LƯC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
I. THỜI KỲ XA XƯA
Từ thời cổ đại TBVTV đã được sử dụng ít nhiều. Sách Ebers Papyrus, được viết
vào khoảng 1550 B.C. có liệt kê các cách thức chế tạo thuốc để đuổi bọ chét ra
khỏi nhà. Tài liệu cổ nhất về lưu huỳnh là của Homer (khoảng 1000 B.C.) viết
rằng Odyssey đốt lưu huỳnh"...để làm sạch đại sảnh phòng và cung đình..."
(Odyssey XXII, 492-494). Pliny the Elder (23-79 A.D.) ghi vào sách lòch sử tự
nhiên của ông nhiều câu chuyện về dùng thuốc sát trùng trong 3 đến 4 thế kỷ
trước đó. Nhà y học người Hy Lạp Dioscorides (40-90 A.D.) đã biết về tính độc
của lưu huỳnh và thạch tín. Đã có những tài liệu cho thấy rằng vào khoảng 900
A.D. người Trung Quốc dùng arsenic sulfides để trừ côn trùng trong vườn. Hai
loài cây Veratum album và V.nigrum (cây lê lư) đã được người La Mã dùng làm
thuốc trừ loài gậm nhấm. Vào 1669, tài liệu đầu tiên về arsenic ở phương Tây
là tài liệu về cách dùng arsenic trộn với mật để bẫy diệt kiến. Vào cuối thế kỷ
17 đã có cách dùng thuốc lá làm thuốc tiếp xúc trừ chí rận. Các hợp chất đồng
được biết đến từ 1807 dùng để trò nấm và dung dòch Bordeaux (gồm vôi ngậm
nước và sulfat đồng) được dùng đầu tiên ở pháp vào 1883. Acid hydrocyanic
được người Hy Lạp và La Mã dùng làm chất độc. Năm 1877 chất này được
dùng xông hơi để tiêu diệt dòch hại phá các bộ sưu tập côn trùng trong nhà bảo
tàng. CS2 đã được dùng làm chất xông hơi để diệt côn trùng vào năm 1854.
Cho đến năm 1930 phần lớn thuốc trừ dòch hại có nguồn gốc tự nhiên hoặc là
các hợp chất vô cơ. Các chấât gốc arsenic được dùng phổ biến bất kể tính đôïc
hại của nó.
Mặc dù việc sử dụng thuốc trừ sâu gốc arsenic trong nông nghiệp giảm dần đi
khi các thuốc trừ sâu loại mới xuất hiện, việc dùng các thuốc diệt cỏ gốc
arsenic vẫn còn tiếp diễn.
Đầu thế kỷ 19 (1802) đã có những đề nghò đầu tiên về việc dùng lưu huỳnh để
trừ bệnh. Vào khoảng năm 1850 người ta biết đến tính chất xông hơi của lưu
huỳnh. Mãi đến năm 1903, 95% lưu huỳnh dùng trên thế giới được lấy từ đảo
Sicily. Mặc dù có sự xuất hiện thuốc diệt nấm lưu huỳnh hữu cơ như: captan,
maneb và những chất khác vào những năm cuối của thập niên 1950 chúng vẫn
chấy rận ký sinh trên cơ thể truyền đi, Tẩm bột DDT vào áo quần của 1,3 triệu
người đã khống chế hoàn toàn cơn dòch. Sau đó DDT đã được dùng mộït cách
thành công vào các chương trình diệt trừ sốt rét. Trong suốt nửa thế kỷ này, có
khoảng 300 triệu người bò bệnh sốt rét mỗi năm trong số đó có 3 triệu người
chết.
Trước khi có DDT hầu hết những nỗ lực diệt trừ sốt rét đều không thành công.
Một ví dụ về sự thành công của DDT là ở tỉnh Latina (Ý) có 50-60 trường hợp
bênh sốt rét trên mỗi ngàn dân cư vào năm 1944. Con số này giảm đến zero
vào năm 1949 sau khi khởi động chiến dòch phun DDT vào năm 1945. Sức sản
xuất DDT ở Mỹ đã lên đến cao điểm vào những năm đầu thập niên 1960 và
sau đó giảm xuống dần. Năm 1962, Rachel Carson xuất bản cuốn sách Mùa
Xuân Câm Lặng (Silent Spring), chỉ trích hóa chất đã gây ô nhiễm môi trường,
đặc biệt nhấn mạnh vào sự tích lũy sinh học của DDT và ảnh hưởng của thuốc
trên sự sinh sản của chim. Cuốn sách này đã thúc đẩy chính phủ Liên bang Mỹ
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
đề ra các biện pháp chống lại sựï ô nhiễm nước và không khí cũng như chống
một số thuốc sát trùng có tính bền bó. Do đó, việc sản xuất và bán DDT đã bò
cấm ở Thụy điển năm 1970 và ở Mỹ năm 1973. Thò trường thế giới về các
thuốc hydrocarbon clo hóa vẫn duy trì trong khoảng 10 năm tiếp theo sau đó
chủ yếu bởi vì DDT vẫn còn cần dùng ở nhiều vùng trên thế giới để trừ các côn
trùng môi giới truyền bệnh sốt rét.
