Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
1. MỞ ĐÀU
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ
môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Thực hiện Luật Bảo vệ môi
trường năm 1994, Luật Bảo vệ Môi trường 2005 (sửa đổi), Chỉ thị số 36- CT/TW
của Bộ Chính trị (khóa VIII) và Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 của
Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hóa đất nước, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có
chuyển biến tích cực, nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và
nhân dân đã được nâng lên, hệ thống chính sách, thể chế từng bước được hoàn
thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường.
Nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Ninh, thị xã Uông Bí được biết đến là một
thị xã công nghiệp của than, nhiệt điện và du lịch sinh thái - văn hóa - tâm linh.
Lịch sử phát triển của thị xã Uông Bí nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung gắn
liền với sự phát triển của công nghiệp than, bắt đàu tò thời Pháp thuộc và phát triển
đột biến vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay.
Bên cạnh sự tích cực về bộ mặt kinh tế, giai đoạn này cũng đánh dấu một
loạt những vấn đề môi trường và xã hội nghiêm trọng, nhất là tại các khu vực khai
thác than. Những năm gàn đây, các dấu hiệu khủng hoảng trong phát triển kinh tếxã hội và môi trường ngày càng rõ nét, đặt ra cho thị xã Uông Bí nhiều vấn đề cần
phải quan tâm giải quyết.
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho
con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra
những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng
như trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
nông nghiệp tại Thị xã Uông Bí.
- Ước tính các thiệt hại về kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, các tác động xấu của
quá trình khai thác than đến sản xuất nông nghiệp.
lẻ3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
1.3.1 Đỗi tượng nghiên cứu
2
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
Hiện trạng ô nhiễm môi trường do khai thác than, hoạt động sản xuất nông
nghiệp trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm tại Thị xã Uông Bí và một số ảnh
hưởng khác do ô nhiễm môi trường.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm viế không gian:
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong vị trí địa lý và ranh giới
hành chính của thị xã Uông Bí, bao gồm 11 phường, xã. Và một số địa phương
tương đồng về điều kiện tự nhiên nhưng không có hoạt động khai thác than làm cơ
sở so sánh, đối chứng.
* Phạm viế thời gian:
Các dữ liệu, thông tin được sử dụng để đánh giá tác môi trường của việc
khai thác tài nguyên than ở địa phương được thu thập chủ yếu trong 3 năm 2006 2008. Các giải pháp, đề xuất tháo gỡ khó khăn áp dụng đến năm 2020.
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu
2.1
2.1.1
•
sồng thì chất lượng cuộc sống bị đe doạ. Từ môi trường con người khai thác tài nguyên
để tiến hành quá trình sản xuất ra các sản phẩm nhằm tìioả mãn nhu cầu cho cuộc sống
của mình. Ngoài ra môi trường còn lại cho con người những gì tinh thần nâng cao
thẩm mỹ, hiểu biết.
Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên hệ thống kỉnh tế:
Tài nguyên được khai thác từ hệ thống môi trường: đá, gỗ, than, dầu... tài
nguyên sau khi được khai thác qua chế biến, sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ
con người. Các sản phẩm này được phân phối lưu thông trên thị trường và được người
tiêu dùng tiêu thụ. Như vậy ta thấy rằng việc khai thác tài nguyên từ hệ thống môi
trường phục vụ hệ thống kinh tế dẫn đến hậu quả cần phải xem xét. Trong khi khai
thác tài nguyên và ừong quá trình tiêu dùng các chất thải cũng gây ảnh hưởng xấu đến
môi trường. Nếu khả năng phục hồi của môi trường lớn hơn khai thác thì môi trường
được cải thiện còn ngược lại khả năng phục hồi của tài nguyên nhỏ hon khai thác thì
môi trường bị suy giảm.
