1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo các nhà xã hội học, con người là một thực thể bao gồm những
thuộc tính tự nhiên và xã hội, mang bản chất tâm lý xã hội. Trong quá trình
hoạt động của mình, con người luôn chịu sự tác động qua lại giữa tự nhiên và
xã hội và các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội luôn vận
động và biến đổi không ngừng. Trong thế giới đó, sự thay đổi là một tất yếu,
chính nó làm cho thế giới thay đổi và không gì có thể thay đổi sự thay đổi
đó. Con người luôn sống với sự thay đổi. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, con
người cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể thích nghi và tồn
tại, giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và kiểm soát được môi
trường xung quanh. Nói cách khác, để sống tốt và hoạt động hiệu quả, con
người cần phải có những kỹ năng sống (KNS) cơ bản cần thiết. KNS có thể
được hình thành một cách tự nhiên qua trải nghiệm hoặc có thể thông qua
giáo dục (GD), học tập, rèn luyện.
Trong lịch sử xã hội loài người, sự phát triển của các nền khoa học,
công nghệ đến chóng mặt đang là sự khẳng định văn minh của nhân loại,
đồng thời cũng là những thử thách lớn về khả năng thích ứng của cá nhân con
người, nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Hơn bao giờ hết, việc trang
bị cho thế hệ trẻ (lứa tuổi vị thành niên) là rất cấp thiết. Bởi GD KNS ở
trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho
người học; trang bị những kỹ năng cần thiết, các chuẩn mực đạo đức, các giá
trị văn hóa tốt đẹp đồng thời thiết lập và tạo những tác động tốt đối với các
mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh (HS), bạn bè với nhau, giữa
cá nhân các em với người thân trong gia đình và với cộng đồng ngoài xã hội.
2
nội dung thiết thực để xây dựng trường học thân thiện. Đây là cơ sở pháp lý
để việc GD KNS và công tác QLGD KNS cho HS cấp THCS được thực thi.
Từ lý do trên, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “ Một số giải pháp
quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường trung học cơ sở quận 2,
thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng đề xuất một số giải pháp
QL nhằm nâng cao hiệu quả GD KNS Quận 2, tp Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác QLGD KNS cho HS ở các trường THCS
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp QLGD KNS cho HS ở các trường THCS Quận 2,
thành phố Hồ Chí Minh
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả công tác GD KNS cho HS ở các trường THCS tại Quận 2,
thành phố Hồ Chí Minh sẽ được nâng cao nếu đề xuất và thực hiện các giải
pháp có tính khoa học, tính đồng bộ, tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa
phương.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về QLGD KNS cho HS THCS
5.2. Nghiên cứu thực trạng KNS và QL công tác GD KNS cho HS ở các
trường THCS Quận 2, Tp Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp QLGD KNS cho HS ở các trường THCS Quận
2 Tp Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cứu
4
CHƯƠNG 2 :Thực trạng kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trung học cơ sở Quận 2, thành phố Hồ Chí
Minh
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trung học cơ sở Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO
6
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
KNS và vấn đề GD KNS cho con người đã được người xưa quan tâm
như “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, học làm người, học ứng xử, học để
thích ứng và tự bảo vệ trước thiên nhiên. Đó là những kinh nghiệm sống được
lưu truyền qua nhiều đời với nhiều hình thức khác nhau , trong đời sống xã hội.
Vấn đề KNS và GD KNS bắt đầu được nghiên cứu ở mức độ khái quát,
Từ nhà khoa học P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V.Petropxki,… Trong các
công trình nghiên cứu của mình, P.Ia.Galperin chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình
thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai
đoạn. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các
lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động gắn với những tên
tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thuỷ,
kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, Hà Thị Đức, Kỹ
năng hoạt động sự phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops, Nguyễn Như An,
Nguyễn Vãn Hộ.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, tổ chức UNESCO đã vạch rõ
ba thành tố của học vấn, đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái
động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai.
Ở Ấn Độ, GD KNS cho HS được xem xét dưới góc độ giúp cho con
người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển
năng lực người. Các KNS được khai thác GD là các kỹ năng: Giải quyết vấn
đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ
liên nhân cách vv…
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình
của UNICEF (1996) “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường”. Khái niệm KNS được
8
giới thiệu trong chương trình này bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ năng tự
nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định,
kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu. Tham gia chương trình đầu tiên này
có ngành GD và Hội chữ thập đỏ. Sang giai đoạn 2, chương trình này mang
tên: “GD sống khoẻ mạnh và KNS”. Ngoài ngành GD còn có Trung ương
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Đến Hội thảo “Chất lượng GD và KNS” được tổ chức từ ngày 23 đến ngày
25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội, những người làm công tác GD ở Việt Nam
đã hiểu đầy đủ và đa dạng hơn về KNS.
Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới GD phổ
thông (Tiểu học và THCS) trong cả nước. Trong chương trình THCS đổi mới
đã hướng đến GD KNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng
như: Ngữ văn, Sinh học, GDCD, HĐ GD NGLL …KNS được GD thông
qua một số chủ đề: “Con người và sức khoẻ”. Từ năm học 2009-2010, Bộ
GD và ĐT đã đưa chương trình GD KNS vào việc thực hiện nhiệm vụ
năm học.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GD KNS cho thanh thiếu
dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hình
thức vận động cụ thể”.
Theo K.K.Platônôp: “ Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện
một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh
nghiệm cũ”.
Theo tác giả Vũ Dũng, “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả
tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện
những nhiệm vụ tương ứng” [39].
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên: “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến
10
thức trong hoạt động”. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ
và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt
được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một
kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ
một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định.
Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: “Kỹ năng là
năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo
đúng quy trình”.
Từ các khái niệm trên, ta thấy rằng:
- Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng. Tri thức ở đây bao
gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động.
- Kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hành động của cá nhân.
- Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm
đạt được mục đích đã đặt ra.
Như vậy, ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng là
năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách
lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để
thương thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết…
Thực chất cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ
về KNS. Trên thế giới đã tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về
KNS. Mỗi định nghĩa được thể hiện dưới những cách thức khác nhau. Nhưng
hiểu một cách đầy đủ và cơ bản thì “ KNS là năng lực thực hành tự có và cần
có của mỗi người giúp giải quyết những nhu cầu và thách thức của cuộc sống
một cách có hiệu quả để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất
lượng cao- cách sống tích cực trong xã hội hiện đại”
12
Như vậy, KNS hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái
độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính
chất xây dựng.Nó thường được thiết lập với một nền tảng riêng biệt, mọi
người có thể hiểu và thực hành. KNS liên hệ mật thiết với những nội dung
GD thực hành.
KNS mang cả tính cá nhân và xã hội. Tính cá nhân bởi vì đó là khả
năng của mỗi cá nhân. Tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của sự phát triển
xã hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợp với những KNS
ấy. Theo một cách khác, KNS là khả năng để mỗi người có thể ứng phó một
cách thích hợp, chắc chắn với từng điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa khác
nhau.
1.2.3. Giáo dục kỹ năng sống ( GD KNS)
Theo nội dung cuộc họp liên ngành của LHQ, Geneve, 7-4-1998, “GD KNS
được thiết kế nhằm hỗ trợ và củng cố việc thực thi các kỹ năng tâm lý xã hội
một cách phù hợp với nền văn hóa và sự phát triển của cá nhân và xã hội,
việc phòng chống các vấn đề xã hội và sức khỏe, và sự phát triển của quyền
con người.” [38, 17]
1.2.4. Quản lý, quản lý giáo dục
trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”. [ 2 3 ,21]
1.2.5. Giải pháp, giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
1.2.5.1. Giải pháp:
Theo Từ điển Việt-Việt, giải pháp là cách giải quyết một vấn đề nào
đó.
14
Theo nghĩa trên, giải pháp được hiểu là những cách thức tác động
nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất
định để đạt được mục đích hoạt động.
Giải pháp phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn. Khi các giải
pháp đưa ra càng khoa học, càng phù hợp với thực tiễn và khả thi thì càng
giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra một cách hiệu
quả.
1.2.5.2. Giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Giải pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý để đạt được các mục tiêu đã
đặt ra.
Giải pháp QL công tác GD KNS cho học sinh THCS là cách thức tác
động của chủ thể quản lý đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường để đạt được mục tiêu GD KNS, góp phần nâng cao hiệu quả GD toàn
diện cho học sinh THCS.
1.3. Một số vấn đề về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
1.3.1. Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học
cơ sở
GD KNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến HS
nhằm giúp các em có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác,
những tri thức khoa học, ít chú ý việc trang bị các KNS. càng ngày chúng ta
càng nhận ra tầm quan trọng của việc trang bị các KNS để ứng phó với sự
thay đổi, biến động của môi trường. Đặc biệt là với lứa tuổi vị thành niên nói
chung và lứa tuổi dậy thì nói riêng, khi các em bước vào giai đoạn khủng
hoảng lứa tuổi quan trọng của cuộc đời. Các em càng cần được trang bị KNS
để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất.
