Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn thị xã Cửa Lò tỉnh nghệ an - Pdf 31

bộ giáo dục và đào tạo
trờng đạI học nông nghiệp I

Hoàng Thị KHánh Duyên

Đánh giá thực trạng và đề xuất
sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
trên địa bàn thị x Cửa Lò - tỉnh nghệ an

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 4.01.03

Ngời hớng dẫn khoa học: tS. Nguyễn quang học

Hà Nội - 2006


Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và cha hề đợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đợc chỉ
rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Khánh Duyên

i

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

v

Danh mục bảng

vi

Danh mục biểu đồ

vii

1. Mở đầu

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1



3.1. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

38

3.2. Nội dung nghiên cứu

38

3.3. Phơng pháp nghiên cứu

39

4. Kết quả nghiên cứu

42

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Cửa Lò

42

4.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên và cảnh quan môi trờng

42

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

52

iii

4.4. Đề xuất hớng sử dụng đất nông nghiệp toàn thị xã

88

4.4.1. Các căn cứ đề xuất sử dụng đất nông nghiệp

88

4.4.2 Nội dung đề xuất sử dụng đất nông nghiệp

91

4.4.3. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

98

5. Kết luận và đề nghị

103

5.1. Kết luận

103

5.2. Kiến nghị

104

Tài liệu tham khảo
Phụ lục

4.

GTSX

Giá trị sản xuất

5.

CPTG

Chi phí trung gian

6.

ĐX

Đông xuân

7.

ĐVT

Đơn vị tính

8.



Lao động


14.

GIS

Hệ thống thông tin địa lý

15.

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

16.

BQ

Bình quân

17.

USD

Đơn vị tiền tệ mỹ

18.

LN

Lâu năm


68

Bảng 4.7. Hiện trạng hệ thống trồng trọt trên địa bàn Nghi Hòa

69

Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính xã Nghi Thu

73

Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính xã Nghi Hơng

74

Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính phờng Nghi Hòa

75

Bảng 4.11. Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính ở Cửa Lò

76

Bảng 4.12. Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất xã Nghi Thu

77

Bảng 4.13. Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất chính
xã Nghi Hơng

78

Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1. Bình quân đất nông nghiệp (m2)/ngời ở Việt Nam
từ năm 1990 - 2005

6

Biểu đồ 4.1. Diễn biến nhiệt độ trung bình trong năm

44

Biểu đồ 4.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo giai đoạn 1995- 2005

58

Biểu đồ 4.3. Biến động tình hình sử dụng đất trong giai đoạn 1995 - 2005

63

Biểu đồ 4.4. Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 của thị xã Cửa Lò

