DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT Ý NGHĨA
CSBVSK Chăm sóc bảo vệ sức khỏe
CS Cộng sự
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật
PAM Chương trình lương thực thế giới
FAO Tổ chức nông lương thế giới
KH&CN Khoa học và công nghệ
VSV vi sinh vật
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc
WHO Tổ chức y tế thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Bảng 2.1: Danh sách một số khu vực kho chứa HCBVTV
trên địa bàn tỉnh Thái nguyên 20
Bảng 4.1. Dân số trung bình thành phố Thái Nguyên
giai đoạn (1999– 2010) 33
Bảng 4.2: Vị trí lấy mẫu đất 37
Bảng 4.3: Kết quả phân tích mẫu đất tại Phúc Trìu 38
Bảng 4.5: Kết quả phân tích mẫu đất tại Cao Khánh- Phúc Xuân 40
Bảng 4.6: Kết quả điều tra xã hội học các bệnh liên quan đến việc tiếp xúc lâu
dài với hóa chất BVTV 41
Bảng 4.7: Kết quả điều tra xã hội học các bệnh liên
quan đến phơi nhiễm HCBVTV 41
Bảng 4.8: Kết quả điều tra xã hội học về hiểu biết
của người dân về HCBVTV 42
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Hình 3.1. Vị trí lấy mẫu trên nền kho HCBVTV 28
Hình 4.1: Sơ đồ mặt bằng tổng thể khu vực nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật xã
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 26
3.3. Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1. Điều tra cơ bản 27
3.3.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tại khu vực nghiên cứu
27
3.3.3. Tác động của ô nhiễm môi trường do HCBVTV đến sức khỏe của người
dân địa phương 27
3.3.4. Hiểu biết của người dân về HCBVTV xung quanh khu vực ô nhiễm 27
3.3.5. Một số giải pháp kiểm soát ô nhiễm HCBVTV 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 27
3.4.2. Phương pháp lấy mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm 27
3.4.3. Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu 28
3.4.4. Phương pháp so sánh 28
3.4.5. Phương pháp điều tra xã hội học 28
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thành phố Thái Nguyên 29
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
4.1.1.1. Vị trí địa lý 29
4.1.1.2. Địa hình địa mạo 29
4.1.1.3. Khí hậu - thủy văn 29
4.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên 30
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 31
4.1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế 31
4.1.2.2. Dân số và lao động 32
4.1.2.3. Những nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội 33
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn,
là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa
của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài
nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp
lương thực thực phẩm cho con người. Tuy nhiên qua các hoạt động sống của
con người môi trường đất đã và đang suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng. Một
trong số đó là ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV). Ô nhiễm đất
do HCBVTV (ở khu vực lân cận các điểm tồn trữ HCBVTV quá hạn, cấm sử
dụng) dẫn đến những lo lắng về sự phát tán ra vùng xung quanh, bị rửa trôi
vào các lưu vực, có thể làm tăng nồng độ HCBVTV trong nước và trầm tích.
Từ môi trường đất, trầm tích và nước, HCBVTV sẽ xâm nhập vào chuỗi thức
ăn, đặc biệt là động vật đáy (cá, động vật thân mềm hai mảnh vỏ ), gây lo
lắng về sức khoẻ người tiêu thụ và có thể tác động bất lợi đến cả động vật trên
cạn, đóng góp vào những lo lắng về môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Được sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XX, HCBVTV góp phần không
nhỏ đảm bảo nguồn lương thực cho loài người trên thế giới. Để đáp ứng nhu cầu
sử dụng thuốc BVTV đó là sự ra đời của nhiều nhà máy sản xuất HCBVTV và
đặc biệt hơn nữa từ những năm 70 của thế kỷ XX nước ta đã thành lập các kho
trung chuyển mặt hàng này. Để đảm bảo kịp thời vụ, hầu như mỗi đơn vị từ
tuyến huyện, tỉnh đến trung ương đều có kho lưu giữ hoá chất, chỉ làm phép tính
sơ bộ trong toàn quốc có thể có đến hàng trăm kho lưu giữ tại tuyến tỉnh và
tuyến trung ương, hàng ngàn kho tại tuyến huyện, đó là chưa kể đến các kho lưu
trữ đặc biệt vì mục đích an ninh, quốc phòng hoặc chế phẩm công nghiệp, nếu
không có biện pháp kiểm soát và bảo quản việc ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng
từ những kho lưu trữ hoá chất này là khó tránh khỏi.