Bảng 1
Năm
Lòch sử phát triển của thuốc trừ dòch hại
Loại thuốc
hexachloride, BHC) được Faraday tổng hợp năm 1825 nhưng tính sát trùng của
nó không được phát hiện trong suốt hơn 100 năm sau đó. Vào những năm đầu
của thập niên 1940, các nhà khoa học ở Anh và Pháp tìm ra chất đồng phân
gamma của BHC, thường được gọi là Lindane có tính sát trùng mạnh và sản
xuất đưa vào thò trường. Các thuốc sát trùng hydrocarbon clo hóa có dạng
cyclodien bắt đầu đưa vào thò trường vào những năm giữa thập kỷ 1940. Các
tính chất diệt côn trùng của chlordane được mô tả vào những năm 1945, vào
năm 1948 heptachlor được đưa vào sủ dụng trong nông nghiệp và trong vòng
năm năm sau đó dieldrin và aldrin cũng được đưa vào thò trường.
Tại Mỹ, thò phần DDT đã bò thay thế bởi các hợp chất lân hữu cơ bao gồm phần
lớn các thuốc sát trùng đang dùng hiện nay. Vào năm 1931, Willy Lange ở
Viện Đại học Berlin tổng hợp một số chất chứa nối P-P. Trong khi tổng hợp
dimethyl và dimethyl phosphofluoridate, ông và sinh viên là G. Von Kreuger,
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
phát hiện thấy hiệu ứng độc hại của thể hơi chất này lên chính họ. Họ đã viết
lại như sau:”... Thể hơi của các hợp chất này có một mùi thơm mạnh, dễ chòu,
nhưng sau khi hít phải chỉ vài phút, phần yết hầu nghe bò ép nặng nề và không
thở được. Thế rồi, ý thức bắt đầu rối loạn, chóng mặt và mắt đau buốt vì trở
nên quá nhạy với ánh sáng. Sau nhiều giờ triệu chứng mới giảm bớt ... Chỉ cần
một lượng nhỏ đủ để tạo ra triệu chứng kể trên...” Lange hoàn toàn biết về khả
năng dùng các hợp chất lân hữu cơ để làm thuốc sát trùng nhưng ông ta sau đó
đã rời nước Đức và không tiếp tục hoạt động trong lãnh vực này. Bỡi vậy,
Gerhard Scharader được xem như là cha đẻ của các loại thuốc sát trùng lân hữu
cơ. ng là một nhà hoá học tại I.G. Farbenindustrie (Bây giờ là Bayer A.G.).
Vào những năm giữa của thập niên 1930 tại Đức tất cả tài nguyên đều được sử
dụng vào việc xây dựng các dự án quốc phòng, hạn chế tối đa các nhập cảng
không cần thiết, trong đó có nicotine và rotenone, vốn là những chất cần thiết
lân hữu cơ, đó là sự ức chế men acetylcholinesterase. Các nhà khoa học Đức
đã tìm ra hiệu ứng parasympatomimetic của các chất lân hữu cơ và tìm thấy
rằng atropin có thể dùng để giải độc. Những hiểu biết về hiệu ứng và cơ chế
của chất physostigmine chắc chắn đã tạo tiền đề thuận lợi cho khám phá này.
Chất physostigmine là mộït alkaloid được Jobst và Hesse ở Anh ly trích từ hạt
cây đậu Calabar vào năm 1864. Cây đậu này có tên khoa học là Physostigma
venenosum, là một loài cây lâu năm mọc ở vùng nhiệt đới Tây Phi , vốn từ lâu
được xem như một chất độc thử tội trong các cuộc lễ phù thủy. Hoạt tính co
đồng tử của chất này và tính đối kháng với atropin đã được phát hiện sớm vào
năm 1863. Vào năm 1926 Loewi và Nevratil đã tìm thấy cách tác động ức chế
men acetylcholine. Trên nền tảng này vào năm 1939 Gros đã sớm đề ra được
cơ chế tác động của các chất lân hữu cơ. Vào năm 1949 Du Bois đã khẳng đònh
rằng độc tính của parathion là do sự ức chế men cholineterase.
Các khám phá quan trọng khác trong lòch sử các chất lân hữu cơ là việc khám
phá sự tái hoạt hóa và già cỗi của những men cholinesterase phosphoryl hóa.