63

Biểu đồ 4.5. Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất ở Cửa Lò

82

vii


1. Mở đầu

Thị xã Cửa Lò với lợi thế là có bãi biển dài, cảnh quan tơi đẹp, môi
trờng trong lành, hiện đang đợc khai thác mang lại lợi ích kinh tế rất lớn
cho địa phơng. Theo báo cáo thống kê của UBND thị xã về tình hình du lịch
trong những năm gần đây số lợng khách đến nghỉ tại địa phơng ngày càng
tăng. Đặc biệt vào những ngày nghỉ trong dịp hè, số lợng khách lu trú tăng
nhanh, thậm chí vợt quá sức chứa của các nhà nghỉ khách sạn ven bãi tắm. Với
tình hình phát triển kinh tế nh hiện nay thì trong một thời gian rất ngắn nữa
Cửa Lò sẽ là một trung tâm kinh tế quan trọng số một của Nghệ An và kết quả
tất yếu là sự mở rộng đô thị hóa, sự chuyển dịch kinh tế, chuyển mục đích sử
dụng đất ngày càng cao sẽ làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm một cách
nhanh chóng. Tuy nhiên, với mặt bằng và cơ sở hạ tầng hiện nay của thị xã Cửa
Lò chỉ mới đáp ứng đợc khách du lịch đến tắm biển và nghỉ ngơi ngắn ngày
vào các tháng mùa hè. Trong những thời gian còn lại chính quyền và nhân dân
nơi đây cha khai thác đợc thế mạnh về điều kiện tự nhiên nằm trên vùng nông
nghiệp với rất nhiều hoạt động canh tác truyền thống đại diện cho vùng đất cát
ven biển. Lợi ích lâu dài của hệ canh tác này là ngoài chức năng sản xuất lơng
thực, thực phẩm còn có chức năng phục vụ thăm quan học tập cho khách du lịch.
Chính vì vậy việc mở rộng hoạt động du lịch và quản lý phát triển thị xã
theo định hớng đô thị kiểu mới - đô thị sinh thái học là một hớng đi thích
hợp nhất cho bối cảnh ngày nay vì vừa quản lý đợc xu thế đô thị hóa, vừa khai
thác đợc lợi thế nông nghiệp truyền thống của địa phơng. Đây sẽ là một hình
thức hấp dẫn khách và lu khách lâu hơn, đặc biệt là khách nớc ngoài thông
qua các hoạt động du lịch có đặc trng theo văn hóa bản địa. Đó không chỉ là
định hớng phát triển của Cửa Lò mà còn là chiến lợc chung cho du lịch Việt Nam.
Theo nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc, các hệ canh tác
truyền thống có nhiều u điểm nhng cũng chứa đựng nhiều tồn tại là cha phát
huy đợc hết các lợi thế của vùng. Vì lẽ đó loại hình du lịch trên cát biển Cửa
Lò ra đời với hai chức năng là du lịch nghỉ ngơi dài ngày và hình thành loại
hình thăm quan học tập. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa sự bảo tồn hoạt


- Các giải pháp đề xuất phải hợp lý và có tính thực thi.

3


2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1. Tình hình nghiên cứu đánh giá và bố trí sử dụng
đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1. Khái quát về đất nông nghiệp
Đất nông nghịêp là đất đợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp nh trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu
thí nghiệm về nông nghiệp. Theo Luật đất đai 2003 trong phân loại đất thì
đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây "đất trồng cây hàng năm, đất
trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hỗ, đất rừng đặc dụng,
đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác" [16].
Theo báo cáo của World Bank [37], cho đến cuối thế kỷ XX vẫn còn
1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị nạn đói đe dọa, hàng năm mức sản xuất so
với yêu cầu sử dụng lơng thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong
khi đó vẫn có từ 6 - 7 triệu héc- ta đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn.
Trong 1200 triệu ha đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả
năng sản xuất do sử dụng không hợp lý.
Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích trồng trọt trên toàn thế giới
còn khoảng gần 15 tỷ ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên trái đất,
trong đó có khoảng 973 triệu ha là đất vùng núi [38]. Trong 1.200 triệu ha
đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất do sử
dụng đất không hợp lý.
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.348,12 ha trong đó đất
nông nghiệp chỉ có 9.415.568,0 ha, đất lâm nghiệp có 14.677.409,10 ha [5],
dân số là 83.121,0 triệu ngời, bình quân diện tích đất nông nghiệp là

nghiệp (ha)

nghiệp (ha)

ngời)

(m2)/ngời

(m2)/ngòi

1990

6.993.241

9.395.194

66.233,3

1.055,8

1.418,5

1991

7.007.874

9.617.971

67.774,1


7.367.207

9.915.092

72.509,5

1.016,0

1.367,4

1995

7.993.748

10.795.527

73.962,4

1.080,8

1.459,5

1996

8.104.241

10.935.362

75.355,2


8.816.423

10.915.600

76.985,6

1.145,2

1.417,8

2000

9.345.346

11.575.429

77.685,2

1.203,0

1.490,0

2001

9.292.529

11.823.749

78.685,8


9.415.568

14.677.409

83.121,0

1.132,75

1.765,78

Năm

[Nguồn: Dẫn theo [1], [5]]

