Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến vi sinh vật đất trồng chè - Pdf 10

Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến vi
sinh vật đất trồng chè

Nguyễn Văn Tuyến

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học Môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Xuân Cự
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), Vi sinh vật (VSV) trong
đất, Tác động của hóa chất BVTV tới VSV đất và một số tính chất cơ bản của
HCBVTV sử dụng trong thí nghiệm. Khái quát về tình hình sử dụng đất và sản xuất
chè tại vùng Tân Cương, Thái Nguyên. Nghiên cứu một số tính chất cơ bản trong đất
Tân Cương, ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất BVTV hóa học Actardor 100 WP
tới khu hệ vi sinh vật đất, ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất BVTV sinh học
Reasegant 3.6EC tới VSV trong đất. Đề xuất một số khuyến nghị tích cực để duy trì
và bảo vệ hệ vi sinh vật đất tại vùng Tân Cương, Thái Nguyên.

Keywords: Ô nhiễm môi trường; Ô nhiễm đất; Hóa chất bảo vệ thực vật; Vi sinh vật;
Đất trồng chè

Content
MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rất thuận lợi
cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng tạo điều kiện tốt cho sự phát sinh, phát triển của
sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để phòng
trừ sâu hại, dịch bệnh giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng
và chủ yếu. Cùng với phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật được kì vọng là yếu tố quan trọng để
đảm bảo cho một vụ mùa bội thu. Tuy nhiên, do các loại hóa chất bảo vệ thực vật thường là
các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của chúng là rất độc hại với sức khoẻ con người

Những nghiên cứu của đề tài góp thêm vào cơ sở dữ liệu về ảnh hưởng của một số hóa
chất bảo vệ thực vật đến tính đa dạng của vi sinh vật đất ở vùng nghiên cứu và làm cơ sở khoa
học cho việc đề xuất các biện pháp ứng dụng vào thực tiễn sản xuất ở địa phương. 3
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật
1.1.1. Khái niệm và phân loại hóa chất BVTV
1.1.1.1. Khái niệm hóa chất BVTV
1.1.1.2. Phân loại hóa chất BVTV
1.1.2. Thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
1.1.2.1. Thực trạng sử dụng HCBVTV trên thế giới
1.1.2.2. Thực trạng sử dụng HCBVTV tại Việt Nam
1.1.3. Tồn lưu và chuyển hóa của hóa chất BVTV trong môi trường
1.2. Vi sinh vật trong đất
1.2.1. Thành phần và sự đa dạng của các VSV đất
1.2.1.1. Vi khuẩn
1.2.1.2. Xạ khuẩn
1.2.1.3. Nấm
1.2.2. Vai trò của vi sinh vật đất
1.2.3. Sự phân bố của sinh vật trong đất
1.2.3.1. Sự phân bố VSV theo loại đất
1.2.3.2. Sự phân bố của sinh vật theo độ sâu

