Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học thực hành lâm sàng của đội ngũ điều dưỡng trưởng tại Bệnh viện Thống Nhất - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Bùi Thị Thu Thủy

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC THỰC HÀNH LÂM
SÀNG CỦA ĐỘI NGŨ ĐIỀU DƯỠNG TRƯỞNG
TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Vinh, 2013



2

LỜI CẢM ƠN
Bằng tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc của một học viên, tôi xin chân
thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, quý thầy cô trường
đại học Vinh đã tham gia quản lý và tận tình giảng dạy cho tôi những kiến thức bổ
ích và thiết thực trong quá trình học tập, làm luận văn.
Đặc biệt, với tình cảm kính trọng và chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới thầy giáo: PGS.TS. Đinh Xuân Khoa - người hướng dẫn khoa học, đã
tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn..
Xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo các khoa phòng Bệnh viện
Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, gia đình, bạn bè và những đồng nghiệp đã
tạo điều kiện, động viên, khích lệ, đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình học tập,
thực hiện và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không thể tránh

2.4. Thực trạng sử dụng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động dạy học lâm sàng tại Bệnh viện Thống Nhất…………….............…
2.5. Nguyên nhân của thực trạng…………………………………………
Kết luận chương 2………………………………………………………..
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH LÂM SÀNG
CỦA ĐDT
3.1. Các nguyên tắc đề xuất các giải pháp…………………………….….
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học
thực hành lâm sàng của ĐDT tại BV Thống Nhất …………………...….
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của giải pháp được đề xuất…
Kết luận chương 3…………………………………...…………………...
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………...………
PHỤ LỤC ……………………… …………………………...………….

5
10
10
14
22
24
32
33
33
42
46
53
55
56


3.

BS

Bác sĩ

4.

BV

Bệnh viện

5.

BYT

Bộ Y tế

6.

CBQL

Cán bộ quản lý

7.

CBLĐ

Cán bộ lãnh đạo


13.

GDSK

Giáo dục sức khỏe

14.

HĐDH

Hoạt động dạy học

15.

HSSV

Học sinh sinh viên

16.

HĐDD

Hội đồng điều dưỡng

17.

KCB

Khám chữa bệnh


23.

YT

Y tế


5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích,
có kế hoạch, thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo
dục nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người. Giáo dục là quá trình tác
động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý
tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội.
Giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách
quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như
hình thành nhân cách của con người.
Giáo dục diễn ra thường xuyên, liên tục ở nhiều môi trường hoạt động của con
người (trong gia đình, nơi làm việc, trong nhà trường, trong quan hệ xã hội...), trong
đó môi trường nhà trường có vai trò quyết định.
Giáo dục chuyên nghiệp là lĩnh vực trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình
thành nghề nghiệp chuyên môn cho con người trong tương lai.
Nhận thức vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp
hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII ) đã khẳng định: "Thực sự coi giáo dục - đào
tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư
cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển. Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi

luận văn, các tài liệu có lựa chọn liên quan chặt chẽ với công tác nghiên cứu để làm
luận cứ cho việc xây dựng các giải pháp.
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí giáo dục
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
6.3 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng để xử lý số liệu
7. Những đóng góp chính của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng dạy học và quản lý chất lượng dạy học.
7.2 Về mặt thực tiễn
Phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học thực hành điều dưỡng tại BV
Thống Nhất, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học thực hành
lâm sàng của Điều dưỡng trưởng BV Thống Nhất.
8. Cấu trúc luận văn


9

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận
văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học thực hành
lâm sàng của các Điều dưỡng trưởng tại BV Thống Nhất.


10

đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của nhân dân
trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật ở ba tuyến:


