Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phụ nữ là một nửa thế giới, họ chiếm một vị trí quan trọng trên mọi lĩnh
vƣ̣c của cuộ c sống. Xã hội càng hiện đại văn minh bao nhiêu thì vai trò của
ngƣời phụ nƣ̃ càng đƣợc đề cao bấy nhiêu . Ở Việt Nam cũng vậy , trải qua
hàng nghìn năm lịch sử ngƣời phụ nữ Việ t Nam đã đóng góp công sƣ́c , trí tuệ
và cả máu xƣơng cho sự nghiệp đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc.
Từ đó đã hun đúc nên những phẩm chất t
ruyền thống qu ý báu của dân tộc
Việt Nam : Cần cù , thông minh , sáng tạo trong lao động và sản
xuất, đảm
đang gánh vác việc gia đì nh , giƣ̃ gì n và phát huy t inh hoa văn hóa của dân
tộc, yêu nƣớc, quật cƣờng chống ngoại xâm. Chính vì thế mà phụ nữ đã đƣợc
nhà nƣớc và pháp luật bảo vệ về quyền lợi và nghĩ a vụ nhằm tạo cơ hội cho
họ phát huy năng lự c của mình vào sự nghiệp xây dƣ̣ng đất nƣớc giàu mạnh ,
văn minh. Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu rằng, trong xã hội phong kiến thì
phụ nữ bị khinh rẻ, họ không có một vị trí nào trong xã hội . Thân phận ngƣời
phụ nữ đƣợc Luật pháp thời đó ghi nhận nhƣ thế nào ? cũng có thể luật pháp
thể hiện nhƣ̃ng nội dung tiến bộ về ngƣời phụ nƣ̃ hoặc là những quy đị nh khắt
khe nhằm duy trì chế độ gia trƣởng và ràng buộc hạ t hấp thân phận ngƣời phụ
nƣ̃? Đó là một câu hỏi lớn cần đƣợc giải đáp thỏa đáng. Phụ nữ với luật pháp
là một vấn đề đƣợc nhiều ngƣời quan tâm,nhất là khi chúng ta đang trong thời
đại thƣ̣c hiện bình đẳng giới cho phụ nữ . Chính vì vậy tôi quyết đị nh chọn đề
nói chung , chƣa có công trình chuyên biệt về phụ nữ. Ở đề tài nay tôi xin đi
sâu nghiên cƣ́u vai trò , vị trí của ngƣời phụ n ữ trong xã hội phong kiế n đƣợc
pháp luật phản ánh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để hiểu rõ hơn thân phận , vai trò của ngƣời phụ nƣ̃ trong xã hội phong
kiến và sự ghi nhận của luật pháp phong kiến đối với thân phận của ngƣời phụ
nữ Việt Nam qua các thời kỳ có đặc biệt là khi to àn xã hội đang thực hiện sự
nghiệp giải phó ng ngƣời p hụ nữ khỏi nhƣng ràng buộc , đị nh kiến nhƣ̃ng tập
tục lạc hậu của xã hội cũ để lại .
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Phụ nữ Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Không gian: trên toàn đất nƣớc việt vam
Thời gian: tƣ̀ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận sử dụng các phƣơng phápluận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ
nghĩa duy vật biện chƣ́ng
Kết hợp sƣ̉ dụng phƣơng pháp lịch sử và logic , phƣơng pháp phân t ích
tổng hợp, so sánh để làm rõ vấn đề
pháp luật, vấn đề nhà n ƣớc và pháp luật phải đƣợc nhìn nhận dƣới lăng kí nh
kinh tế- giai cấp. Sự ra đời và tồn tại của pháp luật Việt Nam cũng nằm trong
quy luật ấy.
Luật pháp phong kiến Việt nam đƣợc manh nha hì nh thành cùng với
quá trình hình thành nhà nƣớc đầu tiên của nƣớc ta đó là nhà nƣớc Văn lang –
Âu lạc và tiếp tục phát triển ở các thời kỳ sau đó.