Một vài năm trở lại đây vấn đề về ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật tồn
dư tại các kho cũ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đang thu hút sự quan tâm rất
lớn từ dư luận và các cơ quan quản lý môi trường. Hàng loạt các điểm kho
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do tồn dư của hóa chât bảo vệ
thực vật tại kho trung chuyển hóa chất đến môi trường đất Từ đó đánh giá
các ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân địa phương và đưa ra các giải
pháp khuyến cáo nhằm xử lý triệt để ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tồn lưu tại khu vực
nghiên cứu.
- Đánh giá ảnh hưởng của việc ô nhiễm hóa chất BVTV đến sức khỏe
người dân địa phương.
- Đánh giá hiểu biết của người dân về HCBVTV tại khu vực nghiên cứu.
- Là căn cứ để lựa chọn các biện pháp xửu lý triệt để ô nhiễm môi
trường đất do hóa chất BVTV.
1.4. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nhằm nâng cao nhận thức hiểu biết về mức độ nguy hiểm của hóa chất
BVTV đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái.
1.5. Ý nghĩa thực tế
Việc thực hiện đề tài có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Kết quả của đề tài
có thể sử dụng để khuyến cáo các hoạt động sản xuất, kinh hoạt của người
dân địa phương xung quanh khu vực nghiên cứu. Có thể làm tư liệu thực hiện
các giải pháp triệt để ô nhiễm môi trường do HCBVTV.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
* Khái niệm hóa chất bảo vệ thực vật
Thuốc trừ sâu hay hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) xuất phát từ
trong nước) thì được kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lượng chất
độc (mg) trong 1m
3
không khí hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50 % cá thể thí
nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao.
Độc mạn tính (độc trường diễn): chỉ khả năng tích luỹ chất độc trong cơ
thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng. Nếu thường
xuyên làm việc nơi có chất độc (xưởng hoá chất, xử lí chất phế thải, sản xuất
và phun thuốc trừ sâu ) thì cần làm đầy đủ quy trình bảo hộ lao động, quy
định kiểm tra độ độc nơi làm việc và khám sức khoẻ thường xuyên.
* Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật. [5]
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm
bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm.
2.1.1.2. Độc tính của một số hóa chất bảo vệ thực vật điển hình
Các tác động của HCBVTV lên môi trường là do những tính chất chủ
yếu sau: dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước và dung môi, bền với quá trình
biến đổi sinh học.
Hóa chất bảo vệ thực vật cũng được những cây cối và động vật hấp thụ
và theo chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập và tích luỹ trong cơ thể người. Đặc biệt,
trong chuỗi thức ăn này cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng, HCBVTV lại được tích
luỹ với số lượng theo cấp số nhân và được gọi là khuếch đại sinh học.
2.1.1.2.1. DDT
a. Đặc điểm
5
Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hoá chất Dichlo -
Dibenzen - Trichlothan, được phát minh năm 1872. DDT có tính năng trừ sâu
trực tiếp).
Thực tế ở các tồn lưu (ví dụ như khu vực Núi Căng Phú Bình) đã ghi
nhận nhiều trường hợp những người dân trực tiếp tham gia đục phá các thùng
chứa, đào đất nhiễm về vãi ruộng bị mắc các chứng rối loạn da (nứt nẻ chảy
nước vàng), ung thư gan, mất trí nhớ [1]
c. Lan truyền và ảnh hưởng đến môi trường.