Môi trường là nơi chứa chất thải:
4
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
Trong quá trình khai thác vật liệu, sản xuất và sử dụng con người đã thải một
lượng lớn chất thải vào môi trường. Và việc sử dụng lại phụ thuộc vào chất thải và khả
năng của con người cụ thể hơn là công nghệ taí sử dụng. Nếu chi phi để sử dung lại
chất thải ít hơn việc khai thác tài nguyên mới thì con người sẵn sàng làm ngược lại con
người có thể sử dụng tài nguyên mới. Nhưng xét về ý nghĩa môi trường thì con người
tim mọi cách sử dụng lại chất thải dù hiệu quả môi trường không lớn lắm.
Phàn lớn chất thải tồn tại trong môi trường xong môi trường có khả năng đặc
biệt là đồng hoá các chất thải độc hại thành chất thải ít độc hại hoặc không độc hại
nữa. Nếu như khả năng đồng hoá của môi trường lớn hơn lượng thải thi chất lượng
quy định trong tiêu chuẩn môi trường.
c. Khái niệm tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định
dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.
Cơ cấu của hệ thống TCMT bao gồm các nhóm chính sau:
+ Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và ven
biển, nước thải; Tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải; Tiêu chuẩn liên
quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp; Tiêu
chuẩn bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
+ Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử,
văn hoá và Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng
sản trong lòng đất, ngoài biển...
Hiện nay, ở nước ta đã có trên 200 TCMT quy định về chất lượng môi trường,
đây là cơ sở để chứng ta đo mức độ chuẩn của môi trường, đồng thời cũng là căn cứ để
đánh giá mức độ vi phạm môi trường có liên quan.
2.1.1.3 Khải niệm đảnh giá tác động môi trường
a. Khải niệm
Đánh giá tác động môi trường thường được viết tắt là ĐMT. Tiếng Anh của
6
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
ĐMT là Environmental Impact Assessment và thường được viết tắt là EIA.
Theo chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, ĐMT “là một quá trình
nghiên cứu được sử dụng để dự báo những hậu quả môi trường có thể gây ra từ một dự
án phát triển quan trọng được dự kiến thực thi”.
Những định nghĩa khác nhau nên quy trình thực hiện ở các nước cũng khác
nhau. Tuy nhiên ĐMT ở các quốc gia đều là quá trình nghiên cứu nhằm:
chúng xảy ra, nhờ đó các đề xuất của các dự án có thể được thay đổi sao cho các tác
động giảm thiểu môi trường được giảm thiểu tới mức thấp nhất hoặc được loại trừ và
nếu các tác động tiêu cực này ở mức không thể chấp nhận được hoặc không giảm nhẹ
được thì dự án có thê sẽ phải bãi bỏ. Nói cách khác, ĐMT là một công cụ quản lý môi
trường có tính chất phòng ngừa.
ĐMT không những chỉ đặt ra đối với các dự án mà nó còn áp dụng cho việc
vạch ra các chương trình, kế hoạch và chính sách. Nói chung ĐMT được sử dụng để
quy hoạch và cho phép thực hiện bất kỳ hành động nào có thể tác động đáng kể đến
môi trường.
ĐMT còn được hiểu một cách rộng rãi là một quá trình giao lưu quan trọng.
Thông tin sản sinh từ các nghiên cứu về tác động phải được chuyển đến những người
ra quyết định chủ chốt, những người phản biện và công chúng. Ở đây có 2 yêu cầu mà
người tiến hành ĐMT càn phải giải quyết: Chuyển thông tin có tính chất chuyên môn
cao sang 1 ngôn ngữ hiểu được đối với người đọc không chuyên môn, và tóm tắt nội
dung khối lượng lớn thông tin và rút ra những vấn đề then chốt có liên quan đến những
tác động quan trọng nhất. Quá trình này được thực hiện bằng cách biên soạn một tài
liệu gọi là báo cáo ĐMT. Đây là báo cáo mà người đề xuất dự án phải chuẩn bị, mà nội
dung là mô tả các hoạt động tiềm tàng đến môi trường mà dự án đề xuất có thể gây ra,
đồng thời đưa ra các biện pháp sẽ được tiến hành để giảm nhẹ các tác động đó.
