ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--
Nguyễn Hồ ng Nhung
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƢỢNG
BẢN SAO ADN TI THỂ Ở BỆNH NHÂN
UNG THƢ VÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội-2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--
Nguyễn Hồ ng Nhung
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƢỢNG
BẢN SAO ADN TI THỂ Ở BỆNH NHÂN
UNG THƢ VÚ
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bố , Mẹ người đã v ất vả nuôi con khôn
lớn và dạy con những bài học làm người đầ u tiên
, con cảm ơn ông bà, cô
chú…những người thân của con, những người luôn dành tình cảm và những lời
động viên con.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn bè của tôi , những người luôn ủng hộ và
giúp đỡ tôi.
Hà Nội, tháng 8 năm 2015
Học viên
Nguyễn Hồng Nhung
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADN
Acid Deoxyribonucleic
APS
Ammonium persulfate
ARN
Acid Ribonucleic
ATP
Adenosine Triphosphate
lỏng
hiệu
năng
cao
(High-performance
liquid
chromatography)
MT/mt
Mitochondria (ti thể)
mtADN
ADN ti thể (mitochondrial DNA)
nADN
ADN nhân (nuclear DNA)
PCR
Phản ứng chuỗi trùng hợp (polymerase chain reaction)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1
Các hóa chất chính sử dụng cho nghiên cứu
Bảng 2
Thành phần hóa chất chạy HPLC
Bảng 3
Thành phần phản ứng PCR
Bảng 4
Thành phần phản ứng PCR thể tích 15 µl
Bảng 5
Công thƣ́c đổ gel polyacrylamide 10% bản 7cm
Bảng 6
Bảng 7
Bảng 8
Bảng 9
Chƣơng trình chạy HPLC
Hình 4
Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR nhân đoạn gen mt và ACTB
Hình ảnh điện di ADN t ổng số tách chiết t ừ mô vú của bê ̣nh nhân
Hình 5
ung thƣ vú (điê ̣n di trên gel agarose
0,8% và nhuộm ethidium
bromide)
Hình 6
Hình 7
Hình 8
Hình 9
Hình 10
Kết quả phân tích HPLC với ADN chuẩn 100_200bp và
200_400bp
Hình ảnh điện di s
ản phẩm PCR đoạn mt và ACTB trên gel
agarose 1,7%
Hình ảnh điện di s ản phẩm PCR đa mồi ở các chu kì khác nhau
trên gel polyacrylamide 10%, nhuộm bạc
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR đa mồi mt_ACTB ở 28 chu kì của
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB ở các loại mẫu
Hình 18
Hình 19
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo nhóm tuổi ở bệnh nhân ung
thƣ vú.
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo kích thƣớc khối u ở bệnh
nhân ung thƣ vú
Hình 20
Hình 21
Hình ảnh bản gel khi phân tích bằng phầm mềm ImageJ
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo loại mẫu phân tích bằng
phƣơng pháp ImageJ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN
3
14
1.3.
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƢỢNG BẢN SAO ADN TI THỂ
Ở BỆNH NHÂN UNG THƢ VÚ
1.4.
CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐỊNH LƢỢNG ADN TI THỂ
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG
15
16
19
19
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu
19
2.1.2. Hóa chất
19
2.1.3. Dụng cụ
20
PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH IMAGEJ
36
KẾT LUẬN
52
KIẾN NGHỊ
53
PHỤ LỤC
60
MỞ ĐẦU
Ti thể là bào quan quan trọng trong tế bào nhân chuẩn có vai trò chính tạo ra
năng lƣợng thông qua hô hấp hiếu khí, là nơi hình thành và đích đến của các gốc
oxy tự do (ROS) tác nhân gây ung thƣ. Mỗi tế bào có nhiều bản sao của ti thể, có
thể tới hàng trăm bản sao, tuy nhiên số lƣợng ADN ti thể (mtADN) tƣơng đối ổn
định trong các tế bào trong điều kiện sinh lý. Những thay đổi trong mtADN về cấu
trúc, hay số lƣợng bản sao mtADN có thể đóng vai trò trực tiếp là tác nhân gây ung
thƣ. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự thay đổi số lƣợng bản sao mtADN có liên
quan đến hình thành và tiến triển của nhiều loại ung thƣ nhƣ ung thƣ hạch bạch
huyết (Non-Hodgkin lymphoma), ung thƣ phổi, ung thƣ dạ dày, ung thƣ thận, ung
thƣ tuyến tụy, ung thƣ đại trực tràng và ung thƣ vú,...