16
Hiện nay, cả nước ta có khoảng 18 triệu HS, GD KNS trong trường
học góp phần rèn luyện, hình thành cho HS sống có trách nhiệm hơn và biết
lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó các sức ép, thách thức trong cuộc
sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỷ lệ phạm pháp. GD KNS
còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy, trò, sự hứng thú tự tin, chủ
động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả GD. HS được GD
KNS xác định được bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình
và xã hội.
1.3.2. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Với ý nghĩa KNS là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội
cần thiết đối với thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn,
ứng xử một cách tự tin đồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản
thân mình trước mọi người và cộng đồng thì KNS cần thiết cho HS THCS.
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng GD KNS ở Việt
Nam những năm qua, nội dung GD KNS cho HS THCS gồm các nhóm kỹ
năng chính sau đây cần được giảng dạy và tổ chức cho các em thực hành :
1.3.2.1. Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:
*Kỹ năng tự nhận thức:
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người tự nhận biết và hiểu
rõ bản than như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội và bản than; hiểu rõ
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng rất quan trọng, giúp cho con người:
- Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng.
- Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tổn hại sức khoẻ thể chất
và tinh thần của bản thân.
- Xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến
người xung quanh.
18
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các KNS
khác như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xử lí cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tư
duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề.
* Kỹ năng quản lí thời gian:
Kỹ năng quản lí thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công
việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm
trong một thời gian nhất định.
Quản lí thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm
kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lí thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào
sự thành công của cá nhân và của nhóm.
1.3.2.2. Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác :
* Kỹ năng thể hiện sự tự tin:
Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh
dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định
và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có
suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.
Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương
lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.[8,18]
* Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến một cách phù hợp
giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế
cảm xúc.[8,18]
* Kỹ năng thương lượng
Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kỹ năng giao tiếp như
lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và
giải quyết mâu thuẫn. Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải
quyết vấn đề hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho
tất cả các bên.
20
Kỹ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự
cảm thông, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thoả hiệp những vấn
đề không có tính nguyên tắc của bản thân.[8,18]
* Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn:
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được
nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái
độ tích cực, không dùng bạo lực, thoả mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên
và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hoà bình.
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kỹ năng giải
quyết vấn đề. Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với
nhiều kỹ năng liên quan khác như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức,
kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định,... [8,20]
* Kỹ năng hợp tác:
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết
cam kết và cùng làm việc có hiệu quả vối những thành viên khác trong nhóm.
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS
khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông,
đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng
[8,18]
1.3.2.3. Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả :
* Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ:
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được
những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề,
tình huống của mình; đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giãi bày khó
khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lí do bị dồn nén cảm xúc; biết tìm kiếm
sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và
trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cách nhìn mới và hướng đi mới.
22
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề,
giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng. Đồng thời, để phát huy hiệu
quả của kỹ năng này, cần kỹ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý
kiến tư vấn, kỹ năng ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi
được tư vấn.[8,17]
* Kỹ năng tư duy phê phán:
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan
và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng,... xảy ra. Kỹ năng tư duy phê
phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những
hành động phù hợp, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay.
Kỹ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân - kỹ
năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị.[8,21]
* Kỹ năng tư duy sáng tạo:
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một
cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức
mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý
tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
vấn để hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống; giúp con người có thể ứng
phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống. Giải
quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác
như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự
hỗ trợ, kiên định,...[8,23]
* Kỹ năng đặt mục tiêu:
Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu
cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện. Kỹ năng
24
đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng
thực hiện được mục tiêu của mình.
Kỹ năng đặt mục tiêu được dựa trên kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư
duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ,...[8,25]
* Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin:
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lí
thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông
tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin cần kết hợp với kỹ năng tư duy
phê phán và kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ.
Một số lưu ý:
Nội dung GD KNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào
các kỹ năng tâm lí - xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả
những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Việc hình thành những kỹ
năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình
thành các kỹ năng học tập (Study skills) như: đọc, viết, tính toán, máy tính
Nội dung GD KNS cần được vận dụng linh hoạt tuỳ theo từng lứa tuổi,
pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.
* Ưu, nhược điểm:
- Đây là phương pháp có thể thu thập được nhiều ý kiến nhất, nhiều thông tin
từ nhiều người nhất trong một thời gian ngắn nhất.
- Tuy nhiên, nếu GV không nắm vững cách tiến hành sẽ biến thành phương
pháp thảo luận hoặc hỏi đáp.
1.3.3.3. Phương pháp đóng vai
* Bản chất:
Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, "làm thử" một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp nhằm