Tƣ̀ năm 179TCN đến đầ u thế kỷ X pháp luật Việt Nam hì nh thành
trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lƣợc của An Dƣơng Vƣơng thất
bại, Âu Lạc trở thành quận huyện của các nhà nƣớc phong kiến phƣơng Bắc
cho đến đầu thế kỷ X . Trong khoảng thời gian dài một nghì n năm ấy ; dân ta
đã không ngƣ̀ng nổi dậy đấu tranh
chống chí nh quyền đô hộ , một số cuộc
khởi nghĩ a giành thắng lợi, nhƣng kết quả đã không duy trì và giƣ̃ vƣ̃ng th ành
quả đƣợc bao lâu nhƣ khởi nghĩa Hai Bà Trƣng, khởi nghĩ a Lý Bí[13,21].
Dƣới sƣ̣ cai trị củ a bọn phong kiến phƣơng Bắc , pháp luật đƣợc thi
hành ở nƣớc ta lúc này là pháp luật của bọn đô hộ với mục đí ch là ràng buộc,
cƣỡng bƣ́c nhân dân ta tƣ̀ng bƣớc đồng hóa
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
4
ngƣời Việt . Tuy nhiên với tinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Sang thời Lý, cùng với sự phát triển và hoàn chỉnh của chính quyền
trung ƣơng nền pháp luật có bƣớc tiến lớn.Đó là việc ban hành một bộ luật
thành văn đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Bộ luật Hình Thƣ. Theo Phan
Huy Chú , Hình Thƣ là một bộ hoàn chỉnh gồm 3 quyển đƣợc xây dựng trên
cơ sở tiếp thu những thành tựu của hoạt động luật pháp thời kỳ dài trƣớc đó.
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
5
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bộ luật Hình Thƣ bảo vệ quyền lợi của nhà nƣớc trung ƣơng tập quyền và của
tầng lớp quý tộc quan liêu, củng cố chế độ đẳng cấp, bảo vệ chế độ ruộng đất
của giai cấp phong kiến.
Đến thời Trần, hoạt động pháp chế lại đƣợc tăng cƣờng hơn nữa. Nhà
Trần đã cho soạn bộ luật Hình Luật.
Luật pháp phát triển đến đỉnh cao vào thời Lê Sơ với sự ra đời của bộ
Quốc Triều hình luật. Bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền thống trị của nhà nƣớc
phong kiến đƣơng thời, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của nhà Vua và hoàng tộc,
quan lại, bảo vệ chế độ tƣ hữu và sự bất bình đẳng trong xã hội.
Thời Nguyễn pháp luật đƣợc chú ý phát triển cùng với sự ra đời của bộ
luật Gia Long. Về mặt nội dung đây là bộ luật phức tạp, điều chỉnh các quan
hệ xã hội thuộc về nhiều lĩnh vực khác nhau. Các điều khoản trong bộ luật
Gia Long đƣợc xây dựng dƣới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp
dụng các chế tài hình sự nhằm bảo vệ nền thống trị của nhà nƣớc quân chủ
chuyên chế, bảo vệ chế độ sở hữu phong kiến...
chủ và nhƣ̃ng ngƣời giàu có.
Ngoài ra pháp luật phong kiến còn bảo vệ những giá trị đạo đức, phong
tục tập tập quán của dân tộc.
Mặt khác sự tồn tại của pháp luật phong kiến thể hiện sự văn minh
trong cách quản lí xã hội, khắc phục đƣợc sự chuyên quyền của Vua và có giá
trị xã hội nhất định.
Đối với nhân dân lao động pháp luật phong kiến là một hình thức
cƣỡng chế của nhà nƣớc buộc mọi ngƣới phải làm theo. Pháp luật có tính chất
bắt buộc để hạn chế quyền lợi của nhân dân.
Tuy nhiên pháp luật phong kiến cũng có một số điều khoản mục đích
bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, cho phụ nữ...Đây là vai trò tích cực của pháp
luật phong kiến.
Nhìn chung pháp luật phong kiến có vai trò lớn nhất là bảo vệ quyền lợi
chính trị và kinh tế của Vua quan phong kiến đặc biệt là Vua, còn dân thƣờng
phải có nghĩa vụ phục tùng theo. Với vai trò này thì hẳn là các tầng lớp nhân
dân đƣợc phản ánh trong pháp luật phong kiến sẽ bị ràng buộc, hạn chế quyền
lợi của mình.