sử dụng. Đất ở Tân Cương được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, trong đó quan trọng
nhất là đất trồng trọt (trồng chè và trồng lúa), đất ở và đất xây dựng các công trình công cộng
phục vụ cho đời sống của nhân dân.
Trong tổng số diện tích đất nông nghiệp thì diện tích đất trồng chè chiếm tỷ lệ lớn nhất
(450 ha), đất dùng để nuôi trồng thủy sản nước ngọt chủ yếu là diện tích mặt ao chứa nước
tưới cho chè ít có giá trị kinh tế.
3.1.2. Tình hình sản xuất chè ở Tân Cương
Tân Cương, Thái Nguyên là vùng trồng chè truyền thống, có lịch sử thâm canh chè lâu
đời và là xã sản xuất chè lớn nhất của tỉnh thái Nguyên.
Tính đến cuối năm 2011, diện tích trồng chè ở xã Tân Cương là 450 ha, sản lượng búp
khô đạt 1.100 tấn/năm, tổng giá trị từ cây chè đạt trên 70 tỷ đồng, chiếm 79% GDP của xã.
Giá trị thu nhập từ cây chè đạt 120 triệu đồng/ha/năm, có nhiều hộ thu nhập từ 350 đến 400
triệu đồng/ha/năm. Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,2 triệu đồng/năm.
Về cơ cấu giống, chè Trung du vẫn chiếm diện tích chủ yếu (75%), các giống khác
như TRI 777, PH1, LDP1, LDP2, Kim Tuyến, Âm Tích, Bát tiên chiếm tỷ lệ nhỏ (25%).
3.1.3. Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại Tân Cương
Tân Cương là vùng trồng chè vùng thâm canh cao với trung bình từ 7 - 8 lần hái chè
trong 1 năm, trung bình mỗi lần hái chè cách nhau từ 30 - 35 ngày. Do điều kiện thời tiết thích
hợp, các loại sâu bệnh có khả năng xuất hiện và phát triển với mật độ cao. Các loại sâu bệnh
chủ yếu trên cây chè là sâu như rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi và các loại bệnh
như nấm tóc, thối búp, thối rễ, mốc trắng, phồng lá chè, héo xanh….Vì vậy khoảng thời gian
giữa hai lần hái chè, người dân thường phun hóa chất BVTV từ 2 - 4 lần, trong đó có ít nhất
một lần phun trừ bệnh và một lần phun hóa chất diệt trừ sâu hại, các lần phun cách nhau từ 7 -
10 ngày. Tùy vào điều kiện khí hậu trong từng mùa và các loại sâu bệnh phát sinh mà người
dân sẽ sử dụng các loại thuốc BVTV khác nhau. Ví dụ như mùa xuân chủ yếu cần phòng trừ
nấm bệnh phồng lá chè do loại nấm bệnh này sẽ bùng phát rất mạnh mẽ khi gặp điều kiện ẩm
ướt đầu xuân. Thông thường, người dân hay phun thuốc BVTV với liều dùng lớn hơn 4 - 6
lần so với khuyến cáo của nhà sản xuất. Một số loại dịch hại như nấm tóc cho đến nay vẫn
chưa có phương thức diệt trừ triệt để nên mỗi khi bệnh nấm tóc xuất hiện người dân thường
cào và nhổ loại nấm này đi kết hợp với sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ cho các

Nhũ dầu
Sâu cuốn lá nhỏ
5
Javidan 100WP
Imidacloprid >96%
Bột hòa nước
Rầy
6
Chlorphos
500EC
Chlorpyrifos Ethyl 475
g/l + Lambda-
cyhalothrin 25g/l
Nhũ dầu
Rầy
7
Wavotox 585
EC
Chlorpyrifos Ethyl
530g/l + Cypermethrin
55g/l
Nhũ dầu
Sâu rầy, bọ cánh tơ
8
Serpal Super
600EC
Chlorpyrifos Ethyl
500g/l + Cypermethrin
100g/l
Nhũ dầu

36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20 tháng 05 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn) [1]. Trong số các thuốc BVTV trên chỉ có Reasegant 3.6 EC và Sokupi 0.5
LS là dòng thuốc trừ sâu sinh học được sử dụng. Các thuốc trừ sâu hóa học được sử dụng thì
có đến 5/11 loại thuốc có hoạt chất Imidacloprid và Actardor 100WP là loại thuốc được sử
dụng phổ biến nhất.
3.2. Một số tính chất cơ bản trong đất nghiên cứu
Một số tính chất cơ bản của đất nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.2.
Bảng 3.2. Một số tính chất đất thí nghiệm
Chỉ tiêu
Đơn vị
Giá trị trung bình

