Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Lí do nghiên cứu
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta. Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Nông thôn nước ta đã đạt
được thành tựu khá toàn diện và to lớn, góp phần quan trọng ổn định tình hình
kinh tế, xã hội, chính trị, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người
dân. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi
thế và chưa đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Nông nghiệp phát
triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho
phát triển sản xuất, chuyển giao khoa học- công nghệ và đào tạo nguồn nhân
lực còn hạn chế, sản xuất nhỏ phân tán, năng suất chất lượng, giá trị gia tăng
nhiều mặt hàng thấp. Xuất phát từ những khó khăn hạn chế nêu trên, chương
trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất to lớn. Để thực hiện chủ trương
này, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định 800 ngày 4-6-2010 phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời ban hành bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới gồm 19 tiêu chí để làm căn cứ cho việc thực hiện chương trình
xây dựng NTM. Đây là một trong những chủ trương mang tính chiến lược mở
ra vận hội mới vô cùng quan trọng cho phát triển đất nước.
Trong phạm vi toàn quốc, chương trình xây dựng nông thôn mới đã
được xây dựng thí điểm quy mô cấp xã từ năm 2001 với 11 xã được chọn để
thử nghiệm chương trình này. Kết quả bước đầu rất khả quan đã định hình
được hình thái nông thôn mới của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ở Thừa Thiên Huế, bước đầu có 6 xã được tỉnh đưa vào diện quy hoạch
xây dựng điểm nông thôn mới và Phong Mỹ là một trong những địa phương
được chọn làm điểm của Tỉnh. Với lợi thế là một xã vùng cao diện tích đất
lớn, Phong Mỹ có nhiều thế mạnh để thực hiện thành công NTM. Tuy nhiên,
cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, việc thực hiện chương trình nông
thôn mới đang gặp nhiều khó khăn: Xuất phát điểm thấp còn nhiều tiêu chí
2
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
PHẦN 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Cơ sở của việc ban hành chương trình xây dựng NTM
Sau hơn 20 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá
toàn diện và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo
hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đảm
bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn chuyển dịch
theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, các hình thức tổ chức sản
xuất tiếp tục đổi mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ
mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư
ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo
đạt kết quả to lớn. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng
cường. Dân chủ cơ sở được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng
cao. [18]
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa
phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa
học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, năng
suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và
ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh
vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch. Xã hội nông thôn dân
chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ;
an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương Đảng,
chính phủ đã ban hành Nghị quyết 24/2008/NQ-CP và Thủ tướng chính phủ
ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về bộ tiêu chí NTM.
4
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
2.1.2. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chương trình phát triển tổng hợp cả về
kinh tế-xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng. Nó
có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nông nghiệp, nông thôn và nông
dân, hướng tới mục tiêu: sản xuất nông nghiệp phát triển, xây dựng cuộc sống
sung túc, thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh,
quản lý dân chủ.[20]
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp- dịch vụ, gắn phát triển nông thôn
với đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ
vững, đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. [20]
* Đặc trưng của nông thôn mới giai đoạn 2010-2020[19]
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông
thôn được nâng cao
Giảm nghèo và an sinh xã hội
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
ở nông thôn
Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
Phát tiển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Nâng cấp chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính
trị-xã hội trên địa bàn
Giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nông thôn
* Tóm tắt bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban
hành bộ tiêu chí NTM, đồng thời Bộ NNPTNT ban hành thông tư
54/2009/TT-BNNPTNT về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về
NTM. Đây là căn cứ để các địa phương chỉ đạo việc xây dựng, phát triển
NTM, đồng thời là cơ sở để đánh giá công nhận xã đạt chuẩn . Một số nội
dung chính của tiêu chí NTM:[7]
- Quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng
thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, dịch vụ, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi
trường theo chuẩn mới, quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh
trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn
hóa tốt đẹp
6
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
hộ nghèo đói và chỉ có 20% hộ tiếp cận với điện. Trước hoàn cảnh đó, bước
vào những năm 1970, chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện chương trình
"Nông thôn mới" với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Cách
7
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
tiếp cận là huy động tối đa sự tham gia và đóng góp của người dân trong quá
trình thực hiện các mô hình này. Mô hình đã thành công rực rỡ và có sức lan
toả nhanh chóng. Một tác động to lớn là làm tăng thu nhập của người dân.