Vào những năm giữa của thập niên 1950 Wilson đã tìm thấy rằng chất oximes
có thể tái hoạt hoá acetylcholinesterase sau khi nó đã bò chất lân hữu cơ ức
chế. Hobbiger khám phá ra rằng tính tái hoạt hóa của oxime bò giảm theo thời
gian, đó là sự kiệïn các men phsphoryl hóa già cỗi không thể phục tráng bằng
oximes và như vậy phần nào ảnh hưởng tới lý thuyết nhiễm độc do lân hữu cơ.
Kể từ năm 1930 người ta đã biết rằng một số chất lân hữu cơ có khả năng gây
ra bệnh thiểu năng đa thần kinh khi có hơn 10 000 người ở Mỹ nhiễm độc bởi
cresyl phosphate được sử dụng để chiết trích củ gừng để làm trong rượu chưng
cất. Cơ chế liên quan đến hiệu ứng đặc biệt này của các lân hữu cơ đã được
nghiên cứu một cách có hệ thống chỉ trong thập niên qua, và không do sự ức
chế của cholinesterase. Khái niệm về sự chuyển hóa biến dưỡng của lân hữu
cơ thành chất ức chế cholinesterase mang hoạt tính và tiềm năng tăng tính độc
của chúng do các hoá chất hoặc nông dược khác là hai khám phá chủ yếu khác
trong lónh vực này vào thập niên 1950.
Măc dù có những nghiên cứu về physostigmine, các carbamate chỉ được đưa
Người phun thuốc ở Pakistan bò ngộ độc do các tạp chất
malathion
Giới hạn sử dụng dibromochloropropane do độc tính của
quan sinh dục nam giới.
Ngộ độc carbaryl ở Bhopal, n Độ gây chết khoảng
và hơn 100,000 bò nhiễm độc
Tràn 100 tấn thuốc sát trùng vào sông Rhine
Nhóm thuốc sát trùng quan trọng được khám phá gần đây nhất là các
pyrethroid tổng hợp. Các hợp chất này dẫn xuất từ phân tử ly trích được trong
hoa cây thúy cúc. Loại hoa này được dân trong các bộ tộïc vùng Caucase và
Persia sử dụng từ 1800 để trừ chấy rận cơ thể. Hoa thúy cúc được sản xuất hàng
hóa lần đầu tiên ở Armenia vào năm 1828. Nam Tư khởi sự sản xuất vào năm
1840 và tập trung sản xuất cho đến thế chiến thứ nhất, sau đó hoa được trồng ở
Nhật và Đông Phi. Chất trích từ thúy cúc chứa 6 ester có quan hệ gần gũi với
nhau và đều có tính sát trùng được gọi chung là pyrethrin, cấu trúc của chúng
được biết rõ vào khoảng 1910-1924. Trong thời gian này hàng trăm chất
pyrethroids đã được tổng hợp và chất đầu tiên được thương mạïi hóa là allethrin.
Sau khi allethrin được thương mại hóa chỉ có một vài loại pyrethroids được tiếp
tục khám phá. Mãi đến năm 1966 Công ty hóa chất Sumitomo Nhật Bản và
phòng thí nghiệm Michael Elliot (Trạm thí nghiệïm Rothamsted tại Harpenden ở
Anh) mang lại những bước phát triển mới về pyrethroids. Một số pyrethroids
dùng sát trùng thông dụng nhất là Permethrin, Cypermethrin và Fenvalerate,
đều được tổng hợp vào những năm trong thập niên 1970, bỡi vì chúng ít độc cho
loài có vú và ít bền vững trong môi trường, trong những năm tới mức sử dụng
loại này sẽ gia tăng.
Trong những thập niên qua, TBVTV hóa học đã được phát triển mạnh mẽ. Dân
số đòa cầu gia tăng nhanh chóng làm tăng nhanh nhu cầu về thực phẩm và các
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
chất và liều lượng xâm nhập vào cơ thể. Một số TBVTV cực độc gây hại ở liều rất
thấp, trái lại có những hóa chất ít độc gây hại cho sinh vật với liều lượng rất cao. Vì
khả năng gây nguy hiểm của các loại TBVTV , những người làm việc với TBVTV cần
phải tránh không để thuốc xâm nhập vào cơ thể qua da, phổi, hệ tiêu hóa và mắt. Cần
phải cẩn thận với mọi loại TBVTV. Không ai có thể tiên đoán hậu quả của việc tiếp
xúc lập lại lâu dài ngay cả với những loại TBVTV ít nguy hại nhất.
