phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại trung tâm y tế huyện tân thành - Pdf 31

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục

shđhfbvdughuakvk

Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Đặt vấn đề

1

CHƢƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Sử dụng thuốc và các yếu tố ảnh hƣởng đến sử dụng thuốc

3
3

1.1.1. Các chỉ số về kê đơn

3

1.1.2. Các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân

3

1.1.3 Các chỉ số về cơ sở y tế

4


12

1.2.6. Yêu cầu các thuốc không nằm trong danh mục thuốc

13

1.3. Sử dụng thuốc họp lý và các tiêu chí đánh giá

13

1.3.1 Sử dụng thuốc hợp lý

13

1.3.2 Nguyên nhân và hậu quả của việc sử dụng thuốc không hợp lý

14

1.3.3 Bộ chỉ số đo lƣờng sử dụng thuốc ngoại trú

16

1.4 Thực trạng về tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện ở Việt Nam

18

1.5 Trung tâm y tế huyện Tân Thành

21

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

26

2.2.2. Cách chọn mẫu

26

2.2.3.Biến số nghiên cứu

27

2.4.Phƣơng pháp thu thập số liệu

28

2.2.4.1.Phƣơng pháp thu thập số liệu qua tài liệu sổ sách

28

2.2.4.2.Phƣơng pháp thu thập đơn thuốc ngoại trú

28

2.2.5.Xử lý và phân tích số liệu

28

2.2.5.1.Công thức tính


3.1.Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT

32

3.1.1.Phân tích danh mục thuốc tại TTYT

32

3.1.1.1.Cơ cấu thuốc theo nhóm tác dụng dƣợc lý

32

3. . .2.Cơ cấu danh mục thuốc theo quy chế chuyên môn

33

3.1.1.2.1.Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nƣ c và thuốc nhập khẩu

33

3.1.1.2.2 Tỷ lệ thuốc mang tên gốc, tên biệt dƣợc

34

3.1.1.2.3.Tỷ lệ thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu trong DMT của TTYT

35

3.1.1.2.4.Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong danh DMT tại
TT T năm 20 4


b)Cơ cấu thuốc nhóm A về xuất xứ

39

c) Phân tích các nhóm thuốc có giá trị tiêu thụ l n

40

- Nhóm thuốc điều trị nhiễm khuẩn

40

+Cơ cấu sử dụng nhóm thuốc điều trị chống nhiễm khuẩn

40

+Nhóm β – lactam có sự phân bố về các hoạt chất

41

+Một số hoạt chất chống nhiễm khuẩn có nhiều biệt dƣợc

42

-Nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết

44

-Nhóm thuốc hỗ trợ điều trị


50

3.2.1.3.Tỷ lệ thuốc mang tên gốc, tên biệt dƣợc

51

3.2.1.4.Tỷ lệ thuốc thiết yếu và thuốc chủ yếu trong đơn thuốc

52

3.2.1.5.Tỷ lệ thuốc trong đơn ngoại trú tự nguyện có trong nhà thuốc TTYT 53
3.2.1.6.Chi phí thuốc, thuốc kháng sinh trung bình mỗi đơn thuốc

54

CHƢƠNG IV. BÀN LUẬN

56

4. . Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT Tân Thành

56


shđhfbvdughuakvk

4.1.1.Cơ cấu danh mục thuốc tại TTYT

56


: thông tin thuốc

SLMH

: số lƣợng mặt hàng

SL

: số lƣợng

PT-GMHS

: phẫu thuật –gây mê hồi sức

PHCN

: phục hồi chức năng

INRUD

: hiệp hội sử dụng thuốc hợp lý thế gi i(International
network for the rational use of drugs

INN

: thuốc gốc quốc tế(International nonproprietary)

HSTC&CĐ


DLS

: dƣợc lâm sàng

CT

: công thức

CBVC

: cán bộ viên chức

ADR

: phản ứng có hại của thuốc(Adverse drug reaction)

BHYT

: bảo hiểm y tế

TTYT

: trung tâm y tế

.