5

Bình quân đất Bình quân đất


Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 1990- 2005 tăng dần từ
6.993.241 ha lên 9.415.568,0 ha, trong giai đoạn này diện tích đất nông
nghiệp tăng do những vùng đất có khả năng khai thác sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp còn rất nhiều nên ngời dân đã tích cực khai hoang mở
rộng diện tích đất nông nghiệp, từ năm 2001 đến nay diện tích đất có khả
năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp còn không nhiều, mặt khác do quá
trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ nên một phần không nhỏ diện tích đất
nông nghiệp đã chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác nh xây dựng
các khu công nghiệp, khu dân c, cơ sở hạ tầng...do đó trong giai đoạn này
diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng kể.

nhng chủ yếu là rừng trồng, diện tích rừng phòng hỗ và rừng đặc dụng
còn không nhiều.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp trên
thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu
trớc mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học trên thế giới. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc
đánh giá hiệu quả của từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại
đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai
thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng.
Theo Macdicken K.G Vergara N.T (dẫn theo Đoàn Công Quỳ, 2001)
[19] nông - lâm nghiệp kết hợp là phơng thức sử dụng đất đã đợc áp dụng
hàng ngàn năm trên thế giới. Nền nông nghiệp "chặt -đốt" ra đời vào khoảng
7000 năm trớc công nguyên. Sự cần thiết phải tăng cờng phát triển nông lâm kết hợp đã đợc xác nhận trở lại nhiều hơn trong những năm trở lại đây.
Trong gần 50 năm qua, tiến bộ khoa học kỹ thuật đang đợc ứng dụng rỗng
rãi trong sản xuất nông - lâm nghiệp, sự phát triển đó đã nâng cao hiệu quả
nhiều mặt trong sản xuất. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chơng trình

7


môi trờng Liên Hợp Quốc cho rằng: nhiều nớc trên thế giới sử dụng đất
bằng các biện pháp truyền thống đang nhanh chóng bị lãng quyên, dẫn đến
xuống cấp của môi trờng và đất đai.
Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, đánh giá khả năng sử dụng đất
đợc xem nh là bớc nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm
đất. Xuất phát từ nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phơng pháp đánh
giá đất đợc nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới và các tổ chức quốc tế
quan tâm, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan
trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, ngời hoạch định chính

Bùi Quang Toản và cộng sự (1995) [21] đã cho biết Liên xô cũ và các
nớc Đông Âu từ những thập niên 60 của thế kỷ XX việc phân hạng và đánh
giá đất đai cũng đợc thực hiện, bao gồm 3 bớc nh sau:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhỡng (so sánh các loại thổ nhỡng theo tính
chất tự nhiên).
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (đợc xem xét kết hợp với
yếu tố khí hậu, độ ẩm, địa hình...).
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng xuất hiện của đất
đai) phơng pháp này thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối
tợng đất đai, cha xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế xã hội của việc sử
dụng đất đai.
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đánh giá đất
thấy rằng cần thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai quốc tế. Do
đó hai ủy ban nghiên cứu quốc tế do FAO chủ trì đã xây dựng dự thảo đầu
tiên về đánh giá đất (FAO 1972). Đến năm 1975 FAO đã chính thức cho
xuất bản đề cơng đánh giá đất đai theo FAO "A Framework For Land
Evaluation", sau đó đợc điều chỉnh, bổ sung năm 1983 (dẫn theo Nguyễn
Quang Học, 2001 [11]. Bên cạnh những tài liệu tổng quát, một số hớng dẫn
cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tợng nh:
- Đánh gía đất đai cho nền nông nghiệp nhờ ma (Land Evaluation For

