện
Vit.C trong các sản phẩm từ động vật như: thịt, trứng, sữa…
Một số cơ thể sống có khả năng tổng hợp vitamin C từ D-glucozo nhờ
tác dụng của enzim theo sơ đồ sau:
HOHC
H OH
HO
H
H
OH
O
H
CH 2OH
HOHC
H OH
HO
H
H
H
HO
O
OH O
[ O]
enzim
HO
H
O
OH
Ax it L- ascobic
Tạ Thị Liên
8
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
HO H
HO H
HO H
H
C
CH 2OH
CH 2OH
CH 2OH
CH 3
CH 2 O
D- Sobozo
D- glucozo
D- Sobitol
[ O]
HO C
O
HO C
H
HO H
CH 2OH
COOH
CO
CO
H+
T automehóa
- Nhóm các phương pháp phân tích hóa học
- Nhóm các phương pháp phân tích công cụ
1.2.1. Phƣơng pháp phân tích hóa học
Trong các phương pháp phân tích hóa học, phương pháp chuẩn độ oxi
hóa khử được sử dụng nhiều nhất, dựa vào tính chất dễ bị oxi hóa thành axit
Tạ Thị Liên
9
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
đehiđroascobic của axit ascobic. Để oxi hóa người ta sử dụng các thuốc thử
khác nhau như: 2,6-điclophenolindophenol, brom, iot, thuốc thử Feling…
2,6-điclophenoindophenol được coi như là thuốc thử chuẩn dùng để
chuẩn độ chính xác Vit.C một cách trực tiếp. Nó là một chất oxi hóa có màu
xanh đậm, có công thức phân tử là: C12H6Cl2NO2, max trong dung dịch nước
bằng 602 nm. Khi phản ứng với axit ascobic nó bị khử thành một hợp chất
không màu.
C6H8O6 – 2H+ - 2e C6H6O6
C12H7Cl2NO2 + 2H+ + 2e C12H9Cl2NO2
Người ta có thể theo dõi quá trình chuẩn độ bằng mắt, đo quang hay đo
điện thế.
Việc chuẩn độ axit ascobic thông thường được tiến hành bằng cách nhỏ
từ từ dung dịch thuốc thử từ buret vào dung dịch nghiên cứu chứa axit ascobic
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bão trong tất cả các
lĩnh vực của xã hội, những yêu cầu đặt ra cho ngành phân tích là phải nhanh,
chính xác, quy trình đơn giản, lượng mẫu tiêu thụ nhỏ, không những tiết kiệm
tiền của, công sức mà cả thời gian cho xã hội. Với sự hỗ trợ của các phương
pháp phân tích công cụ và những thiết bị hiện đại, việc xác định Vit.C cũng
đã đạt được những yêu cầu đó. Đặc biệt, quy trình phân tích nhanh và đa số
trường hợp không phải xử lí mẫu trước khi giảm thiểu được sự mất mát Vit.C
trong quá trình định lượng.
Các phương pháp phân tích công cụ có thể xác định Vit.C gồm nhóm
các phương pháp phân tích quang học và nhóm các phương pháp phân tích
điện hóa.
Trong đó hầu hết các phương pháp đều xác định Vit.C một cách gián
tiếp. Như đã trình bày, dung dịch Vit.C là không màu, do đó không thể cho tín
hiệu đo quang ở vùng khả kiến,vì vậy người ta thường dùng một tính chất nào
đó của Vit.C mà sự biến đổi nồng độ Vit.C sẽ gây ra tín hiệu quang biến đổi
tương ứng, cùng tăng hoặc cùng giảm theo hàm lượng Vit.C. Hay khi dùng
phương pháp hấp thụ nguyên tử, do Vit.C rất dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao
nên không thể cho tín hiệu trực tiếp trên máy AAS.
Để hỗ trợ thêm cho các phương pháp phát hiện Vit.C, các kỹ thuật tách
cũng được kết hợp để tăng độ chính xác, độ nhạy và độ chọn lọc của phương
pháp phân tích. Có thể kể đến các kỹ thuật sắc ký, gồm sắc ký khí (GC), sắc
ký lỏng cao áp (HPLC), kỹ thuật tiêm mẫu phân tích vào dòng chảy (FIA).