Ung thƣ vú là bệnh ung thƣ phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới, hiện nay
tỷ lệ mắc ung thƣ vú cũng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt ở các nƣớc Châu Á nhƣ
Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều phƣơng pháp chẩn đoán, tầm soát ung thƣ giúp phát
hiện sớm nhƣ chụp nhũ ảnh và nhiều phƣơng pháp điều trị hiện đại đã giúp giảm
năng lƣợng từ thức ăn đƣợc bộ máy chuyển hóa của cơ thể và tế bào chuyển đổi
thành ATP thông qua nhiều quá trình phức tạp mà mắt xích cuối là quá trình
phosphoryl oxi hóa diễn ra ở trong ti thể. Ti thể có lớp màng kép, màng ngoài phân
tách các ti thể với bào tƣơng. Màng bên trong đƣợc gấp cuộn để tạo thành các nếp
gấp hƣớng vào tâm, bên trong có chứa chất nền. Phức hệ 5 enzyme của hệ thống
phosphoryl oxi hóa đƣợc gắn vào trong màng trong ti thể. Ti thể chứa bộ gen của
riêng mình, đƣợc gọi là ADN ti thể (mtADN) và phân chia độc lập với ADN nhân.
Trong tế bào động vật có vú, mỗi tế bào thƣờng chứa nhiều bản sao giống hệt nhau
của mtADN [7].
Ti thể đƣợc cho là có nguồn gốc từ vi khuẩn hiếu khí bị cộng sinh vào tế bào
nhân chuẩn (thuyết nội cộng sinh). Trong quá trình tiến hóa để trở thành nhà máy
năng lƣợng của tế bào nhân chuẩn, các vi khuẩn cộng sinh đã chuyển nhiều gen thiết
yếu của mình vào các nhiễm sắc thể nhân. Tuy nhiên, ti thể vẫn mang các dấu ấn của
các vi khuẩn tổ tiên. Ví dụ, ti thể sử dụng N-formylmethionyl-tARN (fMet-tARN) để
kích hoạt quá trình tổng hợp protein [28].
1.1.1. Cấu trúc và chức năng của ti thể
1.1.1.1. Cấu trúc của ti thể
ADN ti thể ngƣời là phân tử vòng sợi kép có kích thƣớc 16.569 bp. Các chuỗi
của ADN mạch kép dựa trên thành phần nucleotide khác nhau đƣợc chia thành chuỗi
nặng chứa nhiều Guannine và chuỗi nhẹ chứa nhiều Cytosine. Hầu hết các thông tin
đƣợc mã hóa trên chuỗi nặng, với gen mã hóa cho 2 rARN, 14 tARN và 12 chuỗi
polypeptide. Chuỗi nhẹ mã hóa cho 8 tARN và một chuỗi polypeptide (Hình 1). Tất
cả 13 protein sản phẩm là thành phần của phức hợp enzyme trong hệ thống
phosphoryl oxy hóa: 7 chuỗi polypeptide, từ ND1 đến ND6 và ND4L là các tiểu đơn
vị của phức hợp I (NADH dehydrogenase- ubiquinone reductase); 1 chuỗi
cytochrome b là tiểu đơn vị của phức hợp III (ubiquinol-cytochrome c reductase); 3
3
chuỗi: CO I, CO II và CO III là tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp IV (cytochrome c
phosphoryl oxy hóa trở nên kém hiệu quả do chuỗi hô hấp có khiếm khuyết. Khi các
electron đƣợc vận chuyển thông qua chuỗi hô hấp trong quá trình hô hấp của ti thể,
một số electron có thể trốn khỏi hoặc rò rỉ từ các phức hợp vận chuyển electron và
phản ứng với oxy phân tử hình thành các gốc superoxide (O*2-). Dòng chảy electron
này xảy ra chủ yếu tại khu phức hợp I và III [27]. Do vậy một đột biến mtADN nhất
định có thể gây ra sự thay đổi các thành phần vận chuyển điện tử và tạo ra các gốc
superoxide, sau đó chuyển đổi thành các dạng gốc oxy hóa tự do (ROS). Các đột biến
mtADN và sự gia tăng quá trình oxy hóa đã đƣợc quan sát thấy trong các loại tế bào
ung thƣ khác nhau ở nhiều nghiên cứu độc lập [9]. Tuy nhiên, liên hệ trực tiếp giữa
đột biến mtADN và sự gia tăng hình thành ROS trong các tế bào ung thƣ vẫn chƣa
đƣợc chứng minh bằng thực nghiệm.