7
Dung trọng
g/cm
3
1,34
OM
%
3,62
pH
KCl

4,14
N
ts
%
0,24
P
ts

Sét
%
31,38

Kết quả xác định cho thấy dung trọng của mẫu trung bình là 1,34 g/cm3, theo những
số liệu của Bondarev (1995) thì những giá trị này tương ứng với loại đất được coi là thích hợp
với đại bộ phận cây trồng.
Hàm lượng chất hữu cơ trung bình trong các mẫu phân tích khá cao (3,62 %). Theo
thang đánh giá về chất hữu cơ trong đất của Lê Văn Tiềm, 1998 cho thấy đất có hàm lượng
chất hữu cơ trung bình khá. Với kết quả này đất thì trồng chè Tân Cương có khả năng duy trì
sản xuất bền vững.
Giá trị pH trung bình là 4,14 khá phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cây chè (môi
trường pH thích hợp cho trồng chè là 4,5 đến 5,0).
Hàm lượng N và P tổng số (N tổng số trung bình là 0,24 %; P tổng số trung bình là
0,12 %) trong đất nghiên cứu ở mức giàu (theo thang đánh giá của Hội khoa học đất Việt
Nam, 2000). Tuy nhiên, hàm lượng K tổng số trong đất nghiên cứu ở mức nghèo do điều kiện
khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều quá trình phong hóa các khoáng có chứa K xảy ra
mạnh, K rất dễ bị rửa trôi.
Hàm lượng N dễ tiêu tại đất nghiên cứu đều ở giàu (9,43 mg/100g). Tuy nhiên, hàm
lượng P và K dễ tiêu (P dễ tiêu là 4,06 mg/100g; K dễ tiêu là 5,16 mg/100g) lại ở mức nghèo.
3.3. Ảnh hƣởng của việc sử dụng hóa chất BVTV hóa học Actardor 100 WP tới khu hệ
vi sinh vật đất
Actardor 100WP là hóa chất BVTV hóa học với hoạt chất Imidacloprid (>96%) được
thương mại hóa năm 1991 và được sử dụng rộng rãi cho mục đích bảo vệ thực vật. Mặc dù

8
ứng dụng hoạt chất Imidacloprid đã được phổ biến trong canh tác nông nghiệp nhưng tác
động của chúng với cộng đồng vi sinh vật đất đã không được đánh giá đầy đủ. Một vài nghiên
cứu về ảnh hưởng của Imidacloprid trên cộng đồng vi sinh vật đất đã cho thấy tác dụng phụ
của thuốc trừ sâu này tới các nhóm khác nhau của các vi khuẩn đất.

CT2
7,96
6,80
6,51
6,96
6,25
6,31
CT3
7,96
6,07
6,13
6,72
6,33
5,71

Trong mẫu đối chứng CT0 sự suy giảm vi khuẩn tổng số có thể do sự suy giảm của
hàm lượng các chất hữu cơ trong đất (chỉ bổ sung phân bón và chất hữu cơ khi bắt đầu thí
nghiệm).
Trong CT1 vi khuẩn giảm trong 10 ngày đầu thí nghiệm do tác động của hoạt chất
Imidacloprid và có tăng lên trong ngày thứ 20 đến 30. Đến ngày thứ 60 thì vi khuẩn trở về
mức khá cân bằng với mẫu đối chứng. Điều này chứng tỏ với mức sử dụng hóa chất BVTV
Actardor 100WP ở mức khuyến cáo chỉ ức chế vi khuẩn trong thời gian ngắn, sau đó có tác
động kích thích vi khuẩn sau 20-30 ngày và ổn định sau 60 ngày sử dụng.
Trong CT2 với liều lượng cao gấp 5 lần mức khuyến cáo thì vi khuẩn tổng số giảm so
với mẫu đối chứng trong 20 ngày đầu thí nghiệm do tác động ức chế của Imidacloprid ở nồng
độ cao có thể kéo dài hơn, ngày thứ 30 đến 60 tăng không đáng kể so với mẫu đối chứng.
Trong CT3 với liều lượng cao 100ml/360 m
2
, thể hiện rõ ràng hơn mức độ ảnh hưởng
của hóa chất BVTV Actardor 100WP đối vi khuẩn. Điều này chứng tỏ ở liều lượng cao hoạt