Năm 1970, thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn mới chỉ đạt 824
USD/người/năm nhưng đến năm 1976 thu nhập đã tăng lên 3.000
USD/người/năm. Đó là sự chuyển biến rất nhanh chóng và rõ nét. Do có thu
nhập tăng lên nên người dân đã đầu tư thực hiện các cơ sở hạ tầng nông thôn
dưới sự hỗ trợ kinh phí rất ít của nhà nước. Chính vì vậy, đến những năm
1980 bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi to lớn và toàn diện. Quá trình
hiện đại hoá nông thôn được hoàn thành.[1]
2.2.1.2. Đài Loan
Là một trong những nước giải quyết tốt các vấn đề nông nghiệp, nông
thôn và nông dân. Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước,Đài Loan đã cơ
bản đảm bảo tự cung cấp lương thực và có dư. Sau khi giải quyết được vấn đề
lương thực, từ những năm 1963 Đài Loan đã bắt đầu dồn sức cho phát triển
công nghiệp nên chính quyền đã coi nhẹ nông nghiệp. Bởi vậy, từ những năm
1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều kéo theo cảnh tiêu điều trong sản
xuất công nghiệp. Trong hoàn cảnh đó, chính quyền Đài Loan buộc phải điều
chỉnh chính sách, chuyển từ phương châm "Nông nghiệp bồi dưỡng công
nghiệp" sang "Công nghiệp để bồi dưỡng nông nghiệp". Cụ thể là từ năm
1974 bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, tăng cường đầu tư vào
Việc chỉ đạo của chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính,
việc thực hiện của cấp dưới khá miễn cưỡng nên kết quả phát triển nông thôn
cũng hạn chế. Gần đây, Trung Quốc đưa ra chương trình "Tam nông". Vấn đề
cốt lõi của "Tam Nông" là giải quyết sự chênh lệch thu nhập giữa dân cư
thành thị và nông thôn. Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính
sách cải cách ở nông thôn. Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân
nông thôn lần đầu tiên đạt mức 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước. Việc
thực hiện xây dựng nông thôn mới linh hoạt hơn dựa trên quy hoạch tổng thể,
căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội để đưa
ra chính sách, biện pháp thích hợp. Định hướng phát triển "Tam nông" ở
Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hoá và nông dân
chuyên nghiệp hoá.[2]
Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản của phong trào xây dựng nông
thôn mới ở các nước không nằm ngoài công thức: chính phủ kết hợp nông dân
điều tiết quá trình thực thi, trong đó chính phủ đóng vai trò chỉ đạo và nông
dân là chủ thể của các chương trình này. Đồng thời, phải dựa vào tình hình,
9
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
bối cảnh cụ thể của từng địa phương để có những chính sách, kế hoạch, bước
đi thích hợp.
2.2.2. Một số mô hình Thí điểm về xây dựng NTM ở nước ta
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình Nông thôn mới được thực
hiện tại 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải
Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân
Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội
(TP. Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang).
trường học trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia; có điểm bưu điện văn hóa xã,
internet đã về đến 12/12 thôn; xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% đường
giao thông nông thôn được cứng hóa; thu nhập bình quân đầu người gấp 1,38
lần bình quân chung của tỉnh.[30]
Cách làm hay ở Tân Thịnh là chính quyền địa phương đặc biệt chú
trọng phát triển sản xuất nông nghiệp bên cạnh việc đầu tư xây dựng hệ thống
hạ tầng. Chẳng thế mà 2 trạm bơm tại thôn Tân và Non Than đã được cải tạo,
nâng cấp với chiều dài 2km và đang trong quá trình hoàn thiện một số tuyến
kênh mương, đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp[30]
2.2.2.2. Tân Thông Hội-thành phố Hồ Chí Minh
Đến nay xã đã hoàn thành 15/19 tiêu chí xây dựng NTM, đã có hơn
57% lao động qua đào tạo nghề, có 10.000 lao động sau đào tạo đã có việc
làm tại các nhà máy, xí nghiệp. Từ nguồn vốn của chương trình, xã đầu tư chủ