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
7
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.2. Các quan điểm của xã hội phong kiến về ngƣời phụ nữ
1.2.1. Quan điểm của giai cấp thống trị
Trong xã hội phong kiến giai cấp thống trị mà cụ thể là vua quan
8
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Sau khi Khổng Tƣ̉ mất Nho gia chia làm nhiều phái trong đố có phái
Tăng Tƣ̉ đƣợc coi là chí nh thống . Tăng Tƣ̉ lại mở trƣờ ng dạy học ở nƣớc Lỗ
và truyền học thuyết Nho Gia cho Tử Tƣ Tức Khổng Cấp , cháu đích tôn của
Khổng Tƣ̉ là Tƣ̉ Tƣ lại truyền học thuyết này cho Mạnh Tƣ̉ [11, 152].
Trong các học thuyết chí nh trị đạo đƣ́c ở Trung Quốc không
có học
thuyết nào sống lâu dài nhƣ Nho giáo . Nếu tí nh tƣ̀ thời Hán (thế kỷ II trƣớc
công nguyên ) thời độc tôn Nho học cho đến Cách mạng Tân Hợi (1911) thì
Nho giáo đã có vai trò thống trị xã hội Trung Quốc hơn 2000 năm. Trong hơn
2000 năm ấy , các triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp nhau đều xem
Nho học là cơ sở tƣ tƣởng của đạo trị nƣớc. Khi xã hội khủng hoảng, ngƣời ta
đều quy là nhà nƣớc quân chủ không sáng suốt, không có vua sáng tôi hiề n,
không đúng các nguyên lý và nguyên tắc của đạo Nho chƣ́ không phải do bản
thân đạo Nho [2, 267].
Nho giáo góp phần tạo ra thế ổn đị nh xã hội, chấm dƣ́t tì nh trạng chiến
tranh giƣ̃a các tập đoàn phong kiến tạo ra sƣ̣ thống nhất quốc gia đa dân tộc ,
hạn chế sự bóc lột tàn nhẫn của giai cấp thống trị cầm quyền[2;269].
Nho học và Nho giáo vào Việt Nam đã có một quá trì nh lâu dài , bằng
con đƣờng xâm lƣợc và giao l ƣu văn hóa, kinh tế giƣ̃a V iệt Nam và Trung
Quốc, trƣớc hết là côn g cụ của giai cấp thống trị Hán Đƣờng tiến hành đồng
lấy tất cả
mọi sự giáo dục trong phạm vi nhà , nhà c ủa mẹ hoặc nhà chồng mà thôi .
Thánh Khổng và các đại hiền Nhan, Tăng, Tƣ, Mạnh vv...trƣớc sau dạy đến
mấy nghì n ngƣời không có ai là nƣ̃ . Thánh hiền có coi phụ nữ ra gì đâu ! ở
nƣớc ta ngày trƣớc rất nhiều ng ƣời không biết chữ hán cũng hiểu rõ câu “phụ
nhân nan hóa‟‟. Nhƣ̃ng ngƣời hay chƣ̃ còn thí ch nhắc đi nhắc đi nhắc lại đầy
đủ câu “Tƣ̉ viết‟‟: “ Chỉ có con gái và kẻ tiểu nhân là kẻ khó nuôi dạy , gần họ
thì họ nhờn, xa họ thì họ hờn‟‟(Duy nƣ̃ tƣ̉ dƣ̃ tiểu nhân vi nan dƣỡng dã , cận
vi tắc bất tốn , viễn chi tắc oán - Luận ngƣ̃ , Thiên Dƣơng hóa). Phải chăng vì
thế mà nội dung giáo dục đối với phụ nƣ̃ quá nghiệt ngã ! Tƣ̀ đời này qua đời
khác ng ƣời ta cứ thêm thắ t mãi lên bao nhiêu sƣ̣ ràng buộc . Ngƣời phụ nƣ̃
không nhƣ̃ng suốt đời “Sƣ̣‟‟mà còn cƣ́ phải “Tùy‟‟
(phu xƣớng phụ tùy ) và
“Tùng‟‟(tùng phụ, tùng phu, tùng tử). Nhà đối với nam giới là gốc của nƣớc
và thiên hạ thì đối với nữ giới lại là ngục tối âm u cách li hẳn với bên ngoài .