Ti thể đóng vai trò điều tiết các cơ chế trung gian quan trọng trong quá trình
chuyển hóa carbohydrate, axid amin và axid béo. Chu trình acid tricarboxylic trong
chất nền của ti thể là một ví dụ điển hình của một con đƣờng sinh hóa đòi hỏi nhiều
cơ chế trung gian quan trọng [13]. Một phần chính của chu trình urê cũng xảy ra
trong ti thể, nơi xảy ra quá trình xử lý các axid amin trung gian có chứa nitơ. Axit béo
đƣợc chia nhỏ thành các đơn vị hai carbon bởi một loạt các β-oxy hóa và tiếp tục xử
lý để acetyl CoA trong chất nền của ti thể. Nhƣ vậy, chức năng chính của ti thể là tạo
5
ATP qua quá trình phosphoryl oxy hóa không phải là thiết yếu, ti thể lại không thể
thiếu để các tế bào nhân chuẩn tham gia vào các quá trình trao đổi chất quan trọng
khác, điều này giải thích tại sao trong một số tế bào có mất đoạn mtADN, lƣợng ti thể
vẫn đƣợc duy trì mà không có các đoạn mtADN mã hóa các protein trong chuỗi hô
hấp [12].
Apoptosis và sự tồn tại của tế bào
Ti thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình apoptosis, một quá trình
sinh học cơ bản của các tế bào chết theo chƣơng trình có kiểm soát. Một số nDNA
mã hóa protein tham gia quá trình apoptosis bao gồm cytochrome c, yếu tố cảm ứng
quan đến ung thƣ đã đƣợc xác định và mô tả. Những khiếm khuyết này bao gồm các
thay đổi trong biểu hiện và hoạt động của các tiểu đơn vị trong chuỗi hô hấp và các
enzym đƣờng phân và đột biến mtADN [10].
Hầu hết các protein ti thể đƣợc mã hóa bởi ADN nhân (nADN) và đƣa vào ti
thể. Mặc dù các quá trình nhân bản của mtADN là không đồng bộ với quá trình nhân
bản nADN, số lƣợng tổng thể của ti thể trong mỗi tế bào vẫn tƣơng đối ổn định trong
các loại tế bào cụ thể trong quá trình tăng sinh, cho thấy rằng quá trình tạo ti thể quyết
định phần lớn bởi các tín hiệu ngoài ti thể. Sự sinh tổng hợp của ti thể có thể tiếp tục
ngay cả khi mất mtADN. Nhƣ vậy, việc nhân bản ti thể không cần sự có mặt của
mtADN và không chịu ảnh hƣởng của các đột biến trong mtADN, dẫn đến việc duy
trì các khiếm khuyết của ti thể [5].
1.1.2.1. Đột biến gen ti thể và bệnh ung thư
Hầu hết các tế bào của động vật có vú có chứa hàng chục, hàng trăm ti thể,
mỗi ti thể lại có chứa 2-10 bản sao mtADN [25]. Trong một cá thể, tất cả các bản sao
mtADN thƣờng giống hệt nhau (homoplasmy), nhƣng đột biến có thể phát sinh, duy
trì và đƣợc khuếch đại, do đó các bản sao đột biến khác nhau cùng tồn tại với kiểu
mtADN ban đầu (heteroplasmy). Khi tế bào phân chia, bộ gen ti thể đƣợc phân bố
ngẫu nhiên cho các tế bào con và do đó, mặc dù chỉ bắt đầu từ một trƣờng hợp
heteroplasmy nhất định, nhƣng kết quả có thể tồn tại mức độ khác nhau của
heteroplasmy và thậm chí có thể homoplasmy mtADN trong dòng tế bào khác nhau [14].