DANH MỤC BẢNG

shđhfbvdughuakvk


3.5

Tỷ lệ thuốc mang tên gốc, tên biệt dược

34

3.6

Tỷ lệ thuốc thiết yếu và thuốc chủ yếu

35

3.7

Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong DMT

35

3.8

Tỷ lệ thuốc tiêm trong DMT

36

3.9

Kết quả phân tích ABC của DMT sử dụng tại TTYT Tân Thành năm
2014
3.10 Phân tích nhóm thuốc tiêu thụ thuộc nhóm A


3.19 Thực trạng thực hiện Quy chê kê đơn điều trị ngoại trú

48

3.20 Số thuốc trung bình trên một đơn thuốc

50

3.21 Tỷ lệ thuốc kháng sinh, thuốc tiêm truyền, thuốc bổ và vitamin kê
trong đơn thuốc

51

3.22 Tỷ lệ thuốc mang tên gốc và mang tên biệt dược

52

3.23 Tỷ lệ thuốc thiết yếu và thuốc chủ yếu

53

3.24 Tỷ lệ thuốc trong đơn không có trong nhà thuốc TTYT

53

3.25 Chi phí thuốc, thuốc kháng sinh trung bình của đơn thuốc

54




ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày càng phát triễn, nhu cầu bảo đảm sức khỏe của nhân dân tăng
lên đồng nghĩa với mức độ sử dụng thuốc tăng. Như vậy để hoàn thành mục tiêu
chính mà ngành Dược đã đặt ra là đảm bảo cung ứng thường xuyên ,đủ thuốc có

shđhfbvdughuakvk

chất lượng đến tận người dân và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn hiệu
quả thì công việc quản lý tốt hoạt động sử dụng thuốc tại các bệnh viện các
trung tâm có một vai trò rất quan trọng . Bộ y tế đã ban hành nhiều thông tư qui
định về sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế công lập như : Thông tư 23/2011/TTBYT hướng dẫn việc sử dụng thuốc tại các bệnh viện các trung tâm y tế vẫn còn
nhiều vấn đề chưa hợp lý : thuốc biệt dược, thuốc ngoài danh mục thuốc thiết
yếu, thuốc ngoại nhập chiếm tỉ lệ cao, tình trạng lạm dụng kháng sinh, kê đơn
thuốc biệt dược, vitamin còn phổ biến … Theo một số báo cáo sử dụng thuốc,
khánh sinh nhập khẩu chiếm 30%-40% tổng giá trị nhập khẩu thuốc, tỷ lệ sử
dụng chiếm 32,7% và chi phí sử dụng kháng sinh chiếm 56%-58% tổng chi phí
thuốc sử dụng …[1][2][3]. Trung tâm y tế (TTYT) huyện Tân Thành tại huyện
Tân Thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiệm vụ chăm lo sức khỏe cho hơn
138.000 dân và theo số liệu năm 2013 có 76.905 thẻ BHYT khoảng 55,7% dân
số. Với sự hạn chế nhiều mặt ngành y tế hiện nay chưa đáp ứng được đầy đủ
những nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt là các bệnh viện tuyến
dưới. Sự thiếu hụt về nhân sự có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trang thiết
bị hiện đại cùng với sự hạn chế danh mục thuốc cho tuyến huyện, Danh mục
thuốc theo quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ
Y tế[4] số lượng thuốc của các bệnh viện tuyến dưới rất hạn chế, số lượng hoạt
chất, chủng loại thuốc không đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân
dân. Nhằm tìm hiểu hoạt động quản lý sử dụng thuốc thực tế tại trung tâm y tế
huyện Tân Thành, đóng vai trò chính trong việc chăm sóc sức khỏe cho người