Có thể nhìn nhận ĐMT theo 2 khía cạnh hay quan điểm: ĐMT được coi là 1
hoạt động khoa học được thực hiện bởi các chuyên gia nhằm nâng cao chất lượng của
8
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
việc đưa ra 1 quyết định của các nhà chính trị và ĐMT là một hoạt động chính trị
nhằm thay đổi quá trình ra quyết định có tính chất chuẩn, qua sự tham gia tích cực của
nhân dân và những nhóm người có lợi ích khác nhau. Quan điểm 1 tâpj trung vào các
- Bản đồ dự báo về chất lượng nước (Bản đồ 1);
- Bản đồ dự báo về chất lượng không khí (Bản đồ 2);
- Bản đồ dự báo tác động đến sinh vật hoang dã trên cạn (Bản đồ 3);...
Bản đồ 1
Bản đồ 2
Bản đồ 3
Bản đồ tổng hợp
Các bản đồ này sẽ được chồng lên nhau thành 1 “bản đồ tổng hợp” để thể
hiện tất cả các tác động môi trường của toàn bộ vùng dự án. Bản đồ tổng hợp này sẽ
thể hiện mức độ chịu tác động của từng vùng trong khu vực dự án hay vùng lân cận.
2- Phương pháp ma trận
Phương pháp ma trận tác động là sự tổ họp của 2 loại danh mục kiểm tra. Nó
cho thấy sự tương tác giữa (i) danh sách những hoạt động của dự án với (ii) danh sách
của những thành phàn môi trường có thể bị ảnh hưởng. Ma trận được thiết lập trên cơ
sở kết hợp danh sách theo chiều đứng và chiều ngang để cho phép xác định nguyên
nhân gây ra tác động và mối liên hệ giữa những hoạt động của dự án với những thanh
phàn môi trường bị tác động.
Trong tất cả những ô của ma trận có thể ước tính về mức độ tác động hay mức
độ nghiêm trọng của tác động, mối liên hệ về nguyên nhân (tác động) và hậu quả (biến
đổi môi trường). Tuỳ theo mức độ tác động, chúng ta có thể cho điểm theo mức độ tác
động và hậu quả gây ra. Trong trường hợp giản đơn, các tác động được xác định một
cách định tính theo mức độ quan trọng của tòng tác động lên tòng thành phàn môi
trường. Hoạt động nào gây tác động tiêu cực sẽ được đánh dấu vào các ô của ma trận.
Mức độ tác động của tòng tác động có thể sắp xếp theo thứ hạng khác nhau bằng cách
MT sống sv trên cạn
Kinh tế - Xã hội
+
1+
0+
Sức khoẻ cộng đồng
Tổng
0+
4+ 0+ 1+ 2+ 2+ 0+ 1+
A, B, c, D, E, F, G.. ..là các hoạt động của dự án.
3- Phương pháp chồng bản đồ
Mục đích phương pháp này nhằm xem xét sơ bộ các tác động có thể sinh ra tò
dự án đến từng thành phàn môi trường ứong vừng dự án hay quanh vùng dự án. Từ đó
định hướng nghiên cứu định lượng bằng các phương pháp khác ở bước tiếp theo.
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là tập bản đồ về đặc tính từng thành phần của
môi trường môi trường của vùng nghiên cứu hay vùng dự án (đặc tính lý học, hoá học,
xã hội học, sinh thái học, thẩm mỹ học....) các bản đồ này phải có cùng tỷ lệ, nó được
gọi là các bản đồ đơn tính.