Bộ gen ti thể đƣợc đi truyền theo dòng mẹ; một vài ti thể từ tinh trùng có thể
xâm nhập vào trứng trong quá trình thụ tinh sẽ bị loại bỏ bởi cơ chế phụ thuộc
ubiquitin. Trong quá trình tạo trứng, chỉ có số lƣợng nhỏ phân tử mtADN đƣợc
7
khuếch đại và truyền tới thế hệ sau con [18]. Hiện tƣợng này giải thích tại sao một đột
biến có thể trở thành dạng homoplasmy sau một hoặc một vài thế hệ.
Tỷ lệ biến đổi của mtADN nhanh hơn rất nhiều so với bộ gen nhân. Một trong
ND1 và rARN mã hóa cho tiểu đơn vị 16S tăng trong mẫu u của bệnh nhân polip
tuyến gia đình so với mô lành ruột kết [6].
Ung thư buồng trứng: Liu và cs đã phân tích mtADN từ mô bình thƣờng và
mô u đƣợc lấy từ 10 bệnh nhân ung thƣ buồng trứng. Giải trình tự hoàn chỉnh
mtADN của cặp mô và so sánh phân tích, đã xác định đƣợc các đột biến soma với tỉ
lệ cao (60%). Hầu hết các đột biến đƣợc xác định là T C hoặc G A. Các đột biến
soma chủ yếu trên 4 khu vực của mtADN: D-loop, 12S rRNA, 16S rRNA và
cytochrome b [16].
Ung thư vú: Nhiều nghiên cứu toàn diện về đột biến mtADN ở ung thƣ vú đã
đƣợc công bố gần đây. Trong một nghiên cứu của Tan và cs, đã sử dụng kết hợp
phƣơng pháp điện di và giải trình tự ADN trực tiếp để đƣa ra trình tự hoàn chỉnh bộ
gen ti thể có đột biến ở 19 bệnh nhân, trên mẫu u và mẫu mô thƣờng và đã xác định
đƣợc ở mtADN của 14 bệnh nhân có đột biến soma (74%). Phần lớn các đột biến
nằm trong vùng D-loop (81,5%). Tuy nhiên, đột biến cũng đƣợc phát hiện trên gen
16S rRNA, ND2 và ATPase [29]. Trong một nghiên cứu khác sử dụng phƣơng pháp
sinh thiết khối u nguyên phát của 18 bệnh nhân, đột biến soma đƣợc phát hiện trong
phần lớn các bệnh nhân (61%) và hầu hết các đột biến xác định là ở vùng D-loop, còn
lại đột biến đã đƣợc tìm thấy trên các vùng gen ND1, ND4, ND5 và cytochrome b
[21]. Các nghiên cứu trƣớc đó cũng cho thấy tồn tại đột biến điểm và mất đoạn
mtDNA ở bệnh nhân ung thƣ vú. Đột biến mất đoạn phổ biến nhất 4977 bp đƣợc tìm
thấy trong mô u ác tính và mô vú lành của các bệnh nhân có các bất thƣờng vú [4].
Ngoài đột biến ở mtADN, biểu hiện cao của mARN cytochrome c oxidase II cũng
đƣợc phát hiện trong mô u ở một số bệnh nhân so với mô bình thƣờng [24].
1.1.2.2 Biến đổi số lượng bản sao gen ti thể và bệnh ung thư
Nhƣ đã nêu ở trên, mỗi tế bào chứa hàng trăm, ngàn ti thể, trong mỗi ti thể lại
chứa 2-10 bản sao mtADN, tuy nhiên số lƣợng bản sao mtADN tƣơng đối ổn định trong
diều kiện sinh lí. Nhiều nghiên cứu ở bệnh nhân ung thƣ nguyên phát đã chỉ ra rằng thay
đổi số lƣợng bản sao mtADN là một yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động của ti thể và có liên
9
thúc đẩy quá trình phát triển và tạo điều kiện cho tế bào ung thƣ trở thành bất tử.