1.1 Cách xâm nhập của thuốc vào cơ thể người:
Có nhiều cách thuốc xâm nhập vào cơ thể người làm việc với TBVTV nhưng nhiều
nhất là lúc pha trộn phun xòt thuốc hoặc khi đi vào vùng xử lý thuốc ngay sau khi mới
phun thuốc xong. Do đó khi vào vùng mới phun xòt thuốc cần phải có đủ dụng cụ bảo
hộ, cần phải theo đúng quy đònh trên nhãn hiệu về khoảng thời gian cách ly trước thu
hoạch để bảo đảm sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Con người còn có thể tiếp xúc với liều lượng thấp của TBVTV nếu họ sống gần vùng
sử dụng thuốc, ăn phải thực phẩm bò nhiễm TBVTV, sờ vào thuốc mới phun lên gia
súc gia cầm để trừ ký sinh, sờ vào tàn lá, sản phẩm tồn trữ .v.v. có xử lý TBVTV.
TBVTV bò đổ tràn do tai nạn cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng cho sức khoẻ con
người. Cách nhiễm độc có thể do hấp thu một lượng thuốc lớn một lần hoặc hấp thu
lâu dài nhiều lần lượng thuốc nhỏ. Con người phản ứng khác nhau với cùng một liều
lượng thuốc. Tuổi tác và thể trọng cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc. Trẻ em và nữ
giới nhạy với thuốc hơn so với người lớn và nam giới.
1.1.1 Tiếp xúc do tai nạn:
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
Thông thường sự tiếp xúc do tai nạn là nguy hại hơn cả, đôi khi còn do sự thiếu cẩn
thận khi tiếp xúc với thuốc. Trong nông nghiệp, số người bò tai nạn do TBVTV cao
nhất và phần lớn xảy ra khi pha chế và phun xòt thuốc. Đổ tràn, nổ hoặc các loại tai
nạn khác xảy ra trong khi chế tạo và đóng gói sẽ gây hại cho những công nhân làm
việc trong nhà máy hoặc nhân dân sống trong vùng phụ cận với nhà máy(ví dụ tai nạn
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
thường quy đònh liều lượng và thời gian dừng thuốc trước thu hoạch, cần phải tuân thủ
theo các hướng dẫn này. Những cơ quan chòu trách nhiệm về an toàn thực phẩm phải
thường xuyên kiểm nghiệm để giám sát dư lượng trong thực phẩm.
Thỉnh thoảng, thực phẩm cũng bò nhiễm TBVTV do sự sử dụng sai TBVTV sau khi thu
hoạch. TBVTV thường được dùng trong việc bảo quản các nông sản trong kho vựa,
thường bằng cách xông hơi. Công nghiệp thực phẩm có thể dùng TBVTV trong khi
đóng kiện, chế biến và đóng gói hộp để tiêu diệt hoặc ngăn ngừa dòch hại bên trong
cũng như bên ngoài nhà máy. Đôi khi TBVTV cũng được dùng ở những nơi tồn trữ và
bán lẻ thực phẩm để phòng diệt các dòch hại xâm nhiễm . Các tiệm ăn cũng có thể
dùng TBVTV để diệt bọn gặm nhấm . Để có thể giám sát dư lượng một cách hiệu quả
cần phải có đủ hệ thống luật lệ cần thiết và nhà nước phải kiểm tra các cơ sở chế biến,
tồn trữ và phân phối nông sản thực phẩm .
Nếu sử dụng quá nhiều TBVTV để tiêu diệt ký sinh sống trên cơ thể các loại gia súc,
gia cầm có thể dẫn tới sự nhiễm độc các sản phẩm sữa trứng thòt. Để giải quyết tình
trạng này cũng cần phải có luật lệ và sự kiểm soát của nhà nước. Cần phải có thời
gian cách ly sau khi sử dụng TBVTV trên các sản phẩm được dùng làm thức ăn cho gia
súc gia cầm .
Nước uống nhiễm TBVTV cũng là một cách đưa thuốc vào cơ thể con người. Thông
thường sự thải bỏ hoặc dùng không đúng cách TBVTV cũng làm cho nước ngầm hay
nước mặt bò nhiễm thuốc sát trùng
1.1.5 Sự tiếp xúc với TBVTV từ các nguồn khác:
Các nguồn khác có thể là: (1) thuốc dư lại sau khi xông hơi nhà ở hoặc khu vực làm
việc, (2) thuốc dính trên đồ gỗ, thảm lót nhà được xử lý TBVTV để chống côn trùng,
nấm mốc, (3) thuốc lưu lại trên các động vật nuôi trong nhà được xử lý thuốc để chống
ký sinh trùng.
II. Các con đường thuốc đi vào cơ thể:
TBVTV có thể đi vào cơ thể qua nhiều con đường. Các con đường hay gặp nhất là: (1)
vào trong máu và dẫn đến các cơ quan khác. TBVTV có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ
thống bên trong cơ thể cùng lúc.