yếu vào giao thông, thủy lợi, văn hóa giáo dục phục vụ nhu cầu sát thực với
người nông dân. Thu nhập bình quân của người nông dân xã Tân Thông Hội
ở thời điểm cuối năm 2010 qua khảo sát của Cục Thống kê thành phố Hồ Chí
Minh là 24,2 triệu đồng/người/năm, cao hơn so với mức bình quân của huyện
(18,6 triệu đồng/người/năm). [24]
Huy động được sức dân, để nông dân thực sự vào cuộc xây dựng NTM
là rất quan trọng. Vốn huy động từ dân của xã đóng góp cho chương trình đã
là hơn 103 tỷ đồng.[24]
Phải có 3 trụ cột là xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, thay đổi
nhận thức của người dân, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm và phát triển
làng nghề.[24]
Thành công này là sự vào cuộc không chỉ của lãnh đạo xã mà còn là sự
nhất trí, đồng lòng cao của người dân.[24]
2.2.2.3. Mỹ Long Nam – tỉnh Trà Vinh
Sau gần hai năm triển khai thực hiện xây dựng thí điểm mô hình NTM
xã Mỹ Long Nam đã có 11/19 tiêu chí đạt chuẩn NTM.Thu nhập bình quân
đầu người năm 2010 đạt 18.000.000đồng/người/năm, tăng gấp 3 lần so với
2.2.3. Thực trạng nông thôn và chương trình xây dựng NTM mới ở Thừa
Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên 5.062,59 km 2, dân số
1.088.822 người, chiếm 1,5% diện tích và 1,35% dân số cả nước. Khu vực
nông thôn có 231.665 hộ, chiếm 62,2% tổng số lao động xã hội. Tỷ trọng lao
động nông lâm thuỷ sản 51,6% (cả nước là 56,7%), tỷ trọng lao động công
nghiệp- tiểu thủ công nghiệp- xây dựng là 20,9%, tỷ trọng lao động trong các
ngành dịch vụ 25,1%.[3]
12
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
2.2.3.1. Hạ tầng kinh tế - xã hội
Hệ thống giao thông nông thôn: Đường trục xã, liên xã có 991,71 km.
Đã trải nhựa hoặc bê tông hoá 773 km chiếm 73,96%. Đường thôn xóm là
1.739,4 km trong đó 935,7 km ( 53,23%) đã được cứng hoá. Đường ngỏ xóm
là 1.707,87 km trong đó 724,05 km (42,39%) đã được bê tông hoá. Đường
trục chính nội đồng tổng số là 1.122,35 km, trong đó 234,21 km (21,67%) đã
được cứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Hệ thống giao thông nông thôn
trong những năm qua đã được đầu tư nâng cấp cải tạo bằng nhiều nguồn lực
khác nhau: chương trình 257 của nhà nước, các dự án sử dụng vốn ODA...
nên cơ bản đáp ứng phát triển kinh tế cũng như nhu cầu đi lại, sinh hoạt của
nhân dân. Tuy nhiên, các xã khó khăn, vùng thấp ven biển và hệ thống giao
thông nội đồng còn ở mức độ hạn chế nên gặp khó khăn trong việc phát triển
kinh tế cũng như sinh hoạt của người dân.[3]
Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh. Toàn
tỉnh có trên 500 công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, bao gồm 259 trạm bơm
điện,239 hồ đập để chủ động cung cấp nước cho 17.032 ha và tiêu ứng cho
Thu nhập bình quân ở nông thôn 9.695.000đ/người/năm bằng 0,57 lần
so với bình quân chung của tỉnh. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn theo
chuẩn nghèo năm 2007 là 11,44%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động ở
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp hiện nay là 62,93%. Hình thức tổ chức sản
xuất: Hợp tác xã và các đội sản xuất độc lập là đơn vị sản xuất phổ biến, toàn
tỉnh có 161 hợp tác xã nông nghiệp. Trong đó có 25 hợp tác xã làm ăn có lãi
bình quân hằng năm từ 200 triệu đồng/năm đến 526 triệu đồng/năm. Có 478
trang trại với tổng diện tích sử dụng 4.157,7 ha.
Mặc dù kinh tế khu vực nông thôn đã có bước phát triển, cơ cấu kinh tế
có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ nhưng còn chậm, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao. Cơ cấu
lao động trong nông nghiệp còn cao, các hình thức tổ chức sản xuất còn đơn
điệu, chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp. Tỷ lệ lao động nông thôn thiếu việc
làm có xu hướng ngày càng gia tăng, công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn còn nhiều bất cập, thu nhập người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn
cao.