11

tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong đội
chăm sóc sức khỏe (WHO, 2002). Muốn vậy phải nâng cao chất lượng phục vụ
bệnh nhân/thân chủ, hệ thống hoá các chuẩn mực kỹ thuật chăm sóc theo các qui
định quốc tế .
Một trong những chuẩn mực đó là trình độ chuyên môn của ĐDV trong hệ
thống y tế quốc dân, một lực lượng không thể thiếu trong CSSKTD/WHO.
Muốn đạt được các chuẩn kỹ thuật mong muốn cần có nền tảng giáo dục đổi
mới để thu hút học viên theo học và tạo điều kiện để họ phát triển tri thức một cách
toàn diện [35, Tr. 49].
Ngày nay, những xu thế thay đổi về kinh tế xã hội đã và đang tác động nhiều
đến ngành Điều dưỡng như khách hàng sử dụng dịch vụ y tế, công nghệ y học, giá
cả, chăm sóc lâm sàng, quản lý chăm sóc, chính sách y tế, nguồn nhân lực. Chất
lượng đào tạo điều dưỡng liên quan đến chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Một
trong những chuẩn đào tạo điều dưỡng là khả năng thực hành lâm sàng của điều
dưỡng. Tại Châu Á hệ thống giáo dục điều dưỡng đang có những bước tiến mạnh
mẽ để bắt kịp sự thay đổi về kinh tế xã hội trong toàn khu vực và trên thế giới.
Để tăng cường chất lượng thực hành điều dưỡng, luật hành nghề của Thái lan
được ban hành vào năm 1997. Với mục đích đảm bảo chất lượng giáo dục trong
lĩnh vực điều dưỡng, các trường đào tạo đều phải đăng ký với HĐĐD Thái lan và
công tác thanh tra, kiểm tra sẽ tiến hành trong vòng 1-5 năm một lần. Hội đồng này
sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra về chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo của các
khoa, phương pháp dạy/học, những nghiên cứu và ấn bản đã phát hành, các dịch vụ
cộng đồng của nhà trường, cơ sở hạ tầng, nguồn lực tài chính, hồ sơ tốt nghiệp,
cũng như những hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.

làm cho học sinh nâng cao kinh nghiệm và chăm sóc người bệnh, tự tin trong công
tác và tăng sự hài lòng và tinh thần làm việc của nhân viên [12].
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy, phương thức giảng dạy của giáo viên
và điều dưỡng tại BV có ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành kiến thức và kỹ
năng lâm sàng cho sinh viên [6].


13

Áp dụng tiêu chuẩn năng lực trong giảng dạy lâm sàng là cần thiết nhằm đáp
ứng yêu cầu đào tạo và nhu cầu của nhà tuyển dụng cũng như đáp ứng nhu cầu
chăm sóc sức khỏe của xã hội [41].
1.1.2 Tại Việt nam
Hệ thống GD nghề nghiệp của VN đã hình thành trên 50 năm. Luật giáo dục
2005 đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục chuyên nghiệp là: "Đào tạo người lao động có
kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau. Có đạo đức lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, có tác phong công nghiệp, có SK nhằm tạo điều kiện
cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh".
Học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp đào tạo nghề (theo trình độ đào tạo)
yêu cầu phải có năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng
với nghề nghiệp và tự lập nghiệp, có ý thức kỷ luật tác phong lao động chuyên
nghiệp. Để đạt yêu cầu trên, cần có biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành
trong đào tạo nghề.
Vấn đề quản lý hoạt động dạy học thực hành cũng được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu như Nguyễn Quang Huỳnh, Lê Minh Trang trong công trình nghiên
cứu: "Một số vấn đề về sư phạm dạy nghề"
Một số luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục đề cập tới quản lý hoạt động dạy
học của giáo viên như:
- “Một số giải pháp quản nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng
Cộng đồng Hà Nội.” Nguyễn Khắc Tuệ - 2010;

định: “QL là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển sự phát triển xã
hội”.
Theo Nguyễn Minh Đạo: “QL là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định
hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng
quản lý) về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa bằng một hệ thống các luật lệ,
các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [7, Tr. 97].
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ
chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng


15

của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn
định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [14, Tr. 34].
Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều có nội
dung cơ bản về khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu
đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Đối với giáo dục thì quản lý thực chất là sự tác động một cách khoa học của
CTQL đến hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ vận hành đến một trạng thái mới có
chất lượng cao hơn.
Nhiệm vụ cơ bản của quản lý:
Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong
tương lai và lên các kế hoạch hành động.
Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để thực hiện
kế hoạch.
Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho
từng công việc thích hợp.

quá trình. Dạy học bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy của thầy và quá trình
học của trò. Hai quá trình này có mối quan hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì
nhau và thúc đẩy nhau phát triển.
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt đông dạy và hoạt
động học là quan hệ điều khiển. Do đó, hành động quản lý (điều khiển hoạt động
dạy và học) của người quản lý chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy và trực
tiếp của thầy, gián tiếp với trò, thông qua hoạt động dạy của thầy, quản lý hoạt động
học của trò.
Quản lý dạy - học là quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung,
đổi mới phương pháp, sử dụng các phương tiện dạy - học; tổ chức dạy - học; quản
lý chất lượng dạy - học. Đó là những tác động đến đổi mới nhận thức của giáo viên
về dạy - học và đổi mới hoạt động dạy - học trong nhà trường.
Chất lượng dạy - học phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, làm thoả mãn
khách hàng và luôn hướng vào khách hàng (khách hàng bên trong là học sinh;