Ngƣời đời cho dùng chƣ̃ “tề gia‟‟để nói công việc nội trợ của ngƣời phụ nƣ̃ là
không đúng . Các thánh hiền Khổng Khâu , Tăng Sâmvv ...dùng chữ ấy cho
nhƣ̃ng con ngƣời quân tƣ̉ có đƣ́c sáng trong thiên hạ đấy . Ngƣời phụ nƣ̃ chỉ là
ngƣời “tề gia nội trợ‟‟(nội trợ trong công việc tề gia) [4, 176-177].
Nguyên lý về mối quan hệ “sƣ̣‟‟ và “sƣ̉‟‟ trì nh bày ở trên không bao giờ
cho phép có tình trạng “cá đối bằng nhau‟‟ . Nhà lại không phải là một cộng
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
10
Nho giáo đời sau về việc xây dƣ̣ng “gia thất „‟ cho con gái . Cha mẹ đặt đâu
con ngồi đấy thế thôi. Nếu không còn cha mẹ th ì có chú , bác vậy. Cụ thể là
con gái chỉ biết vâng theo dù muốn hay không muốn . Phụ nữ thự c sƣ̣ bị ƣ́c
hiếp suốt đời. Làm con, làm vợ hay cả làm mẹ đều bị sự ức hiếp của nam giới ,
của lễ giáo và pháp luật[21, 182-183].
Chính vì cách đối xử nghiệt ngã của Nho giáo nhƣ thế đã dẫn đến sƣ̣
phẫn nộ của phụ nƣ̃ . Sƣ̣ phản ƣ́ng có ý thƣ́c hay là không có ý thƣ́c riêng của
“nƣ̃ nhân‟‟ đƣợc thể hiệ n qua ba nhân vật: “một ngƣời là vợ góa thiên tƣ̉ - Lƣ̃
hậu ở thời Tây hán‟‟ , Tây Thái Hậu nhà Thanh và Võ Tắc Thiên đời Đƣờng .
Cả ba ngƣời đều từ địa vị của mình tr ong nhà thiên tƣ̉ mà lên đia vị cao nhất
trong nƣớc và thiên hạ . Đến đây rồi, mỗi ngƣời bằng cách riêng của mình, đã
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
11
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
thi hành nhƣ̃ng thủ đoạn trả đũa thẳng thƣ̀ng đối với mày râu và lễ giáo thánh
hiền[21, 192].
Con ngƣời Việt Nam tiếp nhận đạo lý Khổng Mạnh một cách xuôi
chiều đơn giản hơn đã tạo ra những nét đặc đặc sắc
Nam. Nƣớc mất vùng lên giành lại chủ quyền
của truyền thống Việt
không chỉ là công việc riêng
bên trong “nƣ̃ nhân‟‟ những sƣ̣ ghen ghét , tranh giành, chèn ép lẫn nhau rất
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
12
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
khắc nghiệt gắn chặt với quyền thế , đị a vị của cha, của chồng và của con. Có
ngƣời đã biểu hiện lòng “hiếu thảo‟‟ và có “tiết hạnh‟‟ của mình vào việc góp
phần vào công danh , phú quý của cha , chồng và của con . Cô Kiều bán mì nh
cƣ́u cha là hiếu thảo, không biết đã có bao nhiêu ngƣời đã phải hiến mình để
cho cha, cho chồng hoặc con đƣợc “nên danh nên giá‟‟.
Có thể thấy rằng mặc , dù Nho giáo đã góp phần ổn định xã hội nhƣng
bên cạnh đó vẫn còn nhiều quy đị nh hạn chế sƣ̣ phát triển con ngƣời đặc biệt
là phụ nữ . Họ là những nạn nhân của xã hội , phải chịu mọi áp bức , khổ cƣ̣c,
không có một cơ hội nào để học tập, giao tiếp với bên ngoài.