Y tế: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 63,62% cao hơn 2 lần
so với tiêu chuẩn quốc gia. Tỷ lệ người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm đạt
143% so với kế hoạch, đã cấp 180.262 thẻ khám bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi,
100% trẻ em được hưởng chính sách khám và chữa bệnh miễm phí, công
bằng. 100% trạm y tế có bác sĩ biên chế tại trạm, hoặc tăng cường để thực
hiện công tác khám, điều trị bệnh chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân.
Có 98 trạm y tế (87,50%) đạt chuẩn quốc gia, còn lại 14 xã có trạm y tế
14
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
nhưng chưa đạt chuẩn do trang thiết bị còn thiếu, công tác duy tu bão dưỡng
kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
15
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;
gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; phát triển văn hóa, y tế,
giáo dục; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; xóa dần
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.[22]
Hiện tại, 100% số xã trong tỉnh có trường tiểu học, trung học cơ sở và
trạm y tế; có đường ô tô đến trung tâm xã. Hệ thống đường liên thôn, liên xã
đều được bê tông hóa và nhựa hóa; 100% số xã có điện sinh hoạt với hơn
99,3% số hộ được dùng điện; 87% số hộ nông thôn và 98,9% số hộ ở thành
thị được dùng nước sạch và nước vệ sinh; 100% số xã được phủ sóng truyền
hình...là những cơ sở thuận lợi để thực hiện có hiệu quả chương trình xây
dựng nông thôn mới.[22]
2.3. Một số thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM
2.3.2. Thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM của cả nước
2.3.2.1. Thuận lợi
Thuận lợi lớn nhất là được sự đồng thuận của toàn dân. Nhờ làm tốt
công tác tuyên truyền, nên người dân nơi đây đã đồng tình, ủng hộ việc xây
dựng NTM.Người dân được đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế
hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình
xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau... Bởi vậy, quá trình
thực hiện đã thu hút được đông đảo người dân phấn khởi, đồng lòng tham gia.
Người dân tham gia đóng góp công sức, hiến đất, tiền bạc để thực hiện thành
công chương trình xây dựng NTM.[26]
Thiếu lao động sản xuất ở các vùng nông thôn đang là một khó khăn
trong việc triển khai chương trình NTM. Quá trình CNH-HĐH đất nước trong
những năm qua là một lực hút đáng kể đối với lực lượng lao động trẻ ở các
vùng nông thôn làm cho lực lượng lao động ở vùng nông thôn ngày càng già
hóa Do vậy, lực lượng tham gia vào việc xây dựng và phát triển kinh tế thiếu,
việc phát triển kinh tế hộ còn gặp nhiều khó khăn.[31]
Ngoài ra, Nguồn lực đầu tư để xây dựng chương trình NTM còn hạn
chế là một khó khăn khác đối với chương trình xây dựng NTM trong cả nước.
Chương trình xây dựng NTM là một chương trình lớn, toàn diện trên nhiều
lĩnh vực, vì vậy kinh phí đầu tư rất lớn chỉ tình riêng đầu tư về CSHT để đạt
tiêu chí NTM thì mỗi xã cần đầu tư không dưới 120 tỷ. Trong khi đó, nguồn
kinh phí của các xã còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Do đó, để thực hiện
thành công chương trình NTM cần có chính sách tốt để thu hút đầu tư, phải
thay đổi cách nghĩ, cách làm thì mới thu hút được doanh nghiệp, dân tự đứng
lên, thu hút vốn trong và ngoài nước thì mới có thể làm được.[31]
17
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
2.3.3. Thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM tại Thừa Thiên Huế
2.3.3.1. Thuận lợi
Trong những năm qua tốc độ phát triển kinh tế của Tỉnh Thừa Thiên
Huế luôn duy trì ở mức cao so với bình quân chung của cả nước 12%/năm.
Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực tăng tỷ trọng của ngành du lịch dịch
vụ từ 16,1% lên 21,2% năm 2010.[17]. Đây là một trong những điều kiện góp
phần đẩy mạnh việc triển khai các chương trình hành động xây dựng nông
thôn mới.
Mặc khác, việc thực hiện chương trình NTM được sự quan tâm của các
Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Bao gồm cả các hộ có kinh tế khá, trung
bình và nghèo.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng kinh tế-xã hội của xã Phong Mỹ theo 19 tiêu chí quốc gia về
xây dựng NTM ở xã Phong Mỹ
- Thực trạng về điều kiện kinh tế, đời sống của hộ
- Một số giải pháp để xây dựng NTM ở Phong Mỹ
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Chọn điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu là xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế, đây là xã vừa mới được chọn làm điểm xây dựng NTM. Tuy nhiên, lãnh
đạo và người dân đang còn nhiều lúng túng trong đánh giá, tổ chức thực hiện
và xác định các giải pháp để xây dựng thành công NTM ở địa phương.