17

khách hàng bên ngoài là cha mẹ học sinh, cộng đồng, người sử dụng lao động, xã
hội)
Thuật ngữ “quản lý chất lượng tổng thể” (total quality management -TQM)
đã được tiến sỹ A.V. Faygenbaum đưa ra từ những năm 50 của thế kỷ XX khi ông
đang làm việc tại hãng General Electric. Từ đó, TQM luôn được các nhà nghiên cứu
khoa học quản lý giáo dục bàn đến và từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây,
TQM đã trở thành tâm điểm chú ý của các cơ sở giáo dục, vì TQM là mô hình quản
lý toàn bộ quá trình giáo dục để đảm bảo chất lượng từ đầu vào, quá trình, đầu ra
(kết quả và khả năng thích ứng về lao động và việc làm).
TQM hướng tới xây dựng một quy trình quản lý chất lượng dạy - học hợp
lý. Cần thiết phải quản lý có hiệu quả tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý, cải
tiến liên tục, cải tiến từng bước, phòng ngừa hơn khắc phục, tránh sai sót, làm đúng

Theo Từ điển Giáo dục học, chất lượng giáo dục là “tổng hòa những phẩm
chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho
người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội. Chất lượng giáo dục
có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện xã hội đương thời,
trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng tham gia giáo dục…”.
Từ định nghĩa Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, có thể xem Chất lượng
giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục là những yêu cầu
của xã hội đối với con người mà các nhà trường cần phải đáp ứng.
Theo tác giả Trần Khánh Đức - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục - cho
rằng: “CLĐT là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về
người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, CTĐT theo các ngành nghề cụ thể”.
Trong kỷ yếu hội thảo Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp Việt Nam,
theo hai tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp - Đại học quốc gia Hà Nội thì
“CLĐT được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một
CTĐT”.
Theo GS.TS. Phạm Minh Hạc: “Chất lượng giáo dục là kết quả tổng hợp
phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục đào tạo ở từng người
học, từng lớp, trường, địa phương và cả nước có sự phát triển bền vững”


19

Như vậy, có nhiều quan niệm về chất lượng và CLĐT, các nhà nghiên cứu
giáo dục đã cố gắng đưa ra một khái niệm tương đối về CLĐT, khái niệm này mang
tính chất động và đa chiều. CLĐT được coi là kết quả của QTĐT, kết quả của
QTĐT là sự chuyển biến nhân cách của học viên theo mục tiêu đào tạo. Một nhà
trường muốn tồn tại và phát triển bền vững phải không ngừng nâng cao CLĐT.
Như vậy, ta có thể nói, chất lượng giáo dục (dạy học) là sự phù hợp giữa kết
quả giáo dục (dạy học) với mục tiêu giáo dục (dạy học).
Chất lượng giáo dục thường được xác định và đánh giá bởi những tiêu chí

Môi trường lâm sàng có thể bao gồm những đơn vị chăm sóc sức khỏe cấp
tính và luân chuyển bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe trong thời gian dài và cộng
đồng. Hầu hết các tài liệu đề cập đến môi trường học lâm sàng dựa trên khía cạnh
của những sinh viên thực hành trong môi trường đó (ví dụ Quinn & Hughes, 2007
hoặc Billings & Halstead 2009). Trong khi hầu hết các tài liệu này bàn luận rằng
môi trường học lâm sàng thì phức tạp do “sử dụng kỹ thuật cao, nhịp độ luân
chuyển bệnh nhân cao, tình trạng nguy kịch của bệnh nhân, nhu cầu bệnh nhân
phức tạp và nhân viên…những thay đổi về chính sách và xã hội” [13, Tr. 284].
* Dạy học thực hành lâm sàng
Dạy học thực hành lâm sàng là phương pháp dạy/học cho từng cá nhân, học
viên được một điều dưỡng có kinh nghiệm hướng dẫn thực tập trong môi trường
lâm sàng.
Giảng dạy lâm sàng được giảng dạy diễn ra trong một bối cảnh lâm sàng. Nó
thường liên quan đến bệnh nhân và thủ tục lâm sàng, và như vậy, đòi hỏi sự nhạy
cảm, bảo mật và thận trọng.
Giảng dạy lâm sàng là một hình thức giao tiếp giữa các cá nhân gồm hai người
- một giáo viên và một học viên. "Quá trình dạy và học là một giao dịch liên quan
đến con người: giáo viên, học viên và các nhóm học tập trong một tập hợp các mối
quan hệ năng động. Dạy học là một vấn đề quan hệ của con người". Như một "vấn
đề quan hệ," giảng dạy và học tập thành công đòi hỏi các giáo viên hiểu và xây
dựng sử dụng bốn yếu tố:
1. Vai trò của giáo viên và kiến thức, thái độ và kỹ năng mà giáo viên mang
đến cho các mối quan hệ;