Với đặc tính khó phân giải trong môi trường DDT có thể tồn lưu trong
đất hàng chục năm. Từ ô nhiễm đất tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm hồ ao, sông
ngòi do lan truyền qua nước mưa.
DDT tồn tại trong môi trường, qua sinh vật tích luỹ và thông qua các
chuỗi thức ăn, có thể được phóng đại và khuếch tán có tính nguy hại rất lớn
đối với con người và các loài sinh vật khác. DDT phá hoại sự hấp thụ và đào
thải bình thường đối với chất Canxi, khiến cho vỏ trứng mỏng hơn, dễ vỡ và
làm cho trứng không nở thành chim non.
DDT phá hoại môi trường và sinh thái ở mức độ rất lớn. Bắt đầu từ những
năm 60 của thế kỷ 20, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT.
2.1.1.2.2. HCH và Lindan
Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)
- HCH (Hexachlorcychlorhexane)
- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH.
Tên thương mại:
- HCH: Benzex, Denzex, Dolmox
- Hexafur, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v
- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit,
- Isotox Lindanrgam, Lindanlo, Bovigam.v.v
HCH - 666 là bột trắng mùi sốc, không tan trong nước, dễ tan trong
cồn, benzen aceton, xylen, dầu hoả Sản phẩm thương nghiệp là hỗn hợp 5
đồng phân, trong đó đồng phân gamma, hay lindan, còn gọi là gammexan,
không vị, không mùi.
7
8
liên kết trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm
nhập vào cây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi
vào gây hại cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen
Khi thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào
môi trường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống
như tác hại của phân bón hoá học dư thừa trong đất. Do khả năng diệt khuẩn
cao nên thuốc bảo vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong
đất, làm hoạt tính sinh học trong đất giảm. Ở trong đất HCBVTV tác động vào
khu hệ vi sinh vật (VSV) đất, giun đất và những động vật khác làm hoạt động
của chúng giảm, chất hữu cơ không được phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng.
2.1.1.3.2. Tác động đến môi trường nước
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể trực tiếp đi vào nước do phun hoặc xử
lý nước bề mặt với HCBVTV để tiêu diệt một số sinh vật truyền bệnh cho
người. Thải bỏ HCBVTV thừa sau khi phun. Nước dùng để cọ rửa thiết bị
phun được đổ vào sông, hồ, ao, ngòi. Cây trồng được phun ngay ở bờ nước.
Rò rỉ hoặc đất được xử lý bị xói mòn.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 25% tổng lượng DDT đã sử dụng được
chuyển vào đại dương.
2.1.1.3.3. Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm không khí do HCBVTV chủ yếu do phun thuốc. Ngay trong
quá trình phun thuốc, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể
bay rất xa theo gió. Thông thường HCBVTV loại tương đối ít bay hơi như
DDT cũng bay hơi trong không khí rất nhanh khi ở vùng khí hậu nóng gây ô
nhiễm không khí và rất nguy hiểm nếu hít phải HCBVTV trong không khí. Tuy
vậy, HCBVTV cũng có thể bám dính theo các hạt bụi và xâm nhập cơ thể con
người qua hít thở hoặc bám lên rau quả xâm nhập cơ thể người qua ăn uống.
2.1.1.4. Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người
Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người bao gồm:
Nhiễm độc cấp thường gặp là: các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt
làm sáng tỏ và là tiếng chuông báo động về nguy cơ sức khỏe môi trường do
HCBVTV gây nên ở nước ta.
Theo Bộ Y tế từ năm 1980 - 1985 chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã có 2.211
người bị nhiễm độc nặng do HCBVTV, 811 người chết. Năm 1997 tại 10 tỉnh,
10
thành phố cả nước với lượng HCBVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn nhưng đã
có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mạn
tính. Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/01096.97),
tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm
(1994 - 1997) đã có 4.899 người bị nhiễm độc HCBVTV, 286 người chết (5,8%).