Gia huấn là điểm đặc sắc trong văn hóa gia đì nh Nho giáo
. Các nƣớc
Đông Nam Á nhƣ Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,Việt Nam đều lấy gia
đì nh làm đơn vị cơ bản của xã hội . Theo quan niệm của nhà nho thì gia đì nh
và xã hội, nhà và nƣớc có quan hệ hữu cơ . Nƣớc có quốc pháp, nhà có gia lễ,
gia huấn bổ sung cho quốc pháp. Lễ sẽ giúp cho pháp thực thi có hiệu quả và
pháp phải dựa vào lễ để ổn định xã hội. Gia lễ, gia huấn ra đời do yêu cầu của
làm 5 bài ca quốc âm, bảo con trẻ trong nhà học thuộc hy vọng lời hay , ý đẹp
thấm vào chúng, cũng nhƣ lời dạy bảo của mẹ hiền‟‟.
Dƣ̣a th eo các quan hệ luân thƣờng đã đƣợc Nho giáo nhấn mạnh và đề
cao, các bản gia huấn tập trung giáo huấn về cách cƣ xử của của các quan hệ
cha mẹ - con cái, anh, chị - em, vợ - chồng. Trong đó chú trọng tới mối quan
hệ tƣơng đối phƣ́c tạp , tế nhị, liên quan rất lớn tới đời sống gia đì nh là quan
hệ mẹ chồng- nàng dâu, chị dâu- em chồng[2,185].
Quan hệ vợ chồng rất đƣợc các bản gia huấn chú ý
. Ngƣời viết gia
huấn đề cập tới nhiều vấn đề không chỉ mang tí nh ng uyên lý , mà còn nói tới
nhƣ̃ng góc cạnh rất cụ thể , sinh động, rất gần gũi với nhƣ̃ng diễn biến , nhƣ̃ng
nhu cầu rất đời thƣờng trong quan hệ vợ chồng
. Cảnh Phụ Châm coi việc
“chọn dâu‟‟, “kén rể‟‟là khởi đầu quan trọng để bàn về chuyện vợ chồng:
Tuổi khôn lớn hôn nhân trạch phối
Giàu đừng tham, khó cũng chớ nề
Dâu hiền rể thảo tì m về
Xem tông xem họ cả mê mà nhầm.
Gia huấn nói nhiều đến vai trò của ngƣời vợ trong việc đảm bảo hạnh
phúc gia đì nh. Họ nhấn mạnh trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc về mọi mặt
của vợ đối với chồng theo tinh thần “tòng phu‟‟:
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
14
nhận. Đồng thời gia huấn cũng khuyên họ nên coi đó là thƣờng tình và phải
biết thƣơng xót cho ngƣời thân phận hẩm hiu phải chịu cảnh lẽ mọn:
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
15
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Cũng da thịt cũng tai mắt thế
Kém số nên phẩm tạp hoa ôi
Nghĩ tình ăn gửi nằm ngoài
Ấm no nên xót đến ngƣời bơ vơ...
(Cảnh Phụ Châm)
Trong xã hội Nho giáo , ngƣời phụ nƣ̃ không đƣợc học hành, nhận thƣ́c
có phần bị hạn chế , luôn bị xem là đối tƣợng cần dạy dỗ
. Gia huấn giành
nhiều dung lƣợng nội dung để giáo huấn họ . Tuy việc giáo huấn này mang
đậm tinh thần “nam tôn nƣ̃ ty‟‟, không nhằm tì m kiếm hạnh phúc cá nhân cho
ngƣời phụ nƣ̃, mà lấy việc chịu đựng để êm ấm hòa thuận của gia đình làm
đầu. Tuy nhiên, trong bất cứ thế ứng xử nào ngƣời ta đều hết sức nhấn mạnh
vai trò của ngƣời phụ nữ trong việc đảm bảo hạnh phúc êm ấm gia đình, lúc
gia đình thuận buồm xuôi gió êm ả, phụ nữ cũng quan trọng nhƣng trong
những lúc sóng gió ập tới ngƣời phụ nữ càng quan trọng hơn. Trong trƣờng
hợp này Gia huấn khuyên:
con dâu phải:
Với dâu dạy bảo phải lời
Bắt khoan bắt nhặt biết ai cho vừa.