Tạ Thị Liên
11
K32C - Hoá học
Vit.C, nước ép hoa quả, các loại rượu hoa quả cho kết quả tốt.
Tạ Thị Liên
12
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Vit.C có khả năng phản ứng với nhiều chất oxi hóa khác nhau, do vậy
các tài liệu nghiên cứu xác định hàm lượng Vit.C bằng phương pháp phân tích
quang học rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên không tránh khỏi một phần
Vit.C có thể phản ứng với oxi không khí hay các chất khử khác cũng có thể
phản ứng với các chất oxi hóa đó.
1.2.2.2. Nhóm các phƣơng pháp phân tích điện hóa
1.2.2.2.1. Sơ lƣợc về các phƣơng pháp cực phổ và phƣơng pháp vôn ampe
Nguyên tắc của phương pháp
Nhóm các phương pháp phân tích cực phổ và vôn-ampe là những
phương pháp quan trọng nhất trong số các phương pháp phân tích điện hóa.
Các phương pháp này đều dựa trên lý thuyết về quá trình điện cực, phụ thuộc
chủ yếu vào việc đưa chất điện hoạt từ trong lòng dung dịch đến bề mặt điện
cực làm việc và ghi đường vôn-ampe (đường biểu diễn sự phụ thuộc cường
độ dòng Faraday vào giá trị thế củ điện cực làm việc so với điện cực so sánh).
Hình 1.1: sơ đồ thiết bị phân tích vôn-ampe
nghiệm. Giọt được hình thành rất nhanh và được giữ ở đầu mao quản trong
quá trình đo.
Ưu điểm của điện cực giọt Hg:
- Khoảng thế phân tích rộng, quá thế H2 trên điện cực giọt Hg lớn, vì
vậy mở rộng khoảng thế phân tích đến -1V (so với điện cực calomen bão hòa)
trong môi trường axit và đến -2V trong môi trường bazơ. Tuy nhiên do có quá
trình oxi hóa của Hg lỏng nên điện cực chỉ được sử dụng đến -0,3V hoặc 0,4V
(so với điện cực calomen bão hòa) tùy môi trường.
Tạ Thị Liên
14
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Bề mặt giọt luôn được đổi mới và không bị làm bẩn bởi sản phẩm của
phản ứng điện cực.
- Với các điện cực hiện đại, giọt Hg được điều khiển bởi hệ thống van
khí, do vậy độ lặp lại của giọt cao, tăng độ lặp, độ đúng và độ chính xác khi
phân tích.
- Kích thước giọt nhỏ nên lượng chất tiêu tốn khi phân tích là không
đáng kể, do đó sự giảm nồng độ trong quá trình phân tích do sự oxi hóa khử
trên điện cực thực tế là không xảy ra.
Điện cực so sánh
Thường hay sử dụng điện cực Ag/AgCl hay điện cực calomen bão hòa.
10-4 ÷ 10-6M
+ Cực phổ sóng vuông và xung vi phân
10-6 ÷ 10-8M
+ Vôn-ampe hòa tan anot điện cực giọt Hg treo
10-6 ÷ 10-9M
+ Vôn-ampe hòa tan anot dùng cực màng Hg
10-8 ÷ 10-10M
trên cực rắn đĩa
Có thể thấy các phương pháp phân tích điện hóa rất phong phú và đa
dạng. Phạm vi đối tượng nghiên cứu rộng, cả hợp chất vô cơ và hàng nghìn
hợp chất hữu cơ các loại. Trong đó Vit.C là một trong những hợp chất hữu cơ
được nghiên cứu ứng dụng theo nhiều cách khác nhau dưới lý thuyết của các
phương pháp phân tích điện hóa.
1.2.2.2.2. Ứng dụng các phƣơng pháp phân tích điện hóa xác định Vit.C
Phương pháp phân tích điện hóa được dùng chủ yếu là các phương
pháp phân tích cực phổ và phương pháp vôn-ampe. Trong đó việc sử dụng
điện cực Hg, đặc biệt là có sự hỗ trợ của thiết bị điện tử, kết nối với máy vi
tính tăng độ nhạy và độ chính xác của phép phân tích lên rất nhiều đồng thời
quy trình cho phép phân tích nhanh, không cần xử lý mẫu phức tạp, tránh
được sự mất mát Vit.C do sự oxi hóa không khí.