nhằm bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý .Các chỉ số sử dụng thuốc này xây dựng để
sử dụng như là các phương pháp đo lường việc thực hiện ba lĩnh vực nói chung
liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc[5].
-Thực hành kê đơn thuốc của người cung cấp dịch vụ y tế.
-Những yếu tố cơ bản trong việc chăm sóc người bệnh , bao gồm cả thăm
khám lâm sàng và cấp phát thuốc.
-Các yếu tố đặc trưng của cơ sở để hỗ trợ việc sử dụng thuốc hợp lý.
1.1.1.Các chỉ số về kê đơn
-Số thuốc trung bình cho mỗi đơn : theo khuyến cáo 1-2 thuốc.
-Tỷ lệ % các thuốc được kê theo tên gốc : khuyến cáo 100%.
-Tỷ lệ % các đơn thuốc có kê kháng sinh uống : khuyến cáo 20-30%.
-Tỷ lệ % các đơn có kê thuốc tiêm : khuyến cáo 20%.
-Tỷ lệ % thuốc được kê từ danh mục thuốc thiết yếu hoặc trong phác đồ:
.

khuyến cáo 100%.

1.1.2.Các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân
-Thời gian khám bệnh cho một bệnh nhân.
-Thời gian phát thuốc trung bình cho một bệnh nhân.
-Tỷ lệ thuốc được cấp thực tế so với tổng số thuốc được kê.
-Tỷ lệ % thuốc được ghi nhãn và hướng dẫn sử dụng.

3


-Kiến thức của bệnh nhân hiểu đúng về liều dùng.
1.1.3.Các chỉ số về cơ sở y tế
-Khả năng sẵn có danh mục thuốc thiết yếu.
-Khả năng sẵn có thuốc thiết yếu tại cơ sở.



-Chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy dủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ sơ bệnh án,
không viết tắt tên thuốc, không ghi ký hiệu. Nội dung chỉ định thuốc bao gồm ;
tên thuốc , nồng độ (hàm lượng), liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24
giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc, đường dùng
thuốc và những chú ý đặc biệt khi dùng thuốc. .

shđhfbvdughuakvk

-Lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh :
+ Căn cứ vào tình trạng người bệnh , mức độ bệnh lý ,đường dùng của thuốc
để ra y lệnh đường dùng thuốc hợp lý .
+ Chỉ dùng đường tiêm khi bệnh nhân không uống được thuốc hoặc khi sử
dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với
thuốc chỉ dùng đường tiêm .
Ngoài ra, bác sĩ phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho
điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh .
Đặc biệt theo chỉ thị 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung
ứng ,sử dụng thuốc trong bệnh viện đã yêu cầu : “Đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh
theo DMTCY sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh , không để người bệnh nội trú
phải tự mua thuốc trong DMTCY” . Để đảm bảo thuốc chữa bệnh HĐT&ĐT
của bệnh viện phải thường xuyên kiểm tra DMTBV để bổ sung các thuốc cần
phải thực hiện tốt qui định trên.
Mặc dù được văn bản pháp luật qui định rất chặt chẽ nhưng hoạt động
chuẩn đoán , kê đơn vẫn còn nhiều sai sót , đặc biệt là trong hoạt động kê thuốc
cho bệnh nhân. Qua khảo sát 24 bệnh viện trên cả nước cho thấy có
10/24(42%)bệnh viện có sai sót trong ghi chép sử dụng thuốc . Cũng khảo sát
trên chỉ ra rằng có 10/24(42%) bệnh viện sai sót về tên thuốc , 4/19(21,1%) sai
về liều dùng , 5/19(26,3%) sai về đường dùng , 8/19(42,1%) sai về nồng độ ,

% ứng dụng đầy đủ theo qui chế của Bộ y tế. Ở Hà Nội trong 58 bệnh viện
được kiểm tra thì vẫn còn 6 bệnh viện sai sót trong kê đơn [3]. Tại bệnh viện
Phụ sản trung ương không ghi rõ thời điểm dùng thuốc chiếm 49,5%, không
ghi rõ liều chiếm 9% [15]; Bệnh viện E: tỷ lệ không ghi đầy đủ họ tên, tuổi
bệnh nhân là 11,33%, thuốc kê theo tên generic chỉ chiếm 28,67%, có tới
59,67% thuốc một thành phần ghi theo tên biệt dược, tỷ lệ ghi đủ cách dùng,
liều dùng thuốc chỉ là 22% [16]
Tình trạng lạm dụng kháng sinh, vitamin, thuốc bổ rất phổ biến: kháng
sinh nhập khẩu chiếm 30-40% tổng giá trị nhập khẩu thuốc hàng năm của cả
6