Nếu tiếp xúc với TBVTV và có nghi ngờ bò nhiễm độc cần phải đi kiểm tra sức khoẻ.
3.1 Triệu chứng ngộ độc:
Triệu chứng ngộ độc là những điều kiện bất thường mà bệnh nhân thấy hoặc cảm nhận
được hoặc thông qua các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng cơ thể bò
tổn hại, tật bệnh hoặc rối loạn. Sự nhiễm độc có thể ở dạng cấp tính thể hiện ra ngoài
lập tức hoặc kinh niên, chỉ thể hiện sau một thời gian dài tiềm ẩn. Một số các triệu
chứng thường gặp được ghi ở bảng 8.1
Bảng 8.1
Các triệu chứng nhiễm độc TBVTV thông thường
------------------------------------------------------------------------------------------------------
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
Các triệu chứng có thể có do da tiếp xúc với dạng bụi, lỏng và hơi TBVTV
- Da bò nhuốm màu
- Da bò đỏ lên ở vùng tiếp xúc
- Phỏng nhẹ hoặc cảm giác ngứa ngáy
- Cảm giác cháy bỏng đau rát
- Da phồng dộp lên
- Móng tay chân bò nứt và tổn hại
Các triệu chứng có thể xảy ra khi thuốc dạng bột, lỏng hoặc hơi vương vào mắt
- Khó chòu, bao gồm chảy nước mắt và bỏng nhẹ
- Bỏng dộp nặng đau rát (có thể thiệt hại mắt vónh viễn)
Các triệu chứng có thể xảy ra do hít hoặc nuốt TBVTV ở dạng bột, lỏng hoặc hơi
- Nhảy mũi
- Kích thích mũi và cổ họng
mắt, da nổi mẫn, khó chòu trong người .
3.3.2 Lo âu: Sự lo âu phải tiếp xúc với TBVTV một phần gây ra do sự thiếu thông tin
hoặc nhận thông tin sai lạc về khả năng gây nguy hại của việc sử dụng TBVTV. Các
trường hợp tai nạn, ngộ độc, và dư lượng trong thực phẩm được công bố thường xuyên
trên phương tiện thông tin đại chúng và tiếp tục được công chúng quan tâm. Tuy nhiên
thông tin về sự ích lợi của việc sử dụng đúng đắn TBVTV đến nông dân hãy còn ít ỏi.
IV. Ô nhiễm nước ngầm:
Ô nhiễm nước ngầm do các TBVTV là một sự kiện nghiêm trọng. Khoảng 97% tổng
lượng nước trên thế giới là nước mặn trong đại dương. Chỉ có khoảng ít hơn 1% tổng
lưọng nước trên đòa cầu là có thể sử dụng được để uống, tưới cây, dùng trong nhà và
chế bến. Hai phần ba lượng nước này là nước ngầm , bò kẹt trong các vỉa đất dưới sâu.
Phần nước còn lại nằm trong hồ, ao, sông, suối. Sự kiện ô nhiễm nước ngầm do
TBVTV mới được lưu ý gần đây. Lúc đầu người ta cho rằng TBVTV không đe dọa đến
nước ngầm vì lúc bấy giờ các phương tiện khoa học không phát hiện được. Nhiều
nghiên cứu cho biết rằng vi sinh vật, các yếu tố môi trường, đất sẽ phân hủy và hấp
thu phần lớn TBVTV trước khi chúng có thể tiếp xúc với nước ngầm . Tuy nhiên trong
thời gian gần đây do các phương pháp phân tích hiện đại, người ta có thể tìm thấy
những lượng nhỏ các hoá chất kể cả TBVTV có trong nước ngầm . Cần phải ban hành
những luật lệ chặt chẽ về việc loại thải các hóa chất độc hại để bảo vệ nguồn nước
ngầm .
TBVTV đi vào nước ngầm theo cách: (1) do bò rửa trôi trực tiếp từ đất hoặc (2) xâm
nhập vào các loại giếng có liên lạc với mạch nước ngầm. Các loại TBVTV đi vào
nước ngầm từ những cách phun xòt bình thường trên đồng ruộng gọi là ô nhiễm phân
tán. Có một số trường hợp do tại nạn hoặc do loại thải TBVTV không đúng cách mà
TBVTV đi vào nước ngầm với một số lượng rất lớn, trường hợp này gọi là ô nhiễm
điểm .
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ô nhiễm nước ngầm:
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ô nhiễm nước ngầm gồm có: (1) đặc điểm của chính
TBVTV, các loại CHC bền bó trong môi trường nhưng ít di động vì thường kết chặt
trong các hạt đất, do đó chúng tập trung ở tầng đất mặt và ít làm ô nhiễm nước ngầm.