(Cảnh phụ châm)
Còn nàng dâu phải tuyệt đối coi mẹ chồng nhƣ mẹ đẻ để đối xử:
Dẫu nội ngoại hai bề cũng vậy
Đừng ảnh hoành bên ấy bên này
Cù lao hai đức cao dầy
Phải chăm hiếu kính đêm ngày khăng khăng
(Cảnh phụ châm)
Quan điểm của giai cấp thống trị đứng trên lập trƣờng phong kiến để
phán xét ngƣời phụ nữ, coi khinh phụ nữ, coi phụ nữ là lệ thuộc, phải phục
tùng nam giới, phục vụ cho cha, chồng, các đấng mày râu.
Những quan điểm của Nho giáo về ngƣời phụ nữ đƣợc xã hội phong
kiến Việt Nam tiếp thu và sử dụng để duy trì chế độ gia trƣởng trong xã hội.
Ngƣời phụ nữ chỉ biết thực hiên một cách ngoan ngoãn những quy định đó,
mà dù có phản kháng cũng không có kết quả gì chỉ làm cho họ bị khinh rẻ
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
17
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
hơn. Đây là cơ sở để hình thành những quy phạm pháp luật mang tính gia
trƣởng, coi rẻ và hà khắc đối với phụ nữ.
1.2.2. Quan điểm của nhân dân lao động
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chín thƣơng cô ở một mình
Mƣời thƣơng con mắt hữu tình với ai.
[16,45]
Đó là vẻ đẹp của ngƣời con gái với mái tóc dài, hàm răng đen, có đôi
má lúm đồng tiền đi cùng với nón quai thao và cử chỉ ăn nói nết na, dịu dàng.
Với vẻ đẹp đó của ngƣời phụ nữ lẽ ra sẽ đƣợc các đấng mày dâu thƣơng yêu,
che trở suốt đời nhƣng cuộc đời đâu có giành cho họ sự ƣu ái nhƣ vậy chứ!
Thân phận của ngƣời phụ nữ trôi nổi, bấp bênh giữa dòng đời không biết
mình sẽ đi đâu về đâu, hoàn toàn phụ thuộc vào ngƣời khác:
Thân em nhƣ tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
[16, 16]
Hoặc thân phận ngƣời phụ nữ đƣợc ví nhƣ:
Thân em nhƣ hạt mƣa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vƣờn hoa
Thân em nhƣ hạt mƣa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.
Đã là hạt mƣa rào, hạt mƣa sa thì rơi không có chủ đích mà tùy thuộc
vào số phận may rủi mà thôi. Ngƣời con gái may mắn sẽ đƣợc rơi vào vƣờn
hoa, đài các – là nơi mà họ đƣợc hƣởng cuộc sống hạnh phúc, sung túc bên
gia đình nhà chồng. Còn những cô gái phận bạc, hẩm hiu hơn thì sẽ rơi xuống
giếng, ruộng cày cả đời phải chịu tủi nhục, cực khổ. Bằng cách so sánh, ví
von rất điển hình chúng ta hiểu đƣợc số phận của ngƣời phụ nữ thật lênh
đênh, mong manh giữa sƣớng và khổ, giữa hạnh phúc và bất hạnh, họ không
quyết định đƣợc cuộc sống của mình mà do điều kiện khách quan chi phối.
Khi ngƣời con gái chƣa lập gia đình thì luôn hy vọng, ƣớc ao có một
xử đó là sự chênh lệch giữa cô và ngƣời chồng. Sự chênh lệch về tuổi tác,
hình thức, quan niệm dẫn đến sự bất hạnh của cô gái. Nhƣng xã hội phong
kiến với sự tiếp thu Nho giáo đã cho cha mẹ cái quyền quyết định chuyện hôn
nhân của con cái thì dẫu cô gái có phản đối cũng phải nghe theo sự sắp đặt
của cha mẹ mà thôi cho dù trong lòng cô đã có ngƣời khác:
Đôi ta nhƣ đũa nòng nòng
Đẹp duyên nhƣng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta làm bạn thong dong
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
20
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nhƣ đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chƣng thầy mẹ nói ngang
Để cho đũa ngọc mâm vàng cách xa.
[16,24]
Bài ca dao đã phản ánh câu chuyện tình duyên của đôi trai gái yêu nhau
trong xã hội phong kiến. Mặc dù họ xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp nhƣng
do sự phản đối của cha mẹ nên dù có yêu nhau cũng không đến đƣợc với
nhau.