Trước năm 1950, phương pháp cực phổ cổ điển đã được áp dụng xác
định hàm lượng Vit.C trong nhiều mẫu thuốc, rau, quả. Nhiều công trình
nghiên cứu đã tìm được điều kiện thích hợp cho phép xác định Vit.C. Tuy
của Hg thì nó vẫn là điện cực tối ưu trong phương pháp cực phổ xác định các
chất hữu cơ. Tuy nhiên các hãng sản xuất cũng đã khắc phục tối đa nhược
điểm này, kích thước hạt nhỏ (đường kính < 1mm), nếu sử dụng giọt treo thì
khối lượng Hg cho phép đo là không đáng kể, có thể thu hồi được, ví dụ: một
giọt Hg ở thiết bị phân tích điện hóa đa năng VA757 của Metrohm có diện
tích bề mặt từ 0,15 ÷ 0,60 mm2.
Thế của axit ascobic trên điện cực Hg, trong điều kiện nền thích hợp
(so với điện cực Calomen bão hòa) cách khá xa thế khử của các ion kim loại
cũng như các vitamin và các hợp chất khác. Các vitamin A, D, B1, B2, B6,
B12, Bc đều có sóng cực phổ ở khoảng thế âm, từ -0,3V của vitamin B2
trong nền đệm Britton-Robinson pH =1,81 ÷ -2,01V của vitamin D2 trong
nền H2O:dioxan 1:9, TBAOHO 1M, còn thế của Vit.C là +0,23V trong nền
axetat 0,05M pH=3, NaNO3 0,01M. Thêm nữa, dùng kỹ thuật xung vi phân
(DDP), giúp cho việc xác định vị trí và chiều cao pic của Vit.C một cách rõ
ràng và chính xác. Điều này có nghĩa là có khả năng xác định trực tiếp Vit.C
trên điện cực giọt Hg mà không cần xử lý mẫu để loại những chất nền ảnh
Tạ Thị Liên
17
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
hưởng đến bản chất hóa học của phương pháp. Quy trình nhanh, chính xác,
khả năng phân tích hàng loạt là có thể đạt được. Vì vậy em chọn sử dụng điện
F: hằng số Faraday
S: diện tích bề mặt điện cực
C: nồng độ chất điện hoạt
D: hệ số khuếch tán
tx: thời gian một xung
σ = exp(n.F.∆E/(2RT))
(1.2)
P = exp[(nF/(RT))(E-E1/2+∆E/2)]
(1.3)
Tạ Thị Liên
18
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
∆E: biên độ xung
R: hằng số khí
T: nhiệt độ Kelvin
E1/2: thế bán sóng
Tại thế đỉnh pic, P=1 thì phương trình (1.1) còn lại là
1/ 2
Vì vậy để đạt được giá trị dòng lớn đồng thời W1/2 đủ nhỏ, thường đặt
biên độ xung khoảng từ 10÷100 mV.
Hình 1.2 so sánh sự giống và khác nhau về kỹ thuật biến đổi thế và kỹ
thuật ghi dòng giữa các phương pháp cực phổ cổ điển (DC), cực phổ xung
thường (NP) và cực phổ xung vi phân (DP). Thấy rõ ưu điểm của phương
pháp cực phổ xung vi phân từ việc phân tích sóng cực phổ có dạng pic là tăng
độ nhạy, tăng độ phân giải, độ chọn lọc.