Tính di động loại II (có thể di chuyển chút ít trong đất)
Azinphos-methyl
Linuron
Bensulide
Molinate
Carbaryl
Prometryn
Chlorpropham
Propanil
Diazinon
Pyrazon
Diuron
Tính di động loại III (có khả năng di chuyển trung bình trong đất)
Alachlor
Prometone
Atrazine
Propham
Diphenamid
Simazine
Endothall
Terbacil
Fenuron
2,4,5-T
Tính di động loại IV (Diazinon chuyển trong đất dễ dàng)
Amitrole
Fenac
Bromacil
MCPA
2,4-D
Picloram
Điều kiện đòa chất tại điểm sử dụng thuốc
1. Độ dốc
2. Cấu tạo lớp đất bên dưới
3. Độ lân cận của các vực chứa nước mặt như ao, hồ, sông
Tương tác giữa TBVTV trong đất
1. Tính chất của TBVTV
a. Tính hòa tan trong nước
b. Tính bay hơi
c. Sự hấp thu của đất
d. Sự phân hủy
2. Tác động của đất lên TBVTV
a. Cấu trúc đất
b. Lượng chất hữu cơ trong đất
c. Lượng nước trong đất
-----------------------------------------------------------------------------------------------------5. Phương pháp chống ô nhiễm nước ngầm:
5.1 Tồn trữ: Tồn trữ thuốc ở nơi kín đáo, không bò nước mưa tạt, nền không thấm
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
5.2 Pha trộn thuốc: Tránh đổ vãi TBVTV, nếu bò đổ thì phải dọn sạch bằng những
phương pháp thích hợp. Rửa sạch chai thuốc ba lần và đổ hết vào bình phun. Các loại
bình chứa phải được loại thải đúng chỗ thích hợp. Không đổ thuốc quá nhiều làm tràn
bình phun.
5.3 Phun xòt: Nên dùng các loại thuốc ít di chuyển trong đất và dễ phân hủy trong môi
trường đất. Chọn điều kiện thời tiết thích hợp để phun xòt. Trong những khu vực nước
ngầm dễ bò ô nhiễm cần phải:
(1) Giảm sử dụng TBVTV bằng cách thay các biện pháp phòng trừ dòch hại
khác.
(2) Chỉ dùng TBVTV khi thật cần thiết
thuộc thường xuyên vào TBVTV. Các phương thức để làm giảm thiệt hại cho các sinh
vật có ích là:
(1) Chọn TBVTV ít độc cho các sinh vật có ích
(2) Sử dụng TBVTV vào những thời kỳ ít tổn hại nhất cho các sinh vật hữu ích, chẳng
hạn phun thuốc vào thời kỳ ngủ của côn trùng.
(3) Giảm bớt liều lượng khi có thể
(4) Dùng phương pháp xử lý giới hạn tại chỗ để giảm bớt tác động tai hại
6.3 Sự trỗi dậy của dòch hại và phát sinh dòch thứ cấp:
Các dòch hại trong tự nhiên thường bò khống chế bởi các thiên đòch và tạo ra một sự
cân bằng về dân số. Do đó trừ khi dùng loại thuốc rất chuyên tính, phần lớn các thuốc
đều giết hại luôn cả thiên đòch. Các thiên đòch thoát chết do thuốc cũng sẽ chết vì
thiếu thức ăn là các dòch hại đã bò thuốc tiêu diệt hết. Bởi vì các thiên đòch sống tùy
thuộc vào dòch hại nên chúng cần nhiều thời gian hơn để phát triển dân số. Vì vậy, sau
khi sử dụng thuốc, dòch hại có thể di chuyển trở lại nhanh chóng, lúc đó còn lại quá ít
thiên đòch để tiêu diệt dòch hại, chúng sẽ bùng phát dân số nhanh chóng hơn trước, đây
là sự trỗi dậy của dòch hại. Một vấn đề khác liên quan đến việc sử dụng TBVTV là sự
phát sinh dòch thứ cấp. Các dòch hại thứ cấp trước đây do bò thiên đòch kiềm hãm và bò
dòch hại chính cạnh tranh, khi các cạnh tranh này bò mất đi thì dòch hại thứ cấp có cơ
hội để phát sinh mạnh mẽ gây thiệt hại kinh tế.