Các biểu hiện nhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến: đau đầu, chóng
mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn… Nhiều tác giả đã nghiên cứu
đánh giá ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khoẻ con người.
Nguyễn Duy Thiết điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp,
huyện Thanh Trì Hà Nội thấy 73 % có biểu hiện triệu chứng như nôn nao,
khó chịu, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng
rát các vùng da hở [24].
Lê Thị Thu, Nguyễn Thị Dư Loan, Hoàng Thị Bích Ngọc nghiên cứu
trên 36 người dân thường xuyên tiếp xúc với HCBVTV ở 2 xã thuộc huyện
Thường Tín, nhóm chứng gồm 32 sinh viên Học viện Quân y. Kết quả nghiên
cứu cho thấy: ở những người làm nông nghiệp, tiếp xúc dài ngày với
HCBVTV thì hoạt độ enzym cholinesterase (5931U/l) giảm so với nhóm
chứng (8359 U/l) [25].
Cao Thuý Tạo tiến hành một nghiên cứu ngang, mô tả nguy cơ nhiễm
độc HCBVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau.
Kết quả cho thấy người sử dụng HCBVTV thường có biểu hiện mệt
mỏi chóng mặt, tăng tiết nước bọt, mất ngủ. Nồng độ HCBVTV/cm
2
da sau
khi phun gấp 2 lần trước khi phun, 32,4 % đối tượng nghiên cứu có biểu hiện
HCBVTV ở 4 cơ sở sản xuất. Kết quả cho thấy giảm hoạt tính enzym
cholinesterase toàn phần chiếm 34,7 %, giảm enzym cholinesterase hồng cầu
33,8 %; enzym cholinesterase huyết tương giảm trên 30 % chiếm 8,9 % [15].
Có thể nói nhiễm độc HCBVTV là một thực tế diễn ra thường xuyên
liên tục ở tất cả các địa phương trong nước và trở thành một vấn đề lớn trong
CSBVSK người lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
Lê Kế Sơn tiến hành khám lâm sàng, cận lâm sàng cho 128 người
thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với HCBVTV và 47 người không tiếp xúc.
Kết quả thấy tỉ lệ bệnh khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tiếp xúc với
HCBVTV và nhóm chứng là: hội chứng suy nhược thần kinh, hội chứng rối
12
loạn thần kinh thực vật, viêm đường hô hấp trên mạn tính, hội chứng thiếu
máu, tổn thương gan mạn tính và bệnh ngoài da. Có sự liên quan chặt chẽ
giữa tỉ lệ bệnh với nghề nghiệp và tuổi nghề [21].
Nghiên cứu của Phạm Bích Ngân tại khu vực trồng rau ngoại thành thành
phố Hồ Chí Minh cho thấy: Do không có hoặc có phương tiện bảo vệ cá nhân
nhưng chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cùng với việc phun HCBVTV với
liều lượng tuỳ tiện và sử dụng cả những loại HCBVTV bị cấm nên đã ảnh hưởng
rất lớn đến sức khoẻ của những người trực tiếp phun. Kết quả cho thấy ảnh
hưởng xấu do HCBVTV có liên quan đến chủng loại HCBVTV và liều lượng
được sử dụng. Loại HCBVTV có độc tính cao (nhóm 1 hoặc nhóm 2) và liều
lượng càng tăng thì các triệu chứng nhiễm độc cấp cũng như tần xuất xuất hiện
các tế bào bất thường cũng tăng theo [17].
Theo Hà Minh Trung và CS (cộng sự) trong nhóm nghiên cứu đề tài
cấp nhà nước 1108, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp
xúc nghề nghiệp với HCBVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người. Với tỷ lệ
nhiễm độc HCBVTV mạn tính là 18,26 % thì số người bị nhiễm độc mạn tính
trong cả nước có thể lên tới 2,1 triệu người [26].