nước và tỷ lệ sử dụng kháng sinh chiếm 32,7% tổng giá trị tiền thuốc mỗi trong
cả nước [3],Theo một thống kê tại Hải Phòng một vài vùng có tỷ lệ đơn thuốc
sử dụng kháng sinh lên tới 65%, tại một phòng khám bệnh viện huyện cho thấy
một đơn thuốc có trung bình 4,2 thuốc, số đơn có ít nhất một kháng sinh chiếm
62%, còn số thuốc được kê nằm trong DM TTY chỉ có tỷ lệ là 38% [17].

shđhfbvdughuakvk

1.2.2 Cấp phát thuốc cho bệnh nhân
Trong bệnh viện, cấp phát thuốc cho bệnh nhân do khoa Dược bệnh viện
đảm nhiệm. Thuốc sau khi dán nhãn và đóng gói đầy đủ sẽ được cấp phát cho
bệnh nhân điều trị ngoại trú hoặc đưa lên các khoa điều trị nội trú để bệnh nhân
sử dụng. Mặc dù có một số điểm khác nhau trong cấp phát giữa bệnh nhân nội
trú và bệnh nhân ngoại trú, nhưng cả hai đều phải tuân theo một số quy tắc bắt
buộc là quy tắc “ba kiểm tra, ba đổi chiếu” [13] [10] [18]:
-Ba kiểm tra gồm có:
+ Thể thức phiếu xuất kho, đơn thuốc, liều dùng, cách dùng
+ Bao bì, nhãn thuốc

đầy đủ và kiểm tra lại họ tên của bệnh nhân sử dụng thuốc.
- Hiểu và phân tích đơn: bao gồm : đọc đơn thuốc, xác định đúng tên các
loại thuốc trong đơn, hiểu một cách chính xác các chữ viết tắt của người kê đơn,
kiểm tra liều lượng, tính toán chính xác liều lượng và số lượng các thuốc trong

shđhfbvdughuakvk

đơn.
- Tất cả các tính toán nên được kiểm tra hai lần bởi người cấp phát hoặc bởi
một nhân viên khác. Bởi một số lỗi về tính toán sai về liều lượng thuốc có thể
gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân.
- Chuẩn bị nhãn cho các thuốc được phát: gồm các thủ tục tự kiểm tra , tính
toán lại để đảm bảo độ chính xác, cũng như các nội dung theo quy định của
thuốc cấp phát lẻ. Đóng gói và dán nhãn thuốc: tùy theo dạng thuốc đóng gói
phù hơp: viên nén hoặc viên nang nên đóng gói vào một chai, bao bì nhựa...
- Ghi lại công việc: Việc ghi lại các thuốc trong đơn được cấp phát có thể
được sử dụng để hồi cứu nhằm xác minh các thuốc đã cấp phát cho bệnh, từ đó
góp phần theo dõi bất kỳ vấn đề nào liên quan tới các loại thuốc đã cấp phát sử
dụng cho bệnh nhân.
- Thực hiện kiểm tra lần cuối trước khi cấp phát: kiểm tra cuối cùng sẽ bao
gồm việc đọc và giải thích các thuốc trong đơn.
- Phát thuốc cho bệnh nhân vói các hướng dẫn và lời khuyên rõ ràng: Cảnh
báo về tác dụng không mong muốn thường gặp cho bệnh nhân trước khi sử
dụng thuốc như: buồn nôn, tiêu chảy nhẹ, màu sắc nước tiểu thay đổi...Còn đối
với các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng chỉ nên thông báo trực tiếp
cho bệnh nhân sau khi tham khảo thêm ý kiến của người kê đơn, những người
có tính đến những rủi ro cho bệnh nhân khi kê thuốc vì nó có thể làm ảnh hưởng
tới tâm lý người bệnh từ đó ảnh hường tới kết quả điều trị. Có một thực tế là đa
8