6.4 nh hưởng đến sinh vật hoang dã: Sinh vật hoang dã có thể bò thiệt hại do
TBVTV trực tiếp khi bò trúng độc hoặc gián tiếp khi nguồn thức ăn hoặc nơi sinh sống
của chúng bò mất đi. Các động vật có xương sống kể cả chim thường kiếm ăn và cư trú
gần các cánh đồng có dùng TBVTV. Đôi khi chúng là bò ngộ độc do các mồi bã độc
hoặc chúng ăn các dòch hại bò chết do TBVTV. Mặc dù TBVTV có thể không giết chết
trực tiếp các động vật hoang dã nhưng thuốc làm cho hệ miễn dòch của chúng bò yếu
đi, hay nhiễm bệnh tật, ảnh hưởng đến sức sinh sản và chúng không kiếm được mồi
hoặc nước uống hoặc tự bảo vệ chống lại các thiên đòch.
Cá thường rất nhạy cảm với nhiều TBVTV có trong nước ngay cả ở nồng độ thấp. Một
số TBVTV có tính bền vững cao tích lũy lại trong chuỗi thực phẩm với nồng độ cao
dần lên trong chuỗi, đây là hiện tượng tích lũy sinh học. Các loài thủy cầm thì bò ngộ
nhiên tính kháng của dòch hại là một trở ngại có thể giải quyết được và tùy thuộc vào
các yếu tố di truyền và sinh học và phương thức sử dụng.
VII. Dư lượng TBVTV :
Dư lượng là phần còn lại của TBVTV sau khi xử lý trên đồng ruộng hay nông sản. Dư
lượng liên quan đến tính chất của thuốc và dạng chế phẩm, tần số và liều lượng
TBVTV xử lý và mối tương tác giữa chúng với các yếu tố môi trường. Dư lượng cũng
cần thiết trong trường hợp cần thuốc lưu lại lâu dài để tiêu diệt dòch hại. Tuy nhiên, dư
lượng lại có hại cho người tiêu thụ.
Các nước đều có những quy đònh cho phép mức tồn dư tối đa (MRL= maximum residue
limit) của TBVTV trên nông sản thực phẩm . Một số thí dụ về tiêu chuẩn này cho ở
bảng 8.4
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
Bảng 8.4
Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) trên một số nông sản của một số
thuốc BVTV do FAO đưa ra
-----------------------------------------------------------------------------------------------------Tên thông dụng
Tên khác
MRL (mg/kg)
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Diazinon
Basudin
Ngũ cốc :
0,1
Rau quả :
0,5-0,7
Dichlorvos
DDVP
Rau ăn quả khác
Cà rốt
Dipterex
Trichlorofon
Sevin
Carbaryl
Rau quả
Rau họ đậu
Các sản phẩm khác
Rau quả
Rau củ
Furadan
Carbofuran
Padan
Cartap
Polytrin, Sherpa
Cypermethrin
-----------------------------------------------------------------------------------------------------Ngoài MRL để khuyến cáo về tổng lượng dư lượng có thể hấp thu hằng ngày người ta
còn sử dụng khái niệm mức cho phép ăn vào hàng ngày (ADI= acceptable daily
intake).
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
CHƯƠNG II
Độc tính của một chất độc là khả năng gây độc của chất đó đối với cơ thể
tính theo liều lượng sử dụng. Độ độc của một loại chất độc thay đổi tùy theo
đối tượng bò gây độc thể hiện ở những liều lượng khác nhau. Liều lượng là
lượng chất độc cần có để gây một tác động nhất đònh trên cơ thể sinh vật.
Cách để xác đònh độ độc là cho các sinh vật thí nghiệm hấp thu một liều
lượng nhất đònh chất độc và theo dõi diễn tiến kết quả.
1. 2 Liều lượng và nồng độ gây chết
Trong thực tế người ta thường đề cập liều lượng gây chết 50% sinh vật thí
nghiệm, ký hiệu
LD50 (lethal dose). Đơn vò của LD50 là mg ai/kg (mg chất độc hoạt động
(active ingredient) trên mỗi kg thể trọng của sinh vật thí nghiệm). Độc tính
còn được diễn tả như là nồng độ hơi hoặc bụi trong không khí hoặc lượng
chất độc dạng lỏng hòa tan trong nước sông suối hồ có thể gây chết cho 50%
số sinh vật thí nghiệm . Nồng độ này được ký hiệu là LC50 (lethal
concentration). LC50 có đơn vò là microgram (10-6 gram) trên mỗi lít không
khí hoặc nước. TBVTV xâm nhập vào cơ thể thông qua miệng, da, mắt,
phổi. TBVTV còn có thể được tiêm vào cơ thể qua tónh mạch. LD50 thường
được tính qua đường da hoặc miệng.
Một loại thuốc có LD50 cao chưa chắc là an toàn, liều lượng bán gây chết
của một số thuốc cũng có thể gây ra các triệu chứng ở da và mắt như: kích
ngứa, đau đầu, ói mửa và các tật bệnh khác.