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin đã công bố chính
thức của các cơ quan nhà nước, công trình nghiên cứu của tập thể, cá nhân, tổ
chức về thực trạng xây dựng NTM. Các tài liệu, báo cáo, tổng kết về thực
hiện chính sách, chủ trương xây dựng NTM tại địa phương. Những thông tin
thống kê về phát triển kinh tế của địa phương. Các tài liệu về tình hình kinh
tế- xã hội của huyện Phong Điền và tỉnh Thừa Thiên Huế. Những tài liệu này
được thu thập ở UBND xã Phong Mỹ, Phòng NN&PTNT huyện Phong Điền,
Phòng Thống kê huyện Phong Điền, phòng Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế,
các đề án xây dựng NTM của xã Phong Mỹ và huyện Phong Điền.
3.3.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp
a. Phỏng vấn hộ: Phiếu điều tra đã được xây dựng để phục vụ cho mục tiêu đề
tài. Nội dung phiếu phỏng vấn hộ bao gồm những thông tin cơ bản về năng
lực sản xuất, tình hình sản xuất và thực trạng đời sống của hộ nhằm tìm hiểu
nguyên nhân nghèo đói tại địa phương. Từ đó đề ra các giải pháp riêng cho
các lĩnh vực cụ thể để góp phần đạt được các tiêu chí quốc gia về xây dựng
NTM. (Xem nội dung chi tiết ở phần 1, phụ lục 2)
- Ở cấp thôn, tiến hành phỏng vấn trưởng thôn, chủ nhiệm HTX, để tìm
hiểu sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM tại địa phương.
Đồng thời, tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng các hoạt động sản xuất tạo thu nhập
của các hộ, nguyên nhân nghèo đói ở địa phương. Từ đó, đề xuất các biện
pháp để thu hút sự tam gia của người dân vào các quá trình xây dựng NTM,
20
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
thực sự trở thành chủ thể của chương trinh xây dựng NTM. Mặc khác, có thể
đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ nghèo góp
phần thực hiện thành công chương trình xây dựng NTM trên địa bàn.( Xem
nội dung chi tiết ở phần 2, phụ lục 2).
c. Thảo luận nhóm: Tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm. Mỗi cuộc thảo
luận gồm 10 - 15 người.
- Cuộc thảo luận nhóm cán bộ bao gồm: Phó chủ tịch xã, chủ tịch hội
nông dân, chủ tịch hội phụ nữ, bí thư đoàn thanh niên, cán bộ phụ trách y tế
xã, các trưởng thôn. Mục đích để phân tích các khó khăn thuận lợi trong xây
dựng NTM. Đồng thời đề xuất các giải pháp hiệu quả phù hợp với thực tế địa
phương. Từ đó, góp phần khắc phục những khó khăn, phát huy thế mạnh địa
phương để thực hiện thành công chương trình NTM tại địa phương.
- Cuộc thảo luận nhóm hộ khá: Tham dự cuộc thảo luận là các hộ sản
xuất có kinh tế khá trong xã để tìm hiểu các hoạt động sản xuất, cách thức sản
xuất tăng thu nhập của hộ. Từ đó, rút ra được các kinh nghiệm phát triển sản
xuất, phương thức cách thức sản xuất có hiểu quả ở địa phương để có các biện
Phía Đông giáp xã Phong Xuân
Phía Tây giáp xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp huyện Alưới
Phía Bắc giáp xã Phong Thu.
Phong Mỹ có các tuyến đường giao thông kéo dài từ Đông sang Tây:
Tỉnh lộ 17, Tỉnh lộ 9, Tỉnh lộ 11B rất thuận lợi cho giao thông đi lại và phát
triển kinh tế.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình chủ yếu là vùng gò đồi chạy dọc theo dãy Trường Sơn. Vùng
đồi độ cao trung bình so với mực nước biển là 150 m.