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
côn trùng đốt. Tài liệu của Hassall mô tả việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu
diệt các loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, con người cũng đã biết sử
dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh [11],
[17]. Giữa thế kỷ XVI người Trung Quốc đã biết dùng các chất thạch tín sau
đó là Nicotin chiết xuất từ cây thuốc lá để bảo vệ cây trồng [23]. Cuối thế kỷ
XIX các HCBVTV đã được sử dụng rộng rãi nhưng biện pháp hoá học lúc
này vẫn chưa có vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1960, HCBVTV hữu cơ ra đời làm thay đổi
vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp. Thuốc trừ nấm thuỷ
ngân hữu cơ đầu tiên ra đời vào năm 1913, tiếp theo là các thuốc trừ nấm lưu
huỳnh rồi đến các nhóm khác. DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thuỵ Sỹ năm
1924. Hàng loạt HCBVTV ra đời sau đó: hợp chất phốt pho hữu cơ đã được
phát minh năm 1942 [11], clo hữu cơ (1940-1950), các hoá chất lân hữu cơ,
các hoá chất cacbamat (1945-1950). Hoá chất trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, năm
1945 chất diệt cỏ carbamat lần đầu tiên được phát hiện ở Anh. Biện pháp hoá
14
học bị khai thác ở mức tối đa, từ cuối những năm 1950 những hậu quả xấu
của HCBVTV gây ra cho con người và môi trường được phát hiện [20].
Từ năm 1960-1980, việc lạm dụng HCBVTV đã để lại những hậu quả
rất xấu cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Trong nhân dân tư tưởng sợ
hãi, không dám dùng HCBVTV xuất hiện, thậm chí có người cho rằng cần
loại bỏ không dùng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp [20]. Chính vì điều
này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại HCBVTV mới an toàn
hơn đối với môi trường và sức khoẻ con người. Nhiều HCBVTV mới ra đời
như hoá chất trừ cỏ mới, các HCBVTV nhóm perethroid tổng hợp, các
HCBVTV bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều
tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng. Lượng HCBVTV được dùng trên thế
giới không những không giảm mà còn liên tục tăng lên [20]. Từ những năm
1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn, vai trò của biện
pháp hoá học vẫn được thừa nhận. Tư tưởng sợ HCBVTV cũng bớt dần [20],
nhập khẩu và sử dụng HCBVTV, ngoài ra một số nước sử dụng nhiều như:
Thái Lan, Nhật Bản, Brazil…Tuy vậy, mức đầu tư và cơ cấu tiêu thụ các nhóm
hoá chất tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước [20].
Trong 10 năm gần đây đã có những thay đổi trong ngành công nghiệp
HCBVTV thế giới là những hoá chất có độc tính cao đã từng bước được
loại ra khỏi thị trường và thay vào đó là các loại HCBVTV ít độc hại hơn đối
với môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
2.2.2. Công tác quản lý và sử dụng HCBVTV ở Việt Nam
Giai đoạn trước năm 1957, biện pháp hoá học hầu như không có vị trí
trong sản xuất nông nghiệp. Tháng 1 năm 1956 thành lập tổ hoá bảo vệ thực
vật của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV
ở Việt Nam [14]. Năm 1961 Cục Bảo vệ thực vật được thành lập, là một cơ
quan quản lý nhà nước thuộc Bộ NN & PTNN . HCBVTV được dùng lần đầu
trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc tại Hưng Yên (vụ đông xuân 1956-
1957), miền Nam HCBVTV được sử dụng từ năm 1962 [20].