21

2. Vai trò của người học và những kinh nghiệm và kiến thức mà người học
mang đến cho các mối quan hệ;
3. Các điều kiện hoặc ảnh hưởng bên ngoài mà tăng cường quá trình dạy và



22

1.3. Hoạt động dạy học thực hành lâm sàng
Theo chương trình khung đào tạo Điều dưỡng ban hành theo Quyết định số
12/2001/QĐ - BGD &ĐT ngày 26 tháng 4 năm 2001, quy định mục tiêu và nội
dung của dạy học thực hành lâm sàng:
1.3.1. Mục tiêu của dạy học thực hành lâm sàng
Mục tiêu của dạy học thực hành lâm sàng nhằm giúp HS nâng cao kiến thức
và kỹ năng, vận dụng được các lý thuyết chuyên môn đã học vào thực tế, hình thành
kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời rèn luyện Y đức, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong
chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của một điều dưỡng chuyên nghiệp khi thực hành
nghề. Nâng cao kiến thức và kỹ năng của sinh viên điều dưỡng làm cho thực hành
sành sõi hơn một cách hiệu quả thực tế, thúc đẩy học sinh tăng tính độc lập lâm
sàng và chuẩn bị cho học sinh chăm sóc bệnh nhân có kết quả sức khỏe tối ưu.
1.3.2. Nội dung của dạy học thực hành lâm sàng
Nội dung dạy học thực hành là hệ thống những phương sách kỹ thuật kèm
theo cách thức thực hiện với chỉ tiêu thực hành, từ nội dung thực hành, thực tập
trong từng học kỳ, đến khi hoàn tất chương trình, bao gồm các giá trị tinh thần, đạo
đức chứ không chỉ rèn luyện tay nghề... Tất cả yếu tố đó mới đảm bảo sự phát triển
nhân cách và hình thành kỹ năng nghề ĐD cho HS. Luật Giáo dục đã nêu rõ " Nội
dung GD nghề nghiệp phải tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng
GD đạo đức, rèn luyện SK, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo.”.
1.3.3. Hình thức, phương pháp dạy học thực hành lâm sàng
Phương thức dạy học thực hành lâm sàng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự
hình thành kiến thức và kỹ năng lâm sàng cho học sinh. Phương pháp (PP) dạy học
thực hành lâm sàng có mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy kiến thức, thái độ và
kỹ năng liên quan trực tiếp đến sự có mặt của bệnh nhân. Một trong những nguyên
tắc dạy thực hành lâm sàng là bố trí sao cho mọi học viên có thể quan sát tốt. Các

- Kỹ năng giao tiếp kém, không thể đưa ra phản hồi trung thực và có tính xây
dựng.
- Không tạo cơ hội cho học sinh thực hành vì học sinh còn chậm chạp.
- Không khơi gợi tính độc lập của học sinh.
- Áp đặt công việc cho học sinh.
- Giảng dạy bằng sỉ nhục.
- Giám sát không đầy đủ và không cung cấp thông tin phản hồi.
- Giảng dạy ở mức độ quá cao.


24

* Đối với người học:
-

Thiếu mục tiêu và kỳ vọng rõ ràng.

-

Tập trung vào việc thu hồi thực tế chứ không phải là phát triển

các kỹ năng và thái độ giải quyết vấn đề.
-

Quan sát thụ động chứ không phải tham gia tích cực của người

-

Ít cơ hội để suy nghĩ và thảo luận.



Trích đoạn Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của giải pháp được đề xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status