Tạ Thị Liên
19
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Hình 1.2: Sơ đồ biểu diễn sự biến thiên thế theo thời gian và dạng sóng
cực phổ trong một số phƣơng pháp
(a) Thế biến thiên trong thời gian đo cực phổ
(b) Thế biến thiên trong 1 chu kì giọt, (▪: thời điểm ghi dòng)
(c) Sóng cực phổ
DC: Cực phổ cổ điển NP: Cực phổ xung thường DP: Cực phổ xung vi phân
Tạ Thị Liên
20
Tạ Thị Liên
21
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.2. CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu cơ bản
Trong bản khóa luận này, em tập trung nghiên cứu điều kiện tối ưu xác
định Vit.C trên cơ sở thiết bị, máy móc, hóa chất, môi trường phòng thí
nghiệm ở Việt Nam. Mục đích là xác định Vit.C trong các đối tượng thực tế
một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
Bảng 2.1: Chƣơng trình ghi sóng cực phổ của vit.C
Chế độ đo
DP
Dòng
100nA/10Ma
Điện cực
HMDE
6mV
Biên độ xung
50mV
Thời gian 1 xung
0,04s
Tốc độ quét
15mV/s
Giá trị pic
Tính theo độ cao
Tạ Thị Liên
22
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.2.1.1. Khảo sát tính chất cực phổ của Vit.C trong một số nền
tín hiệu cực phổ của axit ascobic trong các nền đệm, nhằm duy trì pH ổn định
trong suốt quá trình đo. Theo tài liệu nghiên cứu, ba loại đệm hay được dùng
trong phân tích các chất hữu cơ bằng phương pháp cực phổ là đệm xitrat +
hidrophotphat, đệm axetat và đệm photphat. Em tiến hành ghi sóng cực phổ
xung vi phân của axit ascobic trong ba nền như trên.
Chẩn bị dung dịch nền
Nền đệm xitrat + hidrophotphat
- Pha dung dịch axit xitric 0,1M (cân 10,500g axit xitric, hòa tan bằng
nước thành 500ml dung dịch).
- Pha dung dịch hidrophotphat 0,2M (cân 22,82g muối K2HPO4.3H2O,
hòa tan bằng nước thành 500ml dung dịch).
- Trộn hai dung dịch trên để được các dung dịch đệm có pH khác nhau
pH
V dd Axit xitric 0,1M(ml)
V dd hiđrophotphat 0,2M (ml)
3
20,55
79,45
5
51,5
48,5
99,5
0,95
6
87,9
12,1
7
38,8
61,2
8
3,1
96,9
Nền đệm axetat
- Pha dung dịch CH3COOH 0,2M: hút 7,5ml axit axetic, định mức
thành 500ml dung dịch.
- Pha dung dịch CH3COONa 0,2M: cân 8,203g nattri axetat hòa tan
vào nước, định mức thành 500ml dung dịch.
- Trộn hai dung dịch theo thể tích
pH
24
K32C - Hoá học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.2.1.2. Khảo sát ảnh hƣởng của oxi hòa tan
Đo đường cực phổ của dung dịch chứa Vit.C 2mg/l trong đệm axetat
0,2M, thời gian đuổi khí lần lượt là 3s, 30s, 60s, 90s, 120s, 150s. Chọn thời
gian đuổi khí khi pic của Vit.C đã ổn định.
2.2.1.3. Khảo sát pH của nền axetat
Để nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến pic của Vit.C. em chuẩn bị một
dãy dung dịch đệm axetat 0,1M có pH khác nhau bằng cách trộn hai dung
dịch axit axetic 0,1M và natri axetat 0,1M theo tỷ lệ thể tích (9,5 : 0,5), (8 : 2),
(5 : 5), (2 : 8), (0,5 : 9,5), đo pH của các dung dịch đó trên máy pH meter.
Tiến hành ghi đường cực phổ của Vit.C ở ba nồng độ 1, 2, 3 mg/l trong
các nền đã chẩn bị. Lặp lại 2 lần, chọn nền axetat có pH thích hợp cho các
phép đo tiếp sau.
2.2.1.4. Khảo sát nồng độ nền axetat
Để loại trừ dòng điện chuyển, nồng độ chất điện ly trơ trong dung dịch
phải lớn hơn nồng độ chất nghiên cứu khoảng 50 lần, khoảng nồng độ chất
phân tích đo bằng cực phổ tốt nhất theo tài liệu là 10-5 ÷ 10-4M, vậy nồng độ
điện ly trơ nên lớn hơn hoặc bằng 0,01M tương đương nồng độ nền axetat
(5:5) là 0,02M. Tuy nhiên thực tế nghiên cứu cho thấy cần nồng độ nền lớn
hơn , vì vậy em tiến hành khảo sát pic của Vit.C trong các dung dịch nền có
nồng độ khác nhau như sau: