Một số giải pháp quản lý hoạt động ngoại khóa ngành Thiết kế thời trang TRường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Vinatex TPHCM - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
–––––––––––––

NGUYỄN TRẦN THỊ DIỄM HIỀN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI
KHÓA NGÀNH THIẾT KẾ THỜI TRANG TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT VINATEX TPHCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ VĂN HÙNG

NGHỆ AN, 2013


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên xin gửi lời cảm ơn đến thầy PGS. TS Hà Văn Hùng, người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Cảm ơn Ban Giám Hiệu, quí thầy cô Trường Đại Học Vinh đã hết lòng dạy bảo
tôi trong suốt quá trình đào tạo bậc Sau Đại học.
Cảm ơn Ban Giám Hiệu, quí thầy cô, các em học sinh sinh viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài được thuận
lợi.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành đề
tài này.
Xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 9 năm 2013
Học viên

1.5.1. Quản lý hoạt động của các câu lạc bộ sinh viên................................32


1.5.2. Quản lý các nội dung hoạt động ngoại khóa chuyên ngành...............36
Kết luận chương 1.........................................................................................37
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động ngoại khóa cho HSSV ngành
TKTT Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM..................39
2.1. Giới thiệu Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM.............39
2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội quận Thủ Đức...........................................39
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ thuật VINATEX TPHCM........................................................41
2.1.3. Giới thiệu về Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật VINATEX
TP. Hồ Chí Minh............................................................................42
2.2. Thực trạng giáo dục đào tạo chuyên ngành may mặc & TKTT..................47
2.2.1. Những ý kiến qua hội thảo khoa học...............................................47
2.2.2. Phỏng vấn cán bộ doanh nghiệp may thời trang................................49
2.3. Khảo sát thực trạng hoạt động ngoại khóa ngành TKTT...........................53
2.3.1. Đối tượng khảo sát.........................................................................53
2.3.2. Mục đích khảo sát..........................................................................53
2.3.3. Mẫu phiếu khảo sát........................................................................55
2.3.4. Kết quả khảo sát.............................................................................55
Kết luận chương 2.........................................................................................78
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động ngoại khóa ngành Thiết kế thời trang
Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Vinatex TPHCM...............................80
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất giải pháp........................................................80
3.1.1. Nguyên tắc mục tiêu.......................................................................80
3.1.2. Nguyên tắc thực tiễn......................................................................80
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện và hệ thống...............................80
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi.....................................................80



CĐ:

Cao đẳng

CĐCN:

Cao đẳng chuyên nghiệp

ĐH:

Đại học

ĐHQG:

Đại học quốc gia

GV:

Giảng viên

HCM:

Hồ Chí Minh

HSSV:

học sinh - sinh viên

STT:


về các mặt: trí, đức, thể mĩ, vừa có lí luận vừa có thực hành, vừa có kiến thức
vừa có kĩ năng sản xuất, vừa có văn hóa nhà trường vừa có tri thức về đời sống
xã hội. Hoạt động ngoại khóa chính là cầu nối giúp học sinh vận dụng kiến thức
vào trong đời sống, sinh hoạt gần gũi với tập thể, với nhân dân thêm một bước.
Trong giáo dục học nói chung cũng như trong lí luận dạy học các môn học
nói riêng, hoạt động ngoại khóa luôn luôn được đề cập như một hoạt động hết
sức quan trọng. Trong xu hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ
Giáo dục đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản liên quan đến việc đẩy mạnh các
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được xác định trong
Điều 26, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐBGD ĐT ngày 02/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu: “Nhà
trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường
thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài


2

giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật,
thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới
tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các
hoạt đông vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường;
các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học
sinh” [3].
Ngày 23/12/2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định tổ
chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh, sinh viên nhằm: [4] [30]
1. Tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường nhằm động
viên, khuyến khích học sinh, sinh viên tự giác tham gia tập luyện thể thao; hình
thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên cho học sinh, sinh viên.
2. Hoạt động thể thao ngoại khoá phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt

lưu học hỏi mang tính nghệ thuật cao và đặc biệt là phải đảm học sinh - sinh
viên sau khi tốt nghiệp có những kỹ năng nghề, khả năng làm việc được trong
các công ty thời trang. Để đào tạo ngành nghề thiết kế thời trang hiệu quả và đáp
ứng được những đòi hỏi trên, buộc các trường phải có sự liên kết với các doanh
nghiệp tạo môi trường thực hành, thực tế cho học sinh - sinh viên, liên tục cập
nhật những thông tin thời trang ngoài xã hội, xu hướng thời trang trong nước và
thế giới, cập nhật liên tục những nhu cầu của xã hội đối với ngành nghề thiết kế
thời trang, và luôn theo dõi hiệu quả đào tạo của trường thông qua việc sử dụng
nhân lực là học sinh - sinh viên của trường từ phía các doanh nghiệp, để kịp thời
điều chỉnh chương trình giảng dạy sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt những vấn đề trên không ít trường gặp nhiều
khó khăn, hai trong số các nguyên nhân mà tôi cho rằng có sự ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả đào tạo ngành nghề thiết kế thời trang của các trường là:
1. Chương trình và giáo trình chuyên ngành đào tạo thiết kế thời trang tại
các trường chưa đồng bộ, chưa phong phú và chưa thật sự bám sát nhu cầu của
xã hội.


4

2. Học sinh - sinh viên chưa có nhiều cơ hội cọ xát thực tế theo đúng ngành
nghề, nhà trường chưa có được sự hỗ trợ, hợp tác tốt từ phía các doanh nghiệp
trong việc cho học sinh - sinh viên đi thực tập, thực tế ngành nghề. Hầu hết các
kỳ thực tập tốt nghiệp của học sinh - sinh viên ngành Thiết kế thời trang hiện
nay đều không đáp ứng được việc thực hành nghề thiết kế thời trang mà đa phần
là học sinh - sinh viên sẽ thực hành công nghệ may hoặc làm các công việc linh
tinh phụ việc cho các công đoạn cắt, hoàn thành, … của các xí nghiệp.
Bên cạnh việc đào tạo ngành nghề thiết kế thời trang, nhà trường còn phải
chú trọng việc giáo dục học sinh - sinh viên có đầy đủ các tố chất: đức, trí, thể,
mỹ và tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh - sinh viên là một trong

ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý hoạt động ngoại khóa ngành
Thiết kế thời trang thì sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động dạy học ngành Thiết
kế thời trang ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu lý luận về vấn đề ngoại khóa và hoạt động quản lý nhà
trường, quản lý quá trình dạy học ngành thiết kế thời trang.
5.2. Tìm hiểu thực trạng của công tác ngoại khóa ở trường Cao Đẳng Kinh
tế Kỹ thuật Vinatex TPHCM và một số trường Cao đẳng, Đại học hiện nay.
5.3. Đề ra một số giải pháp quản lý hoạt động ngoại khóa cho học sinh - sinh
viên ngành Thiết kế thời trang Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
TPHCM
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi quản lý hoạt động ngoại khóa ngành Thiết kế thời trang
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TPHCM .
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


6

Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, trong quá trình thực hiện, chúng
tôi đã kết hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương
pháp nghiên cứu thực tiễn, cụ thể là:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện,
rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư
liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học, Tâm lí học,
Lí luận và Phương pháp dạy học, Lý thuyết quản lý… có liên quan trực tiếp đến
phạm vi đề tài.

ngoài việc ở lớp còn có những buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp
xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần, thầy và trò về
sống ở nông thôn một ngày... [25].
Isma’il Al-Qabbani (1898-1963), nhà cải cách giáo dục tiên phong vĩ đại
của Ai Cập đã đưa chủ nghĩa thực dụng (do John Dewey, người Mỹ, khởi
xướng) đến với nhân dân Ai Cập và áp dụng nó rất thành công, đó là: sử dụng
phương pháp giảng dạy theo nguyên tắc “học đi đôi với hành, tăng khả năng
quan sát, nhận thức, phân tích và đánh giá. Phương pháp này ngược với phương
pháp truyền thống: “đọc, viết, nghe và đọc”. Phát triển tinh thần tự do, khuyến
khích dân chủ, tự định hướng và tôn trọng lẫn nhau giữa các trẻ, nuôi dưỡng khả
năng sáng tạo” [25].
Đến thập niên 20 của thế kỉ XX, A.S.Macarenco, nhà giáo dục nổi tiếng
người Nga đầu thế kỉ XX, đã bàn về tầm quan trọng của công tác này. Ông phát
biểu: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không
thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo
dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất
nước chúng ta…”. Nghĩa là “trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan


8

niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp”. Trong thực tiễn công
tác của mình, Macarenco đã tổ chức các hoạt động bên ngoài lớp học trên cơ sở
hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các tổ
phải kỷ luật trong quá trình hoạt động. [1]
E. K. Krupskaja bàn về công tác ngoại khóa trong Hội nghị giáo dục toàn
quốc nước Nga năm 1938: “Nên hiểu cho đến cùng: như thế nào là hạnh phúc
của con em. Vấn đề này hoàn toàn không có nghĩa là phải chiều chuộng phục
vụ, phục vụ và phục vụ trẻ con như con em của một tên tư bản nào đó… Biết
gây nhiều hứng thú mới cho trẻ em biết, làm cho con em chúng ta phát triển toàn

Quản lý là từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”, “quản” là sự
trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định “lý” là sự sửa sang, sắp
xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm
cho nó ổn định và phát triển
Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại
khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia
và ở mọi thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn
tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú
dữ và thiên nhiên, do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con
người với bản thân mình. Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng
lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù
hợp với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lí nhóm,
điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lí. Như vậy, quản lí xuất hiện từ rất
sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay [19].
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ có tổ
chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật... nó bảo toàn cấu


10

trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lí là một tác động hợp quy luật
khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển [19].
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lí là "Phương thức tác động
có chủ định của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu". [13] [19]
Khái niệm quản lí được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo
các cách tiếp cận khác nhau.
Các Mác đã viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

dụ: như ở một Trường CĐCN thì Trưởng khoa là đối tượng quản lí của Hiệu
trưởng nhưng cũng lại là chủ thể quản lí của Trưởng tổ môn... Điều đó có nghĩa
là khi nói chủ thể hay đối tượng quản lí là người hoặc tổ chức được con người
đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể.
Giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại
tương hỗ nhau. Chủ thể quản lí nảy sinh các động lực quản lí, còn khách thể
quản lí thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của
con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lí.
1.2.1.4. Công cụ quản lí
Công cụ quản lí là các phương tiện mà chủ thể quản lí dùng để tác động
đến đối tượng quản lí như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế
hoạch, ...
1.2.1.5. Phương pháp quản lí
Phương pháp quản lí là cách thức tác động của chủ thể quản lí đến đối
tượng quản lí. Phương pháp quản lí rất phong phú và đa dạng: Phương pháp
thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính - tổ chức, phương
pháp tâm lí - giáo dục...; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương
pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau.


13

1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học
1.2.2.1. Hoạt động dạy học
Theo tác giả Vũ Quang Phúc: “Dạy học là hệ thống những tác động qua
lại lẫn nhau giữa nhiều nhân tố nhằm mục đích trang bị kiến thức, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức cho người công dân. Chính những
nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với hệ thống tác động qua lại lẫn nhau
giữa chúng đã làm cho dạy học thực sự tồn tại như một thực thể toàn vẹn – một
hệ thống [21]. Theo tác giả Thái Văn Thành và Chu Thị Lục thì “Dạy học là một

1.3.1. Khái niệm hoạt động ngoại khoá
Hoạt động ngoại khóa là một mô hình hoạt động rất hữu ích. Sau những giờ
học tập căng thẳng trên lớp, thời gian dành cho những hoạt động ngoại khóa
giúp học sinh chủ động tham gia, vui vẻ xả stress, nâng cao được kỹ năng sống;
tham gia những hoạt động ngoại khóa, học sinh còn có điều kiện gần gũi nhau
hơn, chia sẻ với nhau những kiến thức mà mình đã học tập được, rèn luyện bản
lĩnh tuổi trẻ, tính tự lập, lòng dũng cảm, sự nhanh nhẹn tháo vát và tinh thần
tương thân tương ái trong quan hệ cộng đồng, bạn bè. Ngoại khóa cũng là một
loại hình hoạt động giáo dục đào tạo nằm trong những phạm vi quy phạm giáo
dục của nhà trường. Đó những hoạt động ngoài thời gian trên lớp, có hoặc
không có sự chỉ đạo hay hướng dẫn của giảng viên, đối tượng tham gia chính là
học sinh, sinh viên; có nội dung liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến môi trường
dạy và học mang tính giáo dục cao. [30]
Xã hội hiện đại đòi hỏi người có học vấn không chỉ có khả năng lấy ra từ
trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông; mà còn
phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức một cách độc lập; khả năng
đánh giá các sự kiện, các tư tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh,
sáng suốt khi gặp vấn đề trong cuộc sống, trong lao động và trong mối quan hệ


15

giữa người với người. Nội dung kiến thức được hình thành và phát triển trong
quá trình được đào tạo trong nhà trường và quá trình tự học phải góp phần quan
trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh; cung cấp cho
học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này.
Tuy nhiên, những nội dung kiến thức được trình bày trong sách giáo khoa
không đủ đáp ứng được yêu cầu phát triển con người mới theo mong muốn.
Chính vì vậy, bên cạnh các hoạt động phục vụ chương trình chính khóa, phải có
các hoạt động ngoại khóa. Hoạt động ngoại khóa là dịp để học sinh củng cố, đối

Nhưng các phương thức học tập ở học sinh nếu muốn được hình thành và phát
triển một cách có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn đồng thời tạo các
điều kiện thuận lợi nhất.
Trong công tác ngoại khóa, năng lực hoạt động tự lập của học sinh được
phát huy. Các em tìm hiểu, nghiên cứu, suy nghĩ và tự mình trình bày các kiến
thức mà tự mình khám phá được. Giảng viên không phải là người lên lớp giảng
bài, truyền thụ kiến thức, ở đây công tác độc lập của học sinh chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng. Ngoài tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, mở rộng, bổ
sung cho kiến thức nội khóa, phát triển tài năng cá nhân, nâng cao khả năng hoạt
động tự lập, trình độ thực hành và khả năng làm việc tập thể của học sinh được
phát huy rõ rệt. Công tác ngoại khóa được tổ chức tốt còn có tác dụng gắn liền
học sinh với đời sống một cách có hiệu quả. Hoạt động ngoại khóa chính là một
cầu nối giúp học sinh vận dụng kiến thức vào đời sống, sinh hoạt gần gũi với tập
thể, với nhân dân hơn một bước. Ngoại khóa chỉ nhằm mục đích phục vụ nội
khóa như là bổ sung, nâng cao, đào sâu kiến thức và kĩ năng của chính khóa; nó
còn có tác dụng tốt đối với việc giảng dạy của giảng viên, củng cố mối quan hệ
đúng đắn giữa thầy và trò [23] [26] [30].
Đối với giảng viên, giờ học ngoại khóa giúp họ hiểu hơn về học sinh của
mình, phát hiện được khả năng của các em, từ đó mà điều chỉnh phương pháp


17

giảng dạy cho phù hợp; giảng viên có thêm vốn kiến thức thực tế để bài giảng
phong phú hơn, và họ tự tin hơn khi truyền thụ kiến thức cho học sinh.
Trong báo cáo chính trị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Đại
hội lần thứ III đã khẳng định: “Công tác giáo dục và đấu tranh tư tưởng phải gắn
liền với cuộc sống, nó phải cụ thể, tinh tế, linh hoạt, có lí có tình, không được
trừu tượng, giản đơn, rập khuôn cứng nhắc” [9]. Giảng viên phải biết đi sâu vào
tâm hồn, tình cảm của các em để uốn nắn và xây dựng. Chính trong hoạt động

nhằm gắn liền việc giảng dạy và học tập với đời sống, góp phần đào tạo và xây
dựng con người toàn diện cho xã hội.
1.3.3. Mối quan hệ giữa hoạt động ngoại khóa và hoạt động chính khóa
Điều 3 của Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [20].
Và trong Điều lệ trường tiểu học cũng nêu rõ tại điều 26:
“ Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ
lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp
đỡ học sinh yếu kém phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh” [4].
“ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khóa,
hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; hoạt
động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác” [4].
Có thể khẳng định, trong giáo dục Việt Nam, hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp được xem xét với tư cách là một nội dung nhằm giáo dục học sinh toàn
diện trong nhà trường.
Ngoại khóa là một hoạt động ngoài giờ lên lớp khác với giờ học chính
thức, là một hoạt động giáo dục cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có
kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực hiện quá trình đào tạo nhân cách học
sinh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội. Hoạt động này do nhà


19

trường quản lí, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp theo chương trình, kế hoạch
dạy học. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong
phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội do nhà trường chỉ đạo, diễn ra
trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục và đào
tạo, làm cho quá trình đó có thể thực hiện mọi nơi, mọi lúc. Đây là một trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status