ngoại trú, thuốc của các bệnh nhân nội trú được điều dưỡng tổng hợp theo từng
khoa rồi mới gửi xuống cho khoa Dược. Cho nên hai điểm khác biệt chính giữa
cấp phát ngoại trú và nội trú là:
+ Duyệt phiếu lĩnh thuốc: sau khi tiếp nhận phiếu lĩnh thuốc của các khoa
lâm sàng, nhân viên khoa Dược có nhiệm vụ kiểm tra lại và duyệt thuốc, người
duyệt thuốc phải từ dược sĩ đại học được ủy quyền trở lên.
+ Cấp phát tới khoa lâm sàng: Tùy thuộc vào điều kiện nhân lực của đơn vị,
khoa dược đưa thuốc đến các khoa lâm sàng hoặc khoa lâm sàng nhận thuốc tại
khoa Dược theo quy định của Giám đốc bệnh viện. Khoa dược từ chối cấp phát
thuốc trong các trường hợp phiếu lĩnh, đơn thuốc có sai sót; thông báo lại với
bác sĩ kê đơn và bác sĩ ký duyệt; phối họp với bác sĩ lâm sàng trong việc điều
9


chỉnh đơn thuốc hoặc thay thế thuốc... Thuốc sau khi được y tá hay điều dưỡng
khoa nhận đủ sau đó chia cho từng bệnh nhân theo chỉ định thuốc hàng ngày
của bác sĩ trong bệnh án [10, 18].
1.2.3. Giám sát tuân thủ điều trị
Do đặc thù của việc sử thuốc tại bệnh viện nên quá trình giám sát tuân thủ

shđhfbvdughuakvk

hướng dẫn sử dụng có hình thành một mối quan hệ giữa bác sĩ, dược sĩ lâm
sàng, y tá điều dưỡng và bệnh nhân. Mối quan hệ giữa các đối tượng trên được
thể hiện trong hình 1.4 [19]
Vai trò cụ thể mỗi đối tượng trong mối quan hệ đó như sau [20] [10] [18]:
-Bác sĩ:
+ Lập hồ sơ bệnh án cụ thể về thuốc điều trị, nội dung theo dõi, phân cấp
chăm sóc, chế độ dinh dưỡng...
+ Giải thích, hướng dẫn chế độ sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng, động viên, an

+ Cung cấp đầy đủ thông tin về thuốc, các thuốc mới tư vấn cho bác sĩ để
bác sĩ lựa chọn thuốc thích hợp cho từng người bệnh. Giúp bác sĩ điều trị hướng
dẫn và thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế.
+ Đánh giá hiệu quả dùng thuốc, tác dụng của thuốc với người bệnh.

shđhfbvdughuakvk

+ Tham gia hướng dẫn sử dụng thuốc, kiểm tra y tá và điều dưỡng viên về
thực hiện đúng y lệnh; theo dõi ADR.
-Y tá (điều dưỡng) trong khoa lâm sàng
+ Chịu trách nhiệm cho người bệnh dùng thuốc hoặc hướng dẫn người
bệnh dùng thuốc để bảo đảm thuốc được dùng đúng cách, đúng thời gian, đủ
liều theo y lệnh.
+ Trước khi bệnh nhân dùng thuốc: Công khai thuốc dùng hàng ngày cho
từng người bệnh bằng cách thông báo cho người bệnh trước khi dùng thuốc,
đồng thời yêu cầu người bệnh hoặc người nhà ký nhận vào Phiếu công khai
thuốc (kẹp đầu hoặc cuối giường bệnh). Hướng dẫn, giải thích cho người bệnh
tuân thủ điều trị. Chuẩn bị phương tiện và thuốc: đảm bảo sạch sẽ, sắp xếp gọn
gàng, dễ thấy...
+ Trong khi bệnh nhân dùng thuốc: đảm bảo vệ sinh chống nhiễm khuẩn,
đảm bảo 5 đúng (đúng người, đúng liều, đúng thuốc, đúng đường dùng và đúng
thời gian), trực tiếp chứng kiến bệnh nhân dùng thuốc.
+ Sau khi bệnh nhân dùng thuốc: phát hiện những diễn biến bất thường và
báo cáo bác sĩ điều trị để xử lý kịp thời. Ghi cụ thể số thuốc điều trị cho mỗi
người bệnh, mỗi khi thực hiện xong một thuốc phải đánh dấu thuốc đã thực
hiện. Bảo quản số thuốc còn lại (nếu có) và xử lý các dụng cụ liên quan đển
dùng thuốc cho người bệnh theo đúng quy định.
-Bệnh nhân:
+ Thực hiện nghiêm chỉnh y lệnh: phải tuân thủ điều trị, không tự ý bỏ
thuổc hoặc tự ý dùng thuốc không đúng chỉ định của thầy thuốc. Người bệnh