Mẫu ung thƣ phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) đã đƣợc thu thập từ 29 bệnh
10
nhân ở giai đoạn III sau khi hóa trị hỗ trợ trị liệu và phẫu thuật cắt bỏ. Số lƣợng bản
sao mtADN tƣơng đối và các tổn thƣơng oxy hóa mtADN của mỗi mô ung thƣ đƣợc
xác định bằng phƣơng pháp PCR định lƣợng. Kết quả cho thấy số lƣợng bản sao
mtADN ít và quá trình ôxy hoá mtADN mức độ thấp có tƣơng quan với sự tiến triển
của khối u. Hơn nữa, số lƣợng bản sao mtADN và tổn thƣơng của quá trình oxy hóa
mtADN thấp hơn ở những bện nhân NSCLC sau khi hóa trị. Phát hiện này cho thấy
sự suy giảm hàm lƣợng mtADN có thể dẫn đến giảm mật độ của ti thể trong tế bào
ung thƣ, dẫn đến giảm sản xuất ROS nội sinh và giảm ROS gây tổn thƣơng ADN để
tế bào ung thƣ trở thành bất tử [15].
1.2.
TỔNG QUAN VỀ UNG THƢ VÚ
Ung thƣ vú là loại ung thƣ phổ biến thứ hai trên thế giới và là bệnh ung thƣ
thƣờng gặp nhất ở phụ nữ với ƣớc tính 1,67 triệu trƣờng hợp ung thƣ mới đƣợc chẩn
đoán vào năm 2012 (25% của tất cả các trƣờng hợp mắc bệnh ung thƣ). Nó là loại
ung thƣ phổ biến nhất ở phụ nữ cả ở các nƣớc kém phát triển (883.000 trƣờng hợp) và
các nƣớc phát triển (794.000). Tỉ lệ mắc bệnh rất khác nhau giữa các khu vực trên thế
giới, dao động từ 27 trên 100.000 ở khu vực Trung Phi và Đông Nam Á và 96 ở khu
vực Tây Âu. Ung thƣ vú rất hiếm gặp ở nam giới nhƣng lại rất phổ biến ở phụ nữ. Tỷ
lệ mới mắc ung thƣ vú ở nam ít hơn 100 lần so với nữ [40].
Theo hồ sơ từ tổ chức Globocan về tình hình ung thƣ thế giới, ung thƣ vú là
nguyên nhân tử vong đứng thứ năm do ung thƣ nói chung (522.000 trƣờng hợp tử
vong) và là loại ung thƣ hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ ở khu vực kém phát triển
(324.000 ngƣời chết, 14,3% trên tổng số) và thứ hai ở khu vực phát triển hơn
Bệnh Paget núm vú: Trông giống nhƣ bị phát ban da hoặc da thô ráp ở phần
đầu vú và có thể ngứa. Khi có triệu chứng ngứa và đóng vảy (nếu bị trầy xƣớc) có thể
là dấu hiệu ung thƣ, có thể dƣới bề mặt của da bị phá vỡ, ung thƣ sau đó sẽ xâm lấn
các vùng khác của vú.
1.2.2. Các giai đoạn của ung thƣ vú
Phƣơng pháp phân giai đoạn bệnh ung thƣ dựa vào kích thƣớc khối u, hạch
lympho và di căn (TNM, Tumor - Lymph Node - Metastasis) đƣợc đề xuất bởi
Clifton Mountain và đã đƣợc Liên Ủy ban ung thƣ Hoa Kỳ (AJCC) và Hiệp hội
12
chống ung thƣ quốc tế (UICC) thông qua năm 1974. Theo cách phân giai đoạn này,
các giai đoạn T, N, M của ung thƣ vú đƣợc xác định nhƣ sau [42]:
Theo yếu tố T - Tumor (u nguyên phát)
- Tx: Không thể xác định đƣợc khối u
- Tis: Ung thƣ biểu mô tại chỗ (bao gồm DICS, LICS hoặc bệnh Paget
núm vú không có ung thƣ liên quan)
- T0: Không thấy đƣợc sự rõ ràng của khối u
- T1 (bao gồm T1a , T1b, T1c): kích thƣớc khối u nhỏ hơn hoặc bằng 2cm
- T2: Kích thƣớc khối u lớn hơn 2cm nhƣng nhỏ hơn 5cm.