Để lập được bản đồ đơn tính, nghiên cứu ĐMT càn có đủ số liệu về các thảnh
11
phần môi trường vùng dự án. Kết quả, những tác động được tổng họp và trình bày
12
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
lên được những tác động nào sẽ xuất hiện đối với các nhân tố này. Phương pháp này
tập trung xác định một cách tổng thể những hoạt động dự án tác động đến tòng thành
phần môi trường đã liệt kê. Các tác động có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Xác định
mức độ ảnh hưởng của các tác động đến từng thảnh phàn môi trường như: không ảnh
hưởng, có thể ảnh hưởng, ảnh hưởng tức thời hay lâu dài, ảnh hưỏng có khả năng phục
hồi, không có khả năng phục hồi... càn phải tham khảo nhiều tài liệu để có căn cứ
(Bảng 2.2).
Bảng 2Ệ2Ệ Liệt kê số liệu về các thông số môi trường của dự án xây dựng
hệ thống thuỷ lợi
Thông số
ĐVT
Phương án
Số hồ chứa trong hệ thống
Di tích khảo cổ bị ngập
Nhân lực cần thiết
Diện tích bị thu hẹp
Chống lũ
Hô
ha
Người
ha
Mức độ
c
0
0
Ví dụ về danh mục các tác động môi trường đối với dự án xây dựng đường
giao thông:
13
Thành phần môi trường Tác động tích cực
NH
DH
có tiềm năng bị tác động
L BT
L BT
Hệ sinh thái nước ngọt
Nghề cá
KPH
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Trong đỏ: NH: Ngăn hạn, DH: Dài hạn, L: Lớn, BT: Bình thường, PH: cỏ khả năng
phục hồi, KPH: Không có khả năng phục hồi, ĐP: Địa phương, RL: Rộng lớn.
2ẻ2 Thực tiễn khai thác than ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Thực tiễn khai thác than ở Việt Nam
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hai tháng đàu năm 2009, tổng giá trị xuất
khẩu của Việt Nam giảm 5,1% so với cuối năm 2008, nhưng có một số ngành tăng
như: xuất khẩu đá quý, kim loại quý tăng 3.052,6%, xuất khẩu gạo tăng 113,2% và
xuất khẩu than tăng 9,4%... Điều này cho thấy, ngành than là một trong những ngành ít
chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn càu hiện nay. Thống kê từ năm 2003 đến hết
năm 2007, sản lượng khai thác than bình quân trên thế giới tăng khoảng 3,33%/năm,
nhưng nhu cầu sử dụng than tăng khoảng 4,46%/năm, đặc biệt khu vực châu Á và
Australia có tốc độ tăng nhu càu sử dụng than tới 7,03%/năm. Điều này chứng tỏ, nhu
14
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
cầu sử dụng than ngày càng tăng lên, trong khi trữ lượng khai thác giảm dàn trong
những năm vừa qua (bình quân 6,77%/năm trong giai đoạn 2003-2007^1
Tại Việt Nam, trữ lượng than khoảng 6 tỷ tấn, trong khi tổng trữ lượng than thế
giới khoảng 13.000 tỷ tấn. Những năm vừa qua, Việt Nam dù vẫn thực hiện xuất khẩu
than ra thế giới, nhưng cũng là quốc gia nhập khẩu than với số lượng tăng caoII
Cùng với việc gia tăng về sản lượng khai thác, ngành Than đã thực hiện tốt
công tác bảo vệ môi trường, vừa khắc phục hậu quả của nhiều năm về trước, vừa chủ
động áp dụng nhiều biện pháp tích cực để ngành Than vẫn phát triển mà môi trường
nằm gần các mỏ lớn thuộc sở hữu nhà nước sẽ bị đóng cửa hoàn toàn. Nhu càu than ở
các ngành sản xuất xi măng, phân bón, luyện kim vẫn giữ ở mức thấp, nhưng xuất
khẩu than đã tăng hơn 15 %. ■
Nền tảng của ngành khai thác than khổng lồ ở TQ là những mỏ than đã được
thăm dò với tổng trữ lượng khoảng 1000 tỉ tấn. Nhìn chung, miền Tây và miền Bắc TQ
có nhiều mỏ than, còn miền Đông và miền Nam tương đối ít than. Có thể chia ngành
công nghiệp khai thác than thành 3 khu vực sau :
- Vùng than miền Đông đang phát triển, kể cả các vùng Đông Bắc và Đông
Nam TQ, các tình Bắc Kinh, Thiên Tân, Hồ Bắc và vùng Trung Nam TQ.