trong danh mục.
Các yêu cầu đề xuất bổ sung thuốc vào danh mục sẽ được gửi cho thư ký
của Hội đồng thuốc và điều trị. Sau đó, các yêu cầu này sẽ được người có trách
nhiệm đánh giá và báo cáo bằng văn bản tại buổi hợp của Hội đồng thuốc và
điều trị. Báo cáo này bao gồm các thông tin sau:
- Các thông tin về thuốc bao gồm: tác dụng dược lý, dược động học, hiệu
12


quả điều trị so với giả dược và các thuốc khác, các phản ứng có hại và tương tác
thuốc.
- Ý kiến của các chuyên gia và những đề xuất từ những thầy thuốc, dược
sỹ có uy tín và kiến thức chuyên môn sâu về thuốc đó.
- Số tiền mà bệnh viện phải chi cho thuốc đó nếu sử dụng tại bệnh viện.

shđhfbvdughuakvk

Thuốc đó có nằm trong danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY), danh mục
thuốc chủ yếu (DMTCY) và có nằm trong phạm vi thanh toán của bảo hiểm y
tế (BHYT) không.Nội dung của báo cáo sẽ được các thành viên của Hội đồng
thuốc và điều trị thảo luận và biểu quyết ý kiến đề xuất của người chịu trách
nhiệm soạn báo cáo đánh giá thuốc. Quyết định cuối cùng sẽ được thông báo
bằng văn bản tới các khoa phòng.
1.2.6.Yêu cầu các thuốc không nằm trong danh mục thuốc
Một vấn đề thường gặp trong quá trình quản lý danh mục thuốc là thầy
thuốc có yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục. Điều này dẫn đến
thực hoặc bộ phận mua sắm tiến hành mua những thuốc đó mà không có sự
chấp thuận của Hội đồng thuốc và điều trị. Do vậy, phải xây dựng qui định để
thầy thuốc kê đơn thực hiện khi yêu cầu các thuốc không nằm trong danh mục
thuốc, ví dụ: phải có biên bản hội chẩn và có chữ ký của người có trách nhiệm

thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, năm 2007 nhận được
1284 báo cáo về phản ứng có hại của thuốc, năm 2008 nhận được 1778 báo cáo,
trong đó các báo cáo liên quan đến kháng sinh chiếm gần 50%, các báo cáo về
thuốc bổ và vitamin chiếm 3,5%. Theo báo cáo của Cục quản lý khám, chữa
bệnh, trong những năm qua tại Việt Nam, các bệnh lây nhiễm có xu hướng
giảm dần, ước tính hiện nay chỉ chiếm khoảng 25% tổng số bệnh tật [25].
Nhưng chi phí sử dụng kháng sinh ở các bệnh viện là rất cao: Năm 2008, chi
phí cho thuốc kháng sinh tại bệnh viện Bạch Mai là 48,5% (đặc biệt khoa Sản là
97,8%, khoa Ngoại là 95%), bệnh viện Nhi Nghệ An là 87,7%, bệnh viện đa
khoa số 2 tỉnh Lào Cai là 87,1%, bệnh viện tỉnh Yên Bái là 80,2%, bệnh viện
tỉnh Ninh Bình là 80% [26].Điều này cho thấy việc sử dụng thuốc chưa hợp lý
ở Việt Nam là rất phổ biến, các con số trên chì là phần nhỏ.
1.3.2 Nguyên nhân và hậu quả của việc sử dụng thuốc không hợp lý
Các nguyên nhân gây ra tình trạng sử dụng thuốc không họp lý được tóm
tắt trong bảng 1.1 dưới đây :