- T3: Khối u có kích thƣớc lớn hơn 5cm.
- T4: Khối u có kích thƣớc bất kỳ lan đến da và thành ngực.
Theo yếu tố N - lymph Node (Hạch)
- Nx: Không xác định đƣợc vùng hạch bạch huyết gần đó.
- N0: Ung thƣ không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó.
- N1: Ung thƣ đã lan rộng đến các hạch lympho vùng nách.
- N2: Ung thƣ đã lan rộng 4 - 9 hạch bạch huyết dƣới cánh tay hoặc đã mở
rộng đến các hạch bạch huyết trong vú.
- N3: Di căn tới hạch lympho bên trong tuyến sữa ở cùng một bên.
Ung thƣ vú liên quan mật thiết đến sự thay đổi hormon trong cơ thể ngƣời
phụ nữ. Sự thay đổi hormon mạnh mẽ ở một số giai đoạn đặc biệt ở phụ nữ và các
liệu pháp hormon làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thƣ vú. Ngƣời ta nhận thấy mối
liên hệ giữa ung thƣ vú với các hormon estrogen và progesterone. Ở những phụ nữ
bắt đầu có kinh sớm (trƣớc tuổi 12) hoặc những ngƣời mãn kinh muộn (sau tuổi 55),
thời gian có kinh kéo dài tức là có sự thay đổi nhiều hơn đố i với 2 hormon này và họ
có nguy cơ mắc cao hơn. Liệu pháp thay thế hormon kết hợp hai hormon estrogen và
progesterone đƣợc sử dụng sau thời kì mãn kinh giúp giảm các triệu chứng của mãn
14
kinh và giúp ngăn ngừa loãng xƣơng và giảm nguy cơ mắc ung thƣ cổ tử cung nhƣng
lại có nguy cơ mắc ung thƣ vú tăng. Những ngƣời có con muộn hoặc không có con và
ngƣời sử dụng thuốc tránh thai cũng có nguy cơ này. Một số nghiên cứu còn chỉ ra
rằng nếu cho con bú từ 1,5 đến 2 năm có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thƣ vú.
Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác: Một số yếu tố có thể ảnh hƣởng đến mật
độ tuyến vú nhƣ tuổi tác, tình trạng mãn kinh, một số loại thuốc (bao gồm liệu pháp
hormone mãn kinh), mang thai và di truyền. Những ngƣời đã từng tiếp xúc với phóng
xạ, hay từng trải qua xạ trị, ngƣời thừa cân hoặc béo phì, vận động ít, sử dụng rƣợu
thƣờng xuyên hay sử dụng nhiều chất béo…cũng góp phần làm tăng nguy cơ ung thƣ vú.
1.3. NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƢỢNG BẢN SAO ADN TI THỂ
Ở BỆNH NHÂN UNG THƢ VÚ
Năm 2007, Yu và cs đã phân tích số lƣợng bản sao mtADN ở 59 mẫu mô u
và mô lân cận u bằng phƣơng pháp PCR định lƣợng. Kết quả cho thấy rằng mức độ
của mtADN giảm đáng kể trong các mô u so với mô lân cận u liền kề. Số lƣợng bản
sao mtADN giảm có liên quan với nhóm tuổi từ 50 trở lên. Ngoài ra, trong khối u
mang đột biến ở vùng D-loop, có số lƣợng bản sao mtADN thấp hơn đáng kể. Việc
giảm số lƣợng bản sao mtADN có thể tham gia vào quá trình hình thành và tiến
triển ở ung thƣ vú và có nhiều tiểm năng đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ để chẩn
đoán tiên lƣợng. Đột biến soma ở vùng D-loop có lẽ là một trong những yếu tố góp