Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________

NGUYỄN QUANG VINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________

NGUYỄN QUANG VINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành

: Quản lý giáo dục

Mã sô

: 60.14.05

Nguyễn Quang Vinh


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Chu trình quản lý.......................... Error: Reference source not found
Hình 1.2. Hoạt động dạy học........................Error: Reference source not found


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Sự cần thiết của hoạt động tự học Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Vai trò của tự học.........................Error: Reference source not found
Bảng 2.3. Động cơ tự học.............................Error: Reference source not found
Bảng 2.4. Thời gian sinh viên tự học............Error: Reference source not found
Bảng 2.5. Hình thức tự học của sinh viên.....Error: Reference source not found
Bảng 2.6. Phương pháp sinh viên sử dụng trong tự học..........Error: Reference
source not found
Bảng 2.7. Kỹ năng tự học của sinh viên.......Error: Reference source not found
Bảng 2.8. Địa điểm sinh viên sử dụng trong tự họcError: Reference source not
found
Bảng 2.9. Ý kiến của sinh viên về hiệu quả trong công tác quản lý
hoạt động tự học.......................Error: Reference source not found
Bảng 2.10. Ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên về hiệu quả trong
công tác quản lý hoạt động tự học.....Error: Reference source not
found
Bảng 3.1. Ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên về tính cần thiết và tính
khả thi của các giải pháp quản lý hoạt động tự học.............Error:


DS.

Dược sĩ

5

GS.

Giáo sư

6



Nghị định

7

NXB

Nhà xuất bản

8

PGS.

Phó giáo sư

9


TW

Trung ương


1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Mong muốn hiểu biết về thế giới xung quanh mình là nhu cầu tất yếu
của con người. Con người đã sử dụng giáo dục như là một công cụ hữu hiệu
để thu thập các hiểu biết về thế giới xung quanh. Đầu tiên, con người tự mình
tìm tòi để tìm hiểu thế giới xung quanh. Cao hơn, con người có sự truyền đạt
kinh nghiệm của người trước cho người sau. Cao hơn nữa, con người truyền
đạt kiến thức, kỹ năng thông qua trường lớp, ở nơi đó có người dạy và người
học. Nhưng hiện nay, con người nhận thấy song song với việc học có sự
hướng dẫn của người dạy thì người học cần phải biết tự học để nâng cao tri
thức của mình. Do đó, học không còn gói gọn trong một thời gian nào đó mà
là một việc phải làm suốt đời như Lê-nin đã nói: “Học, học nữa, học mãi”.
Như vậy, người học phải có kỹ năng tự học vì không thể lúc nào cũng phải có
người dạy luôn ở bên mình.
Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước hội nhập với thế giới.
Để đất nước hội nhập tốt và phát triển theo kịp với thế giới thì ngành giáo dục
cần phải có trách nhiệm đổi mới và nâng cao năng lực đào tạo của mình. Ngõ
hầu, công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng được nhu cầu của xã hội, như văn
kiện Đại hội XI đã chỉ đạo: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại” [8,



3

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y
Dược TP.HCM.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y Dược
TP.HCM trong giai đoạn hiện nay.
Số liệu khảo sát thực trạng được giới hạn trong khoảng thời gian từ
tháng 01 đến tháng 03 năm 2013.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu các đề xuất đã nêu trong luận văn được áp dụng đầy đủ, thống
nhất, đồng bộ sẽ giúp quản lý tốt hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y
Dược TP.HCM.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài: Khảo sát thực trạng công tác
quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y Dược TP.HCM.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại
học Y Dược TP.HCM.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu;



một chương trình, kế hoạch cụ thể và chi tiết để quản lý hoạt động tự học của
sinh viên.
Bài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cán bộ quản lý, giảng viên nhận
thức được tầm quan trọng của hoạt động tự học trong cơ sở giáo dục hiện nay.
Bài nghiên cứu cũng góp phần giúp sinh viên có hiểu biết đúng đắn,
sâu sắc về tầm quan trọng của hoạt động tự học.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục thì luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài,
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài,
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại
học Y Dược TP.HCM.


6

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nước ngoài
Học chính là nền móng cho sự phát triển của bất kỳ lĩnh vực nào, tổ
chức nào hay quốc gia nào. Do đó, học trong đó có tự học là vấn đề muôn
thưở và được các thời kỳ trong lịch sử của loài người quan tâm. Chính nhờ
học hỏi đã trang bị cho con người tri thức để từ đó chinh phục thế giới xung
quanh mình.
Tuy nhiên, học không có nghĩa là thầy nói gì thì người học làm theo mà
người học phải biết tư duy để hiểu rõ vấn đề người thầy truyền đạt đồng thời
phải phát triển vấn đề đó lên cao hơn và sâu hơn nữa. Như Khổng Tử (551 –
479 TCN) đã nói “Học nhi bất tư tắc vong, tư nhi bất học tắc đãi” nghĩa là

dục, đặc biệt là xây dựng một nền giáo dục biết “Phát huy tinh thần độc lập
suy nghĩ và sáng tạo của học sinh – sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn
thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân...” [6,
tr.171]. Đồng thời tại Nghị quyết TW II khóa 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam
cũng đã chỉ đạo: “Đổi mới phương pháp dạy học... nâng cao khả năng tự học,
tự nghiên cứu của người học” [16, tr.5].
Và điều đó cũng được cụ thể hóa một cách rõ nét trong Luật giáo dục
năm 1999, chương 1, điều 4: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích
cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự
học của học sinh, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên...”.


8

Đặc biệt, Bác Hồ đã nhắc nhở chúng ta: “Học hỏi là một việc phải tiếp
tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có
thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày nay đổi mới, nhân
dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến
bộ kịp nhân dân” [18, tr.215]. Hay như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm
1969 đã phát biểu chỉ đạo: “Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo
dục. Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”.
Gần đây, một số nhà nghiên cứu cũng đã tiếp thu, mở rộng và làm rõ
thêm vấn đề tự học trong giáo dục như Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một
số lĩnh vực khoa học nhất định” [1, tr.3]. Hay như Nguyễn Đình Xuân – Ngô
Công Hoàn với tác phẩm “Quy trình học tập và tự học”, Lê Hải Yến với “Đọc
sách hiệu quả: Một kỹ năng quan trọng để tự học thành công”, Nguyễn Cảnh
Toàn với “Con đường tự học còn lắm gian nan” và nhiều công trình nghiên
cứu khác đã nói về vấn đề tự học.
Như vậy, tự học đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm

cứ tổ chức hoạt động với quy mô to hay nhỏ đều cần phải có sự quản lý để tồn
tại và hoạt động. Tùy vào từng giai đoạn của lịch sử hay tùy vào từng lĩnh vực
mà có các quan niệm khác nhau về quản lý.
Theo Từ điển tiếng Việt: Quản lý là việc tổ chức, điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định.
Còn tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì định nghĩa: “Quản lý là
một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là
quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [16, tr.8].


10

Như vậy, quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm giúp tổ chức hoặc hệ thống
đạt được yêu cầu hay mục tiêu đã đề ra.
Tuy nhiên, theo Giáo sư Harold Koontz thì: “Quản lý là một hoạt động
thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các
mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một
môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm
với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách
thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về
quản lý là một khoa học” [16, tr.7]. Với phát biểu đó thì quản lý vừa là một
môn khoa học, khi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức của nhiều môn khoa
học và vừa là một môn nghệ thuật, khi phải biết ứng dụng các kiến thức đó
một cách hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện để đạt mục đích.
1.2.2.2. Chức năng
Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau: [22, tr.15]
- Kế hoạch hóa: Xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu
tương lai của tổ chức, các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục
tiêu, mục đích đó.

xử lý tình huống và làm việc cùng với mọi người.
- Các kỹ năng khái quát hóa: Biết nhìn nhận, đánh giá tổ chức như một
thể thống nhất, biết áp dụng các kỹ năng kế hoạch hóa và khả năng tư duy.
- Các kỹ năng giao tiếp: Người quản lý phải có kỹ năng giao tiếp cơ
bản về nói, viết, diễn đạt bằng cử chỉ, tạo được ấn tượng tốt và thuyết phục
đối với đối tượng giao tiếp.


12

1.2.2.4. Các công cụ quản lý
Các công cụ quản lý bao gồm [16, tr.11]:
- Các chế định xã hội: Như hiến pháp, hệ thống pháp luật, nghị quyết
của Đảng và nhà nước...
- Bộ máy tổ chức: Phân cấp và có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.
- Bộ máy thông tin: Trực tiếp và gián tiếp.
- Nguồn lực: Nhân lực, tài lực, vật lực và kinh nghiệm chủ thể quản lý.
Công cụ quản lý chính là các phương tiện để nhà quản lý sử dụng thực
hiện các chức năng quản lý của mình nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2.5. Các phương pháp quản lý
Để đạt được mục đích tác động đến đối tượng quản lý một cách hiệu
quả nhất thì chủ thể quản lý phải có phương pháp quản lý. Có nhiều phương
pháp quản lý nhưng có thể tóm lại gồm 4 phương pháp sau:
Phương pháp Thuyết phục
Phương pháp Hành chính - Tổ chức
Phương pháp Tâm lý - Giáo dục
Phương pháp Kinh tế
1.2.3. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống

hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo
dục thế hệ đang lớn lên” [22, tr.16].
Như vậy, quản lý nhà trường là những tác động của chủ thể quản lý đến
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm hướng dẫn và tạo


14

điều kiện cho các hoạt động mà chủ yếu là hoạt động giảng dạy và hoạt động
học tập của nhà trường.
Quản lý nhà trường là con của quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục là
quản lý vĩ mô, còn quản lý nhà trường là quản lý ở tầm vi mô.
Ngoài ra, công tác quản lý nhà trường gồm quản lý bên ngoài và quản
lý bên trong nhà trường. Quản lý bên ngoài là các tác động của cơ quan cấp
trên và xã hội. Còn quản lý bên trong là các hoạt động bên trong nhà trường
bao gồm: quản lý quá trình dạy học, quản lý người dạy, quản lý người học,
quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường
và xã hội.
1.2.5. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của người dạy và
quá trình học của người học. Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ.
Quá trình dạy và học là tập hợp hành động liên tiếp của người dạy và
của người học được người dạy hướng dẫn. Những hành động này nhằm làm
cho người học tự giác nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình
đó phát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hóa lao động
của trí óc và lao động chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan và
nhân sinh quan đúng đắn.
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động dạy
và hoạt động học là quan hệ điều khiển. Do đó, hoạt động quản lý (điều khiển
hoạt động dạy và học) của nhà quản lý chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy

hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân
bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu
với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người


16

thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể ” [24,
tr.35]. Song song đó, trong quá trình lĩnh hội thì người học phải “tự mình
động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích,
tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm
chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh
vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
[28, tr.80].
Ngoài ra, người học cũng cần có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về việc tự
học như Nguyễn Văn Đạo định nghĩa: "Tự học là công việc tự giác của mỗi
người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy
kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự
tiến bộ xã hội" [16, tr.16]. Từ nhận thức đúng đắn thì người học sẽ có động cơ
tự học đúng đắn. Từ động cơ đó sẽ thúc đẩy người học tìm cách chiếm lĩnh
các tri thức của khoa học. Chỉ có như thế mới có được kết quả học tập như
mong muốn.
Tóm lại, tự học là quá trình con người tự giác tìm kiếm, tích lũy kinh
nghiệm, tri thức khoa học để nâng cao năng lực nhận thức thế giới khách quan
ngõ hầu đáp ứng các nhu cầu của bản thân.
Ngoài ra, chúng ta có thể khẳng định về bản chất của tự học chính là
biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, biến quá trình đạo tạo
thành quá trình tự đào tạo. Tự học giúp con người tự mình tìm kiếm tri thức,
tìm kiếm những thông tin hữu ích cho bản thân. Quá trình tự học này được

- Đọc sách tại thư viện: Người học phải tìm đọc những tài liệu theo chỉ
dẫn của người dạy hoặc theo chủ đề tự chọn, nhằm mở rộng tri thức cần nắm


18

bắt hoặc bổ sung tư liệu nhằm giải quyết nhiệm vụ nào đó, qua đó bổ sung
được lượng tri thức cần thiết và rèn luyện kỹ năng khai thác tài liệu.
- Chuyên đề, thảo luận theo nhóm: Trong hoạt động này, người học tiến
hành thảo luận, cùng nhau bàn bạc để làm rõ một vấn đề lý luận nào đó hoặc
vận dụng tri thức lý luận để giải quyết một vấn đề, một tình huống đặt ra, có
thể có sự tham gia hướng dẫn, chỉ đạo của người dạy và được thực hiện trên
lớp. Hoạt động này vừa giúp người học củng cố, mở rộng tri thức, vừa rèn
luyện kỹ năng trình bày và kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm.
- Suy nghĩ, vận dụng kinh nghiệm hoặc khai thác tài liệu để cùng nhau
tự làm sáng tỏ vấn đề theo chỉ đạo, gợi ý của người dạy trên lớp: Đây là hình
thức tự học có người dạy hướng dẫn thông qua hình thức dạy học tích cực,
nhằm giúp người học tích cực động não trong quá trình học tập để nắm bắt
bài một cách chủ động. Đồng thời rèn kỹ năng, thói quen độc lập giải quyết
vấn đề trong học tập cho người học.
- Nghiên cứu đề tài khoa học: Là việc người học tổng quan vấn đề
nghiên cứu; điều tra, khảo sát một nội dung nào đó; tiến hành thực nghiệm
khoa học. Đây là hình thức tự học cao nhất. Vừa giúp người học củng cố mở
mang hiểu biết và rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, vừa hình thành những phẩm
chất cần thiết của người lao động khoa học.
1.2.7. Quản lý hoạt động tự học
Công tác quản lý tự học là để thúc đẩy và tạo điều kiện cho người học
đạt được mục đích trong học tập hiệu quả nhất. Song song đó người quản lý
cũng cần biết để tự học có hiệu quả, người học cần có ý thức thực hiện tốt các
bước sau: [16, tr.19]

học tập tại trường suốt đời và thầy cũng không thể ở bên cạnh sinh viên suốt


Trích đoạn Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt TÀI LIỆU THAM KHẢO PHIẾU TRƯNG CẦ UÝ KIẾN (Mẫu 1 – Dành cho sinh viên)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status