- Vừng cung cấp than ở miền Trung, bao gồm các tỉnh miền Trung như Sơn
Tây, Nội Mông.
- Vùng miền Tây, kể cả Tây Bắc TQ, có trữ lượng than lớn nhưng chưa khai
thác.
Hiện nay, hơn 600 mỏ than lớn trực thuộc trung ương và khoảng 1.800 mỏ than
quy mô trung bình thuộc các tỉnh đang được khai thác ở TQ. Ngoài ra còn có nhiều mỏ
than nhỏ do các thành phố, thị xã quản lý, nhưng trong thời gian qua rất nhiều mỏ kiểu
này đã phải đóng cửa do tình ừạng cung vượt càu. Than chiếm 75 % các nguồn năng
lượng sơ cấp được sản xuất và tiêu thụ ở TQ, đồng thời chiếm 80% dự trữ năng lượng
16
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
đã được thăm dò ừong nước. Than cũng chiếm 60% nguyên liệu được sử dụng trong
công nghiệp hóa chất TQl
Trong hai thập niên qua ngành khai thác than TQ đã được hiện đại hóa nhiều,
nhưng vẫn còn thua kém ngành khai thác than ở các nước phát triển, nhất là về những
mặt như hiệu quả khai thác, chất lượng thiết bị, bảo vệ môi trường, an toàn lao động và
sức khỏe nghề nghiệp, hiệu quả sử dụng tài nguyên và hiệu quả kinh tế. Phần lớn các
80.000 mỏ than trực thuộc các thành phố, thị xã, với sản lượng trung bình mỗi mỏ chỉ
khoảng 6.700 tấn/ năm.[2]
Năng suất lao động trong ngành than TQ khá thấp, chỉ bằng 1/10 năng suất
tương ứng ở Ôxtrâylia và còn thấp hơn nữa so với Mỹ - nước đã vượt TQ để trở thành
quốc gia sản xuất than lớn nhất thế giới hiện nay. Hiệu suất thu hồi than từ vỉa than ở
TQ chỉ đạt 20 - 50%. ở các mỏ nhỏ địa phương, hiệu suất thu hồi thấp đến mức khoảng
90% than trong vỉa bị bỏ phí không thu hồi được.
Đại đa số than khai thác ở TQ được tiêu thụ trong nội địa, vì vậy nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường lớn nhất ở TQ là việc đốt than. Theo ước tính, hằng năm sự ô
nhiễm môi trường do đốt than đang gây ra thiệt hại khoảng 1,9 triệu USD cho các công
trình xây dựng và sản xuất nông nghiệp, chưa tính đến các thiệt hại về mất sức khỏe
cộng đồng. Trong tương lai gần, than vẫn sẽ là nguồn năng lượng chủ yếu của TQ, vì
vậy việc áp dụng công nghệ sạch là vấn đề rất quan trọng để giảm ô nhiễm không khí
và tăng hiệu quả sử dụng than.
Hiện nay Mỹ, châu Âu, Ôxtrâylia đang tập trung nghiên cứu các hệ thống đốt
than tân tiến để giảm ô nhiễm không khí. Nhưng TQ vẫn chưa đi đến giai đoạn phát
triển đó, mà vẫn đang tập trung nỗ lực vào việc phát triển và cải thiện các phương pháp
sản xuất than rửa. Cho đến gần đây, chỉ chưa đày 1/4 than sản xuất ở TQ (kể cả than
luyện cốc và than đốt lò hơi nước) là than đã rửa, số than còn lại được đốt ở dạng chưa
rửa. Theo các nhà khoa học TQ, công nghệ sản xuất than rửa là một công nghệ có chi
phí đàu tư và vận hành thấp hơn so với các công nghệ sản xuất than sạch khác.