6,32
CT1
6,82
6,77
6,96
7,15
8,26
8,94
CT2
6,82
6,85
7,14
7,54
8,10
8,03
CT3
6,82
6,57
6,32
6,15
5,45
6,13

Trong mẫu đối chứng CT0 cũng tương tự như vi khuẩn tống số xạ khuẩn cũng có xu
hướng giảm theo thời gian thí nghiệm, tuy nhiên mức biến động không lớn.
Trong mẫu thí nghiệm CT1 với mức sử dụng liều lượng Actardor 100WP 10ml/360
m
2
, ta thấy xạ khuẩn có xu hướng tăng theo thời gian thí nghiệm so với mẫu đối chứng và vẫn
chưa có dấu hiệu suy giảm sau 60 ngày thời gian thí nghiệm (tăng liên tiếp từ 6,77 x10


11
Bảng 3.5. Số lượng nấm ở các mẫu đất thí nghiệm 1
(10
3
CFU/g đất)
Công thức
0 ngày
5 ngày
10 ngày
20 ngày
30 ngày
60 ngày
CT0
6,97
6,34
5,33
4,65
4,10
3,97
CT1
6,97
7,58
9,56
7,05
6,11
5,24
CT2
6,97
7,02

CFU/g đất thấp hơn 3,97 x10
3
CFU/g đất so với
mẫu đối chứng).
Có thể nói rằng ở giai đoạn đầu, với nồng độ 10ml/360 m
2
thì Actardor có khả năng
kích thích một số loài nấm phát triển, nhưng ở các giai đoạn tiếp theo, khu hệ sinh vật sẽ trở
về đúng trạng thái cân bằng của nó sự phát triển chủ yếu phụ thuộc vào các điều kiện môi
trường. Kết quả này phản ánh sự tác động khá mạnh của Actardor đến quần thể vi nấm trong
đất. Nó có tác động kích thích sự tăng trưởng của các vi nấm, đặc biệt là ở liều dùng 10ml hóa
chất /360 m
2
. Ở liều dùng cao hơn (50 và 100 ml /360 m
2
), các ảnh hưởng này là nhỏ hơn rất
nhiều.
3.3.2. Ảnh hưởng của việc sử dụng Actardor 100 WP tới sinh khối vi sinh vật
3.3.2.1. Ảnh hưởng của sử dụng Actardor 100WP đến C trong sinh khối VSV

12
Vi sinh vật trong đất có vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ và
đặc biệt VSV chuyển hóa các hợp chất của Cacbon để khép kín chu trình C trong tự nhiên.
Trong quá trình chuyển hóa các hợp chất, vi sinh vật sẽ hấp thụ một phần nhỏ để tạo ra sinh
khối cho cơ thể. Do đó C trong sinh khối VSV sẽ đánh giá khả năng phân hủy các hợp chất
hữu cơ trong đất thông qua hoạt động của các VSV.
Xu hướng biến đổi về tổng C trong sinh khối VSV cũng diễn ra tương tự như sự biến
động số lượng VSV tổng số trong đất ở các công thức thí nghiệm.
Kết quả phân tích C trong sinh khối VSV được trình bày trong bảng 3.6.
Bảng 3.6. Tổng C trong sinh khối VSV ở các mẫu đất thí nghiệm 1

374,9
343,3
333,6
312,1
CT1
406,5
353,5
355,5
359,6
363,7
328,5
CT2
406,5
346,8
332,1
354,9
318,8
321,8
CT3
406,5
309,6
312,6
342,8
322,9
291,2

13
chuyển hoá N hữu cơ, mặt khác lại hấp thụ một lượng N vô cơ để tổng hợp thành protein (N
hữu cơ). Tất cả các nhóm vi sinh vật, nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn đều cần N để sinh trưởng và
sinh sản. Số lượng VSV tổng số ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển hóa N trong đất, từ

CT0
68,8
62,6
52,6
45,9
40,5
39,2
CT1
68,8
74,8
94,4
69,6
60,3
51,7
CT2
68,8
69,3
77,4
64,6
49,7
40,8
CT3
68,8
68,9
70,3
40,9
34,1
31,3

14

5 ngày
10 ngày
20 ngày
30 ngày
60 ngày
CT0
7,96
7,54
7,35
6,73
6,54
6,12
CT4
7,96
7,43
7,27
6,65
6,43
6,10
CT5
7,96
5,80
7,11
6,56
6,35
6,06
CT6
7,96
4,97
6,57

0 ngày
5 ngày
10 ngày
20 ngày
30 ngày
60 ngày
CT0
6,82
6,74
6,53
6,46
6,40
6,32
CT4
6,82
5,75
6,57
6,25
5,87
5,75
CT5
6,82
4,11
4,23
6,50
5,39
5,18
CT6
6,82
2,21

30 ngày
60 ngày
CT0
6,97
6,34
5,33
4,65
4,10
3,97
CT4
6,97
4,95
5,27
4,63
4,07
3,95
CT5
6,97
4,11
4,33
4,58
4,05
3,94
CT6
6,97
2,23
3,14
3,67
3,87
3,89

Kết quả phân tích C trong sinh khối VSV cho thấy sự biến động không lớn của các vi
sinh vật phân hủy C trong đất.
Trong 5 ngày đầu thí nghiệm, C trong sinh khối VSV giảm mạnh ở 2 công thức CT5
và CT6 do sự giảm của vi sinh vật tổng số gây ức chế quá trình tổng hợp C hữu cơ của vi sinh
vật.
Tổng C trong sinh khối VSV ở các mẫu thí nghiệm vào các ngày tiếp theo gần như cân
bằng hơn do sự phục hồi nhanh của vi sinh vật tổng số trong đất, mức độ cân bằng phụ thuộc
vào liều lượng hóa chất BVTV được sử dụng. Với công thức CT4 sử dụng hàm lượng hóa
Công thức
0 ngày
5 ngày
10 ngày
20 ngày
30 ngày
60 ngày
CT0
406,5
384,6
374,9
343,3
333,6
312,1
CT4
406,5
382,7
374,4
342,5
331,2
314,2
CT5

mức giảm tỉ lệ thuận với liều lượng hóa chất Reasegant 3.6EC được sử dụng. Mức giảm nhỏ
nhất ở công thức CT4 và giảm mạnh nhất là CT6.
Đến ngày thí nghiệm thứ 10, N trong sinh khối VSV trong công thức CT4 cân bằng so
với mẫu CT0, trong khi đó N trong sinh khối VSV ở các công thức CT5 và CT6 vẫn nhỏ hơn
mẫu đối chứng CT0.
Từ ngày thí nghiệm thứ 20 trở đi, N trong sinh khối VSV của cả 2 công thức CT5 và
CT6 đã gần như cân bằng so với mẫu đối chứng CT0. Điều này chứng tỏ sự phục hồi của vi
sinh vật tổng số trong đất.
Tóm lại, ảnh hưởng của hóa chất BVTV sinh học Reasegant 3.6EC có tác động làm
giảm C và N trong sinh khối VSV tương ứng với mức giảm vi sinh vật tổng số trong đất trong
Công thức
0 ngày
5 ngày
10 ngày
20 ngày
30 ngày
60 ngày
CT0
68,8
64,5
61,9
57,3
53,6
52,1
CT1
68,8
60,0
63,9
56,8
54,9