14


Bảng 1.1: Các nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý
Hệ thống cung cấp dịch vụ y tế:

Người kê đơn

+ Nhà cung câp không tin cậy.

+ Thiêu đào tạo.

+ Thiếu thuốc.



+Sự ảnh hưởng của lợi ích kinh tế + Thiếu thông tin được in ấn.
Do quá trình sử dụng thuốc có sự tham ra của rất nhiều đối tượng khác
nhau cho nên các nguyên nhân dẫn đến tình trạng sử dụng thuốc không hợp lý
cũng rất đa dạng và phong phú.
Sử dụng thuốc không hợp lý trên một diện rộng sẽ gây nên những hậu
quả về kinh tế, xã hội rất nghiêm trọng:
Giảm chất lượng điều trị của thuốc và chăm sóc y tế: trực tiếp hay gián
tiếp làm giảm chất lượng chăm sóc bệnh nhân và ảnh hưởng xấu đến kết quả
điều trị. Tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại của thuốc(ADR) do kê
nhiều loại thuốc cho một bệnh nhân mà chưa tìm hiểu hết được các thông tin
thuốc cần thiết.
Tăng khả năng kháng kháng sinh, sử dụng lâu dài hoặc dưới liều các
thuốc kháng sinh và các tác nhân hóa trị liệu đóng góp vào sự phát sinh nhanh
chóng của các chủng kháng, kháng sinh của vi khuẩn hoặc ký sinh trùng sốt
rét. Đáng báo động nhất của tất cả các bệnh kháng thuốc đang dần kháng với
hầu hết các loại thuốc sẵn có. Điều này vô cùng nguy hiểm vì nhiễm trùng là
một bệnh rất phổ biến hiện nay. Chẳng hạn, tỷ lệ đề kháng với thuốc
15


imipenem/cilastatin của Pseudomonas ngày càng tăng dần qua các năm:
12,5% (2003), 15,5% (2005), và 18,4% (2006) [26].
Tăng chi phí chăm sóc sức khỏe: Lạm dụng hoặc sử dụng không đúng
thuốc, thậm chí cả khi cần thiết, làm cho cả bệnh nhân và hệ thống chăm sóc
sức khỏe phải chi tiêu quá nhiều dược phẩm và lãng phí nguồn lực tài chính.

shđhfbvdughuakvk

Việc sử dụng quá nhiều thuốc bổ, vitamin sẽ làm ảnh hưởng tới sử dụng các

shđhfbvdughuakvk

Chỉ số kê đơn:
1.

Số thuốc trung bình một đơn thuốc

2.

Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên generic

3.

Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê kháng sinh

4.

Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê thuốc tiêm

5.

Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê từ danh sách thuốc thiết yếu, thuốc

chủ yếu trong cơ sở khám chữa bệnh.
Chỉ số chăm sóc bênh nhân:
6.

Thời gian khám bệnh trung bình

7.


Chi phí thuốc trung bình cho mỗi lần khám

3.

Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc kháng sinh

4.

Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc tiêm

5.

Đơn thuốc kèm theo hướng dẫn điều trị

6.

Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng với sự chăm sóc họ nhận được

Tỷ lệ phần trăm của các cơ sở chăm sóc y tế có quyền truy cập thông
tin thuốc.

17


1.4.THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH
VIỆN Ở VIỆT NAM.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
ngành công nghiệp Dược phẩm cũng đã có bước phát triển vượt bậc. Trong
những năm gần đây, ngành công nghiệp dược tạo ra nhiều sản phẩm mới nhằm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status