Than có hàm lượng lưu huỳnh cao hoặc trung bình (trên 2% lưu huỳnh) chiếm
đến 11 % tổng sản lượng than hằng năm của TQ. 65 % số than này chứa lưu huỳnh ở
dạng pyrit. Phàn lớn các chất tro và 50 - 70% pyrit có thể được loại bỏ nhờ phương
pháp phân loại cơ học. Cuối năm 1997, các mỏ than lớn của nhà nước có tổng cộng
18
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
và xây dựng lại. Trong thời kỳ kế hoạch 5 năm làn thứ 9, Trung Quốc đã tiến hành
19
điều tra tình hình sụt lún diện tích đất do khai thác mỏ gây ra; ở vùng Phú Thuận việc
khai thác mỏ đã gây ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc trên phạm vi diện tích là
160 km2, do sụt lở đã mất đi 7200 mẫu đất canh tác. Tháng 3 năm 2001 việc khai thác
mỏ đã làm cho hàng trăm toà nhà dân ở thành phố Phú Tân bị huỷ hoại. Vùng mỏ
Xuân Huy tỉnh Cát Lâm việc khai thác mỏ làm sụt lở đã gây ảnh hưởng tới đầu tư
nước ngoài. Theo tài liệu thống kê chưa đầy đủ của 12 Cục Khoáng sản ở vùng Đông
Bắc cho biết để khai thác được 134 triệu tấn than, hoạt động khoáng sản ở các mỏ đã
làm sụt lở 22,4 ngàn mẫu đất. Tính trung bình cứ khai thác một vạn tấn than thì có 1,7
mẫu đất bị sụt lở. Hiện nay trữ lượng than bùn ở dưới ruộng của các Cục Khoáng sản
này là 1,344 tỉ tấn nếu khai thác hết sẽ làm cho 228,5 ngàn mẫu ruộng bị phá huỷ^l
Phát triển bền vững trong lĩnh vực hoạt động khai thác than của Trung Quốc là
nhằm đảm bảo đày đủ sản lượng than cung cấp cho sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất
nước và phát triển không ngừng xã hội Trung Quốc theo đường lối xã hội chủ nghĩa,
mang màu sắc Trung Quốc, đồng thời phải đảm bảo làm tốt công tác bảo vệ môi
trường trong quá trình phát triển các hoạt động khai thác than. Để thực hiện chiến lược
đó, Trung Quốc đã xây dựng "Quy hoạch tài nguyên than toàn Trung Quốc" trong đó
xác định rõ 6 nhiệm vụ lớn về phát triển tài nguyên than và bảo vệ tài nguyên than
trong 10 năm (2001 - 2010) của Trung Quốc là:
Điều chỉnh và khống chế tổng lượng tài nguyên than.
Sử dụng họp lý tài nguyên than.
Mời và sử dụng đầu tư nước ngoài trong tìm kiếm, điều tra thăm dò địa chất và
khai thác tài nguyên than.
Sử dụng tài nguyên và thị trường than của nước ngoài.
Thực thi chiến lược dự trữ tài nguyên than.
Bảo vệ môi trường sinh thái các vùng mỏ.
triển mạnh, gây ô nhiễm môi trường nước.
- Các chất độc hại:
Phổ biến trong nước bao gồm các hóa chất độc hại và kim loại nặng như thủy
ngân, chi, kẽm... Các chất độc hại này chủ yếu phát sinh từ nước thải công nghiệp.