Nhiều trƣờng hợp do cha mẹ ép duyên mà các cô gái trẻ phải lấy chồng
già:
Con gái lấy phải chồng già
Ra đƣờng ngƣời hỏi rằng cha hay chồng
Một trăm hòn ngọc hai mƣơi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đƣa dâu.
[19,370]
Nhà gái đòi hỏi lễ cƣới phải có lụa đào, ngọc trai, tráp vàng, tráp bạc,
xe tứ mã nhƣ vậy thì chỉ có công tử con nhà quan lại hoặc nhà thật giàu mới
có đủ xính lễ để lấy vợ. Con đối với nhà bình thƣờng thì cả đời cũng không
lấy vợ đƣợc. Trong trƣờng hợp này nếu đôi trai gái yêu nhau cũng không thể
kết duyên cùng nhau. Đúng là con gái dù nhà giàu hay nghèo cũng đều phải
chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, nghèo thì khổ về vật chất, còn giàu
thì thì khổ về lễ giáo phong kiến.
Đối với ngƣời con gái chƣa lấy chồng thì nhƣ vậy, còn khi đã lập gia
đình rồi phải hết lòng vì gia đình nhà chồng, vì chồng mà sống:
Có chồng nhƣ ngựa có cƣơng
Đắng cay cũng chịu vui thƣơng cũng nhờ.
*
*
*
*
*
*
Chồng ta áo rách ta thƣơng
vào số phận, vào may rủi, vào cha mẹ lại còn phải chịu bao thiệt thòi của cảnh
làm lẽ ngƣời ta do sự tồn tại chế độ đa thê. Thật là quá bất công khi ngƣời con
gái trong đời chỉ đƣợc lấy duy nhất một ngƣời chồng thì đàn ông có thể “năm
thê bảy thiếp‟‟:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy, đi cày chị chẳng kể công
Đến tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không một mình
Đến sáng chị gọi: Bớ hai
Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo
Vì chƣng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.
[19,408-409]
Thân phận làm lẽ thì phải chịu bao nhiêu hờn tủi, ban ngày làm đủ mọi
công việc trong gia đình: cày cấy, thái khoai, băm bèo; khi đêm đến vợ cả cho
năm nhà ngoài cô đơn một mình. Lúc này ngƣời phụ nữ chỉ biết trách phận
mình nghèo nên mới ra nông nỗi này. Chính vì thế ca dao đã có lời khuyên:
Chớ tham ngồi mũi thuyền rồng
Tuy rằng tốt đẹp nhƣng chồng ngƣời ta
Nguyễn Thị Nga – K32A - Sử
23
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chớ tham vóc lĩnh trừu hoa
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
suốt đời mà giữu danh giá cho gia đình. Tình cảnh đi không nỡ ở chẳng xong
thật khó xử cho cô dâu để vẹn cả đôi đƣờng.
Nhân dân lao động không chỉ đƣa ra những quan điểm bênh vực những
ngƣời phụ nữ nết na, truyền thống phải chịu cay đắng, tủi hờn mà còn lên án
những tật xấu của các cô gái:
Cô kia má tựa hòn than
Nằm đâu ngủ đấy lại toan chê chồng
Chê chồng chẳng bõ chồng chê
Chê chồng thì ít chồng chê thì nhiều.
[19, 404]
Đó là những thói hƣ nhƣ chê chồng, nằm đâu ngủ đấy. Nhƣ bài ca dao
sau là cách ví von hài hƣớc của ngƣời chồng khi nói về vợ mình:
Lỗ mũi mƣời tám cái lông
Chồng yêu chồng bảo: “Râu rồng trời cho‟‟
Đêm nằm thì ngáy o o ...
Chồng yêu chồng bảo: “Ngáy cho vui nhà‟‟
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo: “Về nhà đỡ cơm‟‟
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo: “Hoa thơm rắc đầu‟‟.
[ 19, 417]
Không chỉ có vậy mà nhiều ngƣời phụ nữ còn có tính lẳng lơ:
Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tƣởng nhớ ông láng giềng
Tuy nhiên những tật xấu đó chỉ có ở một số phụ nữ chứ không phải là