9


Rainfed Agiculture,1984).
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tới (Land Evaluation For
irrigated Agiculture).
- Đánh giá đất đai cho sự phát triển(Land Evaluation For
Development).
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác để quy hoạch sử

hạng điền (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền, tam đẳng điền và tứ đẳng điền) nhằm
phục vụ cho chính sách quản điền và tô thuế. Trong thời kỳ thống trị của thực
dân Pháp, việc nghiên cứu đánh giá đất đã đợc tiến hành ở những vùng đất đai
phì nhiêu, những vùng đất có khả năng khai phá với mục đích xác định tiềm
năng sử dụng để lựa chọn đất lập đồn điền, tiêu biểu là một số công trình của
Yves Henry (1931), Castagnol E.M (1959,1952), Smith (1951 ) [19].
Trong giai đoạn 1954- 1975, ở Miền Nam đã có một số công trình
nghiên cứu về đất của Moorman F.R (1958 - 1960), Thái Công Tụng,
Moorman F.R (1958), Trơng Đình Phú (1960 - 1961)...các công trình
nghiên cứu trên đã xác định đợc hầu hết các loại đất chính phân bố trên địa
bàn Miền Nam (nguồn gốc phát sinh, tính chất lý học, hiện trạng và khả
năng sử dụng đất). ở Miền Bắc các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành
điều tra về đất và xây dựng bản đồ thổ nhỡng toàn quốc tỷ lệ 1:1.000.000.
Một số công trình nghiên cứu cơ bản về đất đã đợc công bố nh Frinland
VM với "Một số kết quả nghiên cứu bớc đầu về đất Miền Bắc" (1962). Vũ
Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phan Gia Tụ với "Những loại đất chính Miền Bắc
Việt Nam", Tôn Thất Chiểu với "Tổng quan về điều tra phân loại đất Việt
Nam" [19].
Từ đầu những năm 70, vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng
vụ, gối vụ, xen canh nhằm sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu đợc
nhiều tác giả đề cập nh Bùi Huy Giáp (1974), Ngô Thế Dân (1982), Vũ
Tuyên Hoàng (1978), Bùi Quang Toản và một số cán bộ khoa học viện thổ
nhỡng nông hóa đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân
hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã (HTX) và 9 vùng chuyên canh. Các kết

11


quả nghiên cứu bớc đầu đã phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản
xuất. Từ kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân

Chiểu, 1992), "Chiến lợc sử dụng đất, bảo vệ, bồi dỡng đất đai và môi
trờng' (Nguyễn Vy, 1992).
Năm 1995, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức hội thảo
quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh
thái, phát triển bền vững. Hội nghị đã tổng kết đánh giá việc ứng dụng quy
trình đánh giá đất của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu để sử dụng kết quả đánh giá đất vào công tác quy hoach
sử dụng đất có hiệu quả. Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất
đai để thấy tiềm năng đa dạng hóa của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa
chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng
đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn.
Đánh giá đất của FAO gồm 9 bớc đợc vận dụng trong đánh giá đất đai
từ các địa phơng đến các vùng sinh thái lớn có đóng góp rất nhiều của các
nhà nghiên cứu nh:
- Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc có Lê Duy Thớc (1992),
Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995), các tác giả có những nhận định
tổng quát về quỹ đất của vùng .
- Vùng đồng bằng Sông Hồng với những công trình nghiên cứu của các
tác giả Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình,
Nguyễn Đình Hà (1992 - 1993); Đỗ Nguyên Hải (1999). Trong chơng trình
nghiên cứu vận dụng phơng pháp đánh giá đất của FAO thực hiện trên bản
đồ tỷ lệ 1:250.000 cho phép đánh giá mức độ tổng hợp phục vụ quy hoạch
tổng thể vùng đồng bằng Sông Hồng.
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nguyễn Văn Nhân (1996) [18] đã
ứng dụng kỹ thuật GIS vào việc đánh giá đất thích hợp của FAO trên phạm vi
toàn vùng với diện tích 3,9 triệu ha. Kết quả đánh giá đã xác định đợc 25
loại hình sử dụng đất nông nghiệp, 3 loại hình sử dụng đất lâm nghiệp và 1
loại hình thủy sản và phân lập đợc 57 hệ thống sử dụng đất trên 6 tiểu