Bảng 2.1
Một số ví dụ về LD50 của thuốc:
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------Hóa chất
Tên thương mại
LD50
Loại thuốc BVTV
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------Carbofuran
5200
DN
Captan
9000
DN
Metalaxyl
Ridomil
670
DN
Glyphosate
Roundup
4300
Diệt cỏ (DC)
Trifluraline
Treflan
3700
DC
2,4-D
375
DC
Simazine
Princep
5000
DC
Propagite
Omite
2200
Diệt nhện (DNh)
Difocol
Kelthane
đáng kể : LD50 = 5000 - 15000 mg/kg
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
1. 3 Mức không thấy được hiệu ứng của thuốc (No Observable Effect
Level = NOEL)
Là liều lượng tối đa của một chất độc không tạo ra được một hiệu ứng thấy
rõ rệt ở các động vật thí nghiệm . NOEL thường được dùng làm hướng dẫn
để lập ra các mức tiếp xúc tối đa ở người và thiết lập các mức dư lượng chấp
nhận được trên các loại nông sản. Thông thường, mức tiếp xúc và mức dư
lượng chấp nhận được được quy đònh khoảng 100 đến 1000 lần nhỏ hơn
NOEL để có được sự an toàn cần thiết.
1. 4 Trò số ngưỡng giới hạn (Threshold Limit Value = TLV)
TLV đối với một hóa chất, chẳng hạn như chất được dùng làm thuốc xông
hơi là nồng độ của hóa chất (tính theo ppm ) không tạo ra những ảnh hưởng
xấu cho sinh vật trong một khoảng thời gian nào đó. TLV thông dụng nhất
thường áp dụng cho nông dân là nồng độ của hóa chất mà nông dân phải
chòu đựng trong vòng 8 giờ mỗi ngày và trong 5 ngày liên tục. Đôi khi có
những trò số TLV ngắn hạn áp dụng cho nông dân vì công việc phải đi vào
vùng xử lý thuốc. Tính TLV bằng cách cho sinh vật tiếp xúc với những nồng
độ chất độc khác nhau rồi khảo sát và phân tích các kết quả.
TBVTV thường được phân thành 3 hạng I, II, và III. Hạng I là những
TBVTV rất độc, sử dụng phải rất hạn chế. Hạng III gồm các TBVTV ít độc
hại nhất. Mỗi một loại mang những dấu hiệu khác nhau trên nhãn và có quy
chế riêng.
1.4.1 Các TBVTV trong Hạng I
Các TBVTV thuộc Hạng I có LD50 đường miệng bằng hoặc nhỏ hơn 50
mg/kg và LD50 qua da bằng hoặc nhỏ hơn 200 mg/kg. Theo quy ước quốc tế,
các nhãn thuốc nhóm này có ghi chữ “Nguy hiểm” cùng với chữ ”Chất độc”
liều lượng LD50 để chỉ đònh độ độc của thuốc đối với người lớn khoẻ mạnh.
Đối với người già, trẻ em và phụ nữ có thai thì chỉ số đó còn nhỏ hơn nhiều
nữa. Trong trạng thái say rượu khả năng đề kháng của người say còn thấp
hơn rất nhiều lần.
Ngoài sự sai biệt do các giống sinh vật khác nhau đem lại, LD50 còn thay đổi
theo con đường xâm nhập của thuốc vào cơ thể. Chất độc thường có thể xâm
nhập vào cơ thể sinh vật theo 3 con đường: tiêu hóa, tiếp xúc và hô hấp. Do
đó chúng ta cũng có 3 loại LD50 tương ứng:
- LD50 qua đường miệng (Oral LD50): thuốc xâm nhập vô đường tiêu hoá.
- LD50 qua đường da (Dermal LD50): thuốc xâm nhập qua da do tiếp xúc.
- LD50 qua đường thở (Inhalation LD50); thuốc xâm nhập đường hô hấp.
Trong 3 loại này, LD50 qua hô hấp thường có trò số thấp nhất bởi vì thuốc
xâm nhập qua hệ hô hấp sẽ được nhanh chóng chuyển vào máu, đưa đi khắp
cơ thể và gây độc cấp kỳ. Kế đến là sự xâm nhập của chất độc qua đường
DOWNLOAD» WWW.AGRIVIET.COM
tiếp xúc, nhất là đối với chất độc dễ hoà tan trong mô mỡ, hoặc là khi thuốc
rơi vào các vò trí như cánh mũi, mắt, cổâ hoặc vết thương.
Các thuốc có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác
nhau:
lũy.
* Các thuốc gốc lân có độ độc cấp tính cao nhưng ít hoặc không tích
* Các thuốc gốc Clo có độ độc cấp tính không lớn nhưng tích lũy
trong mỡ.
* Các thuốc vô cơ như Cu và S có độ độc kéo dài.