phần của VSV trong đất và ở mức sử dụng cao khả năng phục hồi của VSV là chậm. Do đó
khuyến cáo các hộ dân sử dụng hóa chất BVTV sinh học sẽ tốt cho hệ VSV đất trồng chè hơn
so với sử dụng hóa chất BVTV hóa học.
Trong đề tài nghiên cứu ở 3 mức sử dụng HCBVTV khác nhau là theo khuyến cáo nhà
sản xuất, cao gấp 5 lần và 10 lần mức khuyến cáo. Kết quả cho thấy đối với cả hai loại hóa
chất BVTV nghiên cứu, ở mức sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hầu như ít tác động
đến hệ VSV trong đất, các mức còn lại đều ảnh hưởng rõ rệt đến VSV. Dựa trên kết quả điều
tra thực tế, các hộ dân đều sử dụng ở mức cao gấp 4-6 lần theo chỉ dẫn, do đó cần khuyến cáo
các hộ dân giảm liều lượng sử dụng xuống mức nhà sản xuất khuyến cáo để hạn chế tối đa các
ảnh hưởng đến chất lượng đất.
Nghiên cứu tuy chưa đầy đủ nhưng đã phần nào đánh giá được mức độ ảnh hưởng của
HCBVTV hóa học Actardor 100 WP ở các mức sử dụng khác nhau lên hệ VSV đất trồng chè.
Mặc dù ở các nồng độ thấp hoạt chất Imicloprid có khả năng kích thích sự sinh trưởng và phát
triển của nhóm nấm và xạ khuẩn, nhưng nếu sử dụng liên tục và lâu dài loại thuốc này có thể
làm thay đổi cơ bản thành phần VSV tổng số trong đất, dẫn đến thay đổi các tính chất của đất.
Vì vậy, cần khuyến cáo các hộ dân không nên sử dụng lâu dài Actardor 100WP nói riêng và
các loại hóa chất BVTV hóa học nói chung để hạn chế mức độ ảnh hưởng tới hệ VSV trong
đất.

20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Đất trồng chè Tân Cương, Thái Nguyên có các tính chất phù hợp cho cây chè sinh
trưởng và phát triển. Hệ vi sinh vật trên đất trồng chè cũng khá phong phú với số
lượng vi khuẩn lớn nhất (7,96 x 10
6
CFU/g đất), tiếp đến là xạ khuẩn (6,82 x 10
5

CFU/g đất) và thấp nhất là nấm (6,97 x 10

nhanh chóng, ở liều dùng 15mg/360m
2
số lượng VSV có khả năng phục hồi sau 10
ngày, ở liều dùng 75mg/360m
2
phục hồi sau 20 ngày và ở 150mg/360m
2
phục hồi sau
60 ngày sử dụng. Mức độ ảnh hưởng của hóa chất BVTV sinh học Reasegant 3.6EC
lên C và N trong sinh khối VSV cũng tương tự như ảnh hưởng đối với VSV tổng số.

KIẾN NGHỊ

21
Vì nghiên cứu chỉ mới được thực hiện trong điều kiện nhà lưới, do vậy cần có những
nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là trong điều kiện tự nhiên để có đầy đủ cơ sở để kết luận về ảnh
hưởng của hai loại hóa chất BVTV đã nghiên cứu nói riêng và các hóa chất BVTV khác nói
chung đến hệ VSV đất ngoài đồng ruộng.

References
Tài liệu Tiếng Việt
1. Bộ NN & PTNT (2011), “Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử
dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam”, Thông tư số 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20 tháng
05 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
2. Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng và cộng sự (2004), “Dư lượng hóa chất BVTV trong đất
và nước”, Tạp chí Y học thực hành, tập XIV.
3. Nguyễn Lân Dũng (1983), “Thực tập VSV học”. NXB Đại học và Trung học chuyên
nghiệp - Hà Nội.
4. Lê Đức (2006), “Hóa học đất”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Lê Đức (2004), “Một số phương pháp phân tích môi trường”, NXB Đại học Quốc gia