Có 2 hệ thống sông chính đó là sông Ô Lâu và sông Quao, 1 đập thuỷ
lợi có sức chứa 9,7 tỷ khối cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp địa
phương.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của lãnh thổ cả nước,
kèm theo đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu xã Phong Mỹ mang
những nét riêng là: Nhiệt độ trung bình năm: 18 – 20 0C. Trong năm, nhiệt độ
tối cao nhất vào các tháng 6 và tháng 7 hàng năm. Lượng mưa bình quân hàng
năm từ 500 – 1000 mm, từ tháng 9 - 12 là các tháng có lượng mưa lớn nhất
chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8
hàng năm kèm theo gió Tây Nam khô nóng gây ra tình trạng khô hạn diện rộng
ảnh hưởng lớn đến sản xuất của người dân. Độ ẩm trung bình cả năm là 78%.
22
Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
4.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội
4.1.2.1. Đất đai
Đất nông nghiệp khác
ha
3.95
2.
Đất phi nông nghiệp
ha
848,52
2.1
Đất ở
ha
354,82
2.1.1 Đất chuyên dùng
ha
193,33
2.1.2 Đất trụ sở cơ quan, công
ha
0,78
trình sự nghiệp
2.1.3 Đất quốc phòng
ha
17,89
2.1.4 Đất an ninh
ha
2.1.5 Đất sản xuất, kinh doanh phi
ha
44,49
nông nghiệp
2.1.6 Đất có mục đích công cộng
ha
130,17
nhiên của xã. Do đó xu hướng mở rộng diện tích đất sản xuất vẫn còn rất lớn.
4.1.2.2. Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là nhân tố quyết định đến việc phát triển kinh tế của
địa phương. Nó vừa tạo tiềm lực phát triển, vừa cản trở việc phát triển khi
việc làm và đời sống nhân dân không được đảm bảo. Chúng tôi đã tìm hiểu
chỉ tiêu này và kết quả được trình bày ở bảng 4. 2.
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động của xã Phong Mỹ
STT
Chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2010
1
Tổng số hô
Hộ
1.278
2
Tổng số nhân khẩu
Người
3
5.568
Tổng số lao động
Người
2.513
Bình quân nhân
4
thống điện lưới quốc gia đã đảm bảo cung cấp cho 10/10 thôn trong xã với
100% hộ được sử dụng điện sinh hoạt. Ngoài ra, các hệ thống công trình phúc
lợi công cộng khác đã cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống
của người dân trong xã. Thực trạng CSHT được đảm bảo, tạo thuận lợi cho
việc đi lại, giao lưu buôn bán hàng hóa với các vùng khác, người dân có điều
kiện phát triển sản xuất, đời sống người dân ngày càng được cải thiện.
4.1.2.4. Tình hình phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành mang lại thu nhập cho các hộ
dân trên địa bàn với các loại cây lương thực (lúa, lạc), cây cao su, cây sắn.
Sản xuất lúa chủ yếu để cung cấp lương thực và phụ phẩm làm thức ăn cho
chăn nuôi. Diện tích lúa gieo cấy cả năm là 269,4 ha, chủ yếu là giống lúa
Khang dân, HT1. Năng suất lúa còn ở mức thấp bình quân đạt 40 tạ/ha.
Trồng sắn là một trong những thế mạnh của xã với diện tích trồng sắn trong
năm khoảng 225 ha, năng suất bình quân 20 tạ/ha. Ngoài ra, sản xuất lạc cũng
đem lại thu nhập không nhỏ cho các hộ. Lạc Thường được trồng vào vụ Đông
Xuân với diện tích 168 ha, năng suất lạc bình quân khoảng 20 tạ/ha. Bên cạnh
đó, cây cao su là một trong những cây thế mạnh của địa phương với diện tích
lên đến 1.260 ha, đã đưa vào khai thác khoảng 674,3 ha, thu nhập bình quân
đạt từ 43-50 triệu đồng/ha/năm.
Ngành Lâm nghiệp cũng là một trong những ngành sản xuất kinh tế
mũi nhọn của địa phương với tổng diện tích đất trồng rừng có khoảng 21.885
ha. Trong đó, rừng đặc dụng là 19.095 ha do khu bảo tồn thiên nhiên Phong
Điền quản lí. Rừng phòng hộ 1.870 ha do công ty lâm nghiệp Phong Điền
quản lí được phân bổ trồng sát dọc thượng nguồn sông Ôlâu, sông Quao.
Rừng trồng kinh tế là 1.409 ha do các hộ dân trồng theo dự án ngành lâm
nghệp ( WB3), rừng trồng theo dự án 327, trồng rừng kinh tế, gần đất sản
xuất.
25