13


14


nghiệp ở 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy - Quảng Bình. Các công trình
nghiên cứu tập trung đánh giá tiềm năng đất đai, phân tích hệ thống cây
trồng hiện đại, xác định khả năng thích nghi của đất đai cho các loại hình sử
dụng đất, đề xuất phơng án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm đất
đai, các yếu tố kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trờng.
Năm 1995, tổng cục địa chính đã xây dựng "Dự án đánh giá đất cấp
huyện", chọn một số huyện đại diện cho các vùng kinh tế tự nhiên (Miền núi
và trung du phía bắc, đồng bằng Sông Hồng, khu IV cũ, ven biển miền Trung
và đồng bằng sông Cửu Long). Có thể nhận thấy các nghiên cứu sâu về đất
và sử dụng đất đây là cơ sở cần thiết cho việc định hớng sử dụng đất và bảo
vệ tài nguyên đất thời kỳ tiếp theo.
Cả nớc hiện có 24.822.560 ha đất nông nghiệp chiếm 75,06% tổng diện
tích tự nhiên, bình quân 0,3 ha/ngời và 0,68 ha/lao động nông nghiệp, trong
đó vùng Bắc Trung Bộ là 3.970.700 ha chiếm 16% [5]. Sau 5 năm thực hiện
kế hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn có bớc chuyển dịch tích cực. Tuy một bộ phận diện tích gieo
trồng lúa đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây khác có giá trị hơn
nhng năng suất, sản lợng lúa vẫn tăng, an ninh lơng thực đợc đảm bảo.
Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh theo nhu cầu thị
trờng, hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công
nghiệp chế biến. Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển với tốc độ cao để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng về thịt, trứng, sữa trong nớc đang tăng nhanh. Công
nghiệp chế biến nông lâm, sản và ngành nghề nông thôn có bớc phát triển
tích cực nhất là về chế biến hải sản. Tốc độ tăng trởng nông lâm nghiệp
bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 3,6%/năm, sản xuất lúa 35,9 triệu tấn,
sản xuất ngô 3,45 triệu tấn. Xuất khẩu hàng năm nông lâm, thủy sản đạt 29,5

Theo Đờng Hồng Dật (1994) [7] trong quá trình phát triển nông nghiệp,
mỗi nớc chịu ảnh hỏng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác
nhau nhng đều phải giải quyết các vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao năng suất, chất lợng nông sản, nâng cao hiệu

16


quả đầu t trong nông nghiệp.
- Mức độ và phơng thức đầu t vốn, lao động, khoa học vào quá trình
phát triển nông nghiệp. Chiều hớng chung là phấn đấu giảm lao động chân
tay, đầu t nhiều lao động trí óc, tăng cờng hiệu quả của lao động quản lý
và tổ chức.
Từ những vấn đề chung trên mỗi nớc lại có chiến lợc phát triển nông
nghiệp khác nhau, có thể chia thành 2 hớng chính:
- Nông nghiệp công nghiệp hóa: Hớng này đặt trọng tâm chủ yếu dựa
vào các yếu tố vật t, kỹ thuật, hóa chất và các sản phẩm khác của công
nghiệp. Theo hớng này đã có những công trình nghiên cứu "Mô hình hóa
sản xuất", "Chơng trình hóa năng suất cây trồng".
- Nông nghiệp sinh thái: Hớng này nhấn mạnh các yếu tố sinh thái, các
yếu tố tự nhiên, làm nổi bật lên đối tợng sản xuất trong nông nghiệp là các
loại sinh vật, đồng thời có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự
nhiên. Tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp nông nghiệp sinh thái không đảm
bảo hiệu quả cao và ổn định. Gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền
nông nghiệp bền vững, đó là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là
sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trờng sinh thái, đảm
bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững.
Trong thực tế, nông nghiệp phát triển theo dạng tổng hợp, các xu hớng
đan xen nhau. Cụ thể:
- Vào những năm 60, các nớc đang phát triển ở Châu á, Mỹ La Tinh đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status