Giai đoạn từ 1957-1990, thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu quản lý và
phân phối HCBVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện. Lượng HCBVTV
dùng không nhiều, khoảng 15.000 tấn thành phẩm/năm với hơn 20 chủng loại
chủ yếu là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh [20]. Thời kỳ 1976-1980 mỗi năm
cả nước sử dụng 16.000 tấn HCBVTV. Thời kỳ 1986-1990 trung bình mỗi
năm sử dụng 14.000 tấn HCBVTV, trong đó 55 % là lân hữu cơ, 13 % là clo
16
hữu cơ, 12 % là hợp chất carbamat còn lại là hợp chất thuỷ ngân, asen. Đa
phần là các hoá chất tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao [23].
Giai đoạn từ 1990 đến nay, kể từ khi có chính sách đổi mới năm 1986,
thị trường HCBVTV đã thay đổi cơ bản. Nền kinh tế thị trường nguồn hàng
phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện
lựa chọn HCBVTV, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân [20]. Lượng hóa
chất sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng tăng. Trong đó phần
lớn là hoá chất trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bệnh, nhóm phosphore hữu cơ
có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài sâu hại khác nhau thuộc họ
cánh phấn, cánh nửa cánh cứng và sâu 2 cánh.
- Padan: tên hóa học S,S{2-dymethylalamion-trimethylene}bis (thiocarba -
mate) hydrochlorid, tên khác Carap. Phân tử lượng: 273,8. Công thức phân tử
C7H16CIN3O2S2. Padan có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài
sâu hại khác nhau như sâu đục thân, rầy xanh đuôi đen, bọ xít hôi, bọ trĩ, sâu
tơ, sâu khoang, sâu xanh, bọ cánh tơ và sâu xếp lá hại chè. Nó được sử dụng
với nhiều loại HCBVTV khác như: Sumithion,Azodrin, hoặc Wofatox.
- Shepar: Thuộc nhóm Pyrethrin và Pyrethrinodie, trong đó Pyrethrin có
nguồn gốc tự nhiên được chiết xuất từ cây cúc, còn Pyrethrinodie được tổng
hợp. Các chất có cùng nhóm: Bioresmethrin, Cypermethrin, Deltameth-rin,
Perme - thrin, Fenvaslerate và Resmethrin được sử dụng diệt côn trùng để bảo
vệ ngũ cốc, rau quả và các nông sản thực phẩm. Shepar có thể xâm nhập qua
da, hít thở và qua ăn uống. Độc với não, kích thích phổi và gây dị ứng.
- Hóa chất 2.4D: Là thuốc diệt cỏ thuộc nhóm nội tiết tố thực vật, có tác
dụng như hocmon đối với cây trồng. Thuốc hấp thu qua da, hô hấp và thải qua
nước tiểu theo cơ chế vận chuyển tích cực. Trên thực nghiệm nếu dùng kéo dài
gây giảm trọng lượng cơ thể, giảm số lượng bạch cầu, hồng cầu, huyết sắc tố.
- Wofatox: Tên khác Methy Parathion Metaphos, Metacide. Tên hóa học
0,0dymethy 0-4-nitrophenyl photphothiorate. Phân tử lượng: 263. Wofatox có
tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài sâu hại khác nhau như sâu đục
thân, rầy xanh đuôi đen, bọ xít xanh, bọ xít hôi, bọ trĩ, sâu cuốn lá, bướm rệp lá,
bọ nhảy. Wofatox 50EC là hoá chất cấm sử dụng tại Việt Nam [3].
- Regent: Tên hoạt chất: Fipronil. Tên thương mại: Regent 5SC, 0,2G,
800G. Tác dụng đối với loại sâu hại: sâu đục thân, rầy nâu, bọ xít xanh, bọ trĩ,
18
sâu cuốn lá, kiến, nhện, sâu keo, sâu leo. Chú ý không dùng thuốc trong ruộng
lúa có nuôi tôm hoặc rửa bình xuống ao hồ.
- Aminre: Tên hoạt chất: Imidaclorid. Tên thương mại: Adinre 50EC.
Đặc điểm là thuốc thế hệ mới có tính lưu dẫn cực mạnh đặc trị rầy nâu, rầy