BVTV tại 1 huyện đồng bằng và 1 huyện miền núi phía Bắc”, Đề tài cấp Bộ, Trường
Đại học Y tế Công cộng Hà Nội.
18. Trần Kông Tấu (2005), “Vật lý thổ nhưỡng môi trường”, Nhà xuất bản Đại học Quốc
Gia, tr. 21, 83 – 85, 119.
19. Nguyễn Xuân Thành (2009), “Giáo trình sinh học đất”, NXB Giáo dục.
20. Trần Viết Thắng, Phạm Thị Ngọc (2004), “Ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật
đến sức khoẻ cộng đồng tại Yên Bái”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XIV, số 4(67) phụ
bản, tr. 96.
21. Tổng cục thống kê (2010), “Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu năm 2010”, Báo cáo
Tổng cục thống kê – Hà Nội.
22. Tổng luận khoa học kỹ thuật - kinh tế (1997), “Ô nhiễm môi trường do hoá chất dùng
trong nông nghiệp Việt Nam và định hướng giải pháp”, Bộ Khoa học - Công nghệ -
Môi trường, số 5 (111), Hà Nội tr. 2-16.
23. Trung tâm thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn (2009), “Báo cáo ngành thuốc
bảo vệ thực vật Việt Nam quý II/2009 và triển vọng”, Bộ Nông nghiệp - PTNT, Hà
Nội.
24. Trần Văn Tùng, Ngô Tiến Dũng (2003), “Nghiên cứu mối liên quan giữa liều độc -
thời gian - hiệu quả và tác dụng của thuốc trừ sâu trong môi trường không khí, đất và
nước”, Hội nghị khoa học Quốc tế Y học lao động và Vệ sinh Môi trường lần thứ I,
Hà Nội, tr. 762-765.
25. Nguyễn Thị Vân (2005), “Nghiên cứu phương pháp phân tích siêu vi lượng một số
hóa chất BVTV”, Luận văn tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.
Tài liệu Tiếng Anh

23
26. Abid Subhani, Ayman M. El-ghamry, Huang Chang Yong and Xu Jianming (2000),
“Effects of Pesticides on Soil Microbial Biomass”, College of Natural Resources and
Environmental sciences, Zhejiang University, Hangzhou 310029, China.
27. Anamai Theskatuek et al (2005), “Association between PON1 activity and toxicity
among farm workers exposed to chlorpyrifos pesticide in Rayong province, Thailand”,

39. Schimdt E.L., A.C. Caldwell, R.E.Carlyle, M.I. Timonin, R.C. Dawson (1967), “A
practical manual of soil microbiology laboratory methods”, Food and Agriculture
Organization of the united nation (FAO), Rome.
40. Smith, J. L. and Paul, E. A. (1990), “The significance of soil microbial biomass
estimations”, In: Soil Biochemistry 6, Bollag, J M. and Stotzky, G. (eds.). Marcel
Dekker, Inc., New York, pp. 357-396.
41. The Future of Pesticide in China 2009-2015 (2009), CCM International This Industry
Analysis Report is.
42. Turco, R. F., Kennedy, A. C., and Jawson, M. D. (1994), “Microbial indicators of soil
quality”, In: Defining Soil Quality for a Sustainable Environment, Doran, J. W.,
Coleman, D. C., Bezdicek, D. F., and Stewart, B. A. (eds.), Soil Science Society of
America, Inc., Madison, pp. 73-90.
43. United States Department of Agriculture (2001), Guidelines for Soil Quality
Assessment in Conservation planning, p. 3.
44. WHO (1990), “Public Health impact of Pesticides used in Agriculture”, Geneva,
Switzerland.
Tài liệu từ Website
45. http://www.baovecaytrong.com/
46. http://garden.lovetoknow.com/
47. http://www.omafra.gov.on.ca/
48. http://www.agf.gov.bc.ca/
49. http://pmep.cce.cornell.edu/
50. http://www.ctu.edu.vn/colleges/agri/gtrinh/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status