Bảng 2.3. Một số giới hạn nồng độ ô nhiễm cho phép trong nước thải
công nghiệp
21
TT Thông số
f)nti vi
Giá trị giới hạn TCVN 5945:2005
A
B
c
l/Uli »1
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Nhiệt độ
10.
llẵ
7.
40
45
5,5 đến 9
5 đến 9
100
50
200
Mg/1
50
0,005
80
100
0,01
0,01
Mg/1
Mg/1
0,05
0,1
-
400
fr
Nguôn. Quy định tại Quyêt định sô 22/2006/QĐ-BTNMT
Theo TCVN 5945- 2005 giá trị giới hạn nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải
công nghiệp được phân thành 3 cấp: A, B,
c. Nước thải công nghiệp có nồng độ các
chất ô nhiễm bằng hoặc nhỏ hơn giá trị giới hạn ở cấp A thì có thể đổ thải vào các vực
nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Nước thải công nghiệp có nồng độ các chất
ô nhiễm bằng hoặc nhỏ hơn giá trị giới hạn ở cấp B thì chỉ được đổ thải vào các vực
nước dùng cho các mục đích giao thông tìiuỷ, tưới tiêu, bơi lội, nuôi thuỷ sản, trồng
trọt. Nước thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm lớn hơn giá trị giới hạn ở cấp
B nhưng nhỏ hơn giá trị giới hạn ở cấp
c thì chỉ được phép thải đổ vào các nơi quy
định. Nếu nước thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm lớn hơn giá trị giới hạn
ở cấp c thì không được đổ thải ra môi trường.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Thông số
Giá trị giới hạn TCVN 5939:2005
Bụi khói:
Bụi chứa silic
Chì
Đồng
CO
S02
Amoniac
H2S
HC1
H2SO4 (các nguồn)
NOx (các nguồn)
NOx (cơ sở sản xuất axit)
HNO3 (các nguồn)
HNO3 (cơ sở sản xuất axit)
A
1000
500
2000
1000
rr
Ngụôn:Quy định tại Quyêt định sô 22/2006/QĐ-BTNMT
Giá trị giới hạn ở cột A áp dụng cho các cơ sở đang hoạt động;
Giá trị giới hạn ở cột B áp dụng cho tất cả các cơ sở xây dựng mới.
23
Ồ nhiễm đất
Nguyên nhân
- Nước thải của quá trình bóc dỡ đất đá để khai thác than.
- Bụi bột than phát sinh trong quá trình khai thác, sàng tuyển và vận chuyển.
- Chất thải rắn: than sit bị thải.
Tỉnh chất
- Nước thải của quá trình khai thác mang nhiều bột than chảy vào thuỷ vực làm
bồi lắng dòng chảy, khi ngấm trực tiếp xuống đất làm thay đổi tính chất hóa lý của đất
dẫn đến giảm năng suất cây trồng.
- Bụi bột than phát sinh trong quá trình khai thác, sàng tuyển và vận chuyển
phủ lên bề mặt đất, làm thay đổi màu sắc cảm quan, gặp nước bụi bột than sẽ ngấm
xuống đất, khi đó tính chất ô nhiễm tương tự như nước thải.
pIỈKCL
-
TổngN
Tổng p
Zn
Mn
Cu
Cl
Cd
Pts
Pb
TổngN
Tổng p
Kẽm
Mangan
Đồng
Clo
Cadmium
Fe
Độ chua
Sắt
%
%
ppm
Chất thải rắn công nghiệp
Nguyên nhân
Do quá trình khai thác than: lớp đất đá phải bóc dỡ để lấy than, các loại than sít
không đủ chất lượng phải thải ra ngoài môi trường.
Do quá trình sàng tuyển, vận chuyển than ra các cảng bãi: Đó chính là bột bụi
than, sau khi hoà với nước mưa sẽ ngấm vào trong đất làm biến đổi
thành phần đất, ảnh hưởng đến sản xuất đất nông nghiệp.
Tỉnh chất
25