1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều coi trọng phát triển giáo dục và đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững của một quốc gia. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng
định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững”.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước đặt ra yêu cầu rất to lớn cho giáo dục và
đào tạo. Phải làm sao tạo ra những con người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo
đức tốt và có năng lực nghề nghiệp, có lòng nhiệt tình với công việc được giao. Để
đáp ứng yêu cầu đó, tất yếu phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở tất cả
các cơ sở đào tạo. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trở thành một
vấn đề rất bức thiết hiện nay.
Để thực hiện được mục tiêu đó, đòi hỏi chúng ta phải phát triển giáo dục, thực
sự coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”. Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thực
hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ hàng đầu và
quan trọng của các nhà trường hiện nay. Chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc
rất lớn vào hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Trong đó dưới sự tổ
chức, điều khiển của thầy, trò tự giác, chủ động, tích cực tự tổ chức quá trình nhận
thức nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập của mình. Như vậy, trong các trường
Trung cấp chuyên nghiệp học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, là con đường
tốt nhất cho mỗi học sinh giúp họ làm phong phú thêm những hiểu biết của mình,
giúp họ sáng tạo ra những giá trị để đạt tới thành công trong cuộc sống.
Tuy nhiên, trong nhà trường hiện nay, việc quản lý hoạt động học tập của học
sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, tuy
nhiên hoạt động này cũng còn nhiều tồn tại. Từ kinh nghiệm công tác của mình tại
trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình, tác giả nhận thấy trên
Bình.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học sinh trường
Trung cấp chuyên nghiệp.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động học tập và giải pháp quản lý hoạt
động học tập của học sinh trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng
Bình.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh nhằm góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp
Quảng Bình.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bằng việc sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu; phân loại tài
liệu; hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận về quản lý
hoạt động học tập của học sinh trường Trung cấp chuyên nghiệp.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, phỏng vấn,
lấy ý kiến chuyên gia nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động học tập, quản
lý hoạt động học tập của học sinh trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp
Quảng Bình.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý kết quả số liệu thu được qua điều tra, khảo sát thực trạng.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động học tập của học sinh trường Trung cấp Kỹ
thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
đề cập dưới các góc độ và hình thức khác nhau.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà trí tuệ con người trở thành tài nguyên
quý giá nhất trong các tài nguyên quý giá của một quốc gia dân tộc. Mặt khác dân
trí cao, cùng với những đỉnh cao trí tuệ là điều kiện tiên quyết để một quốc gia dân
tộc thành đạt trong cuộc cạnh tranh khóc liệt mang tính toàn cầu hiện nay. Học tập
luôn là hoạt động cơ bản của mổi người dù ở xã hội nào. Lê nin đã dạy “Học! Học
nữa! Học mãi!”. Vì vậy nâng cao chất lượng học tập của học sinh là mục đích, là
nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường hiện nay. Quản lý hoạt động dạy và học như thế
nào để nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề được các nhà giáo dục và quản lý
giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia đề
cập đến vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Sau đây là một vài ví dụ:
Đối với giáo dục phổ thông, với quan điểm lấy người học làm trung tâm, tác
giả Nguyễn Kỳ trong tài liệu của mình đã đưa ra:’’Mô hình dạy học tích cực’’, ông
cho rằng chỉ có bằng cách này mới có thể thúc đẩy học sinh tự giác học tập [14,
tr.25]. Để nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông, luận án tiến sĩ của Phạm
Văn Sơn đã cho rằng, không chỉ đổi mới cách dạy mà c̣òn phải đổi mới cách tổ
6
chức buổi học thực hành nghề phổ thông theo quy trình 7 bước nhằm tăng cường
tính tự học của học sinh [14, tr.50].
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nguyễn Cảnh Toàn đã đi sâu vào nghiên
cứu năng lực tự học của sinh viên trong nhiều năm, ông khẳng định chỉ có phát
triển năng lực tự học của sinh viên thì mới giúp họ khám phá ra cái mới trong khoa
học và trong sản xuất. [21,tr.24].
Đối với lĩnh vực dạy nghề, Đặng Danh Ánh trong các công trình nghiên cứu
của mình cho rằng, hoạt động học tập của học sinh học nghề luôn luôn gắn kết với
được coi là một phương thức cơ bản của sự tồn tại của con người. Đó là sự tác động
của chủ thể vào đối tượng, bắt nó sản sinh ra những giá trị vật chất - tinh thần xác
định, để làm thỏa mãn nhu cầu của bản thân cũng như của xã hội. Nói chung cuộc
sống của con người bao gồm một dòng các hoạt động luôn luôn được kế tục lẫn
nhau. Hoạt động các đặc điểm cơ bản như tính đối tượng, tính chủ thể, tính gián tiếp
và tính mục đích. Về đại thể, luôn có sự tồn tại của các hoạt động thực tiễn - hoạt
động bên ngoài và hoạt động lý luận - hoạt động tinh thần được tồ tại ở bên trong
đời sống tâm lý của chủ thể. Hoạt động lý luận sẽ có chức năng chuẩn bị, tìm tòi và
định hướng cho hoạt động thực tiễn. Còn hoạt động thực tiễn lại có tác dụng làm
biến đổi sâu sắc mọi sự vật. Có tác giả cho rằng, ở người có thể có những dạng hoạt
động biến đổi, hoạt động nhận thức, hoạt động định hướng giá trị và hoạt động giao
tiếp. Nếu dựa vào tính chất của đối tượng, người ta lại có thể chia hoạt động của con
người ra thành các loại hình lao động, học tập và vui chơi. Trọng từng giai đoạn
phát triển của con người lại sẽ có từng loại hoạt động đặc trưng, mà nó có khả năng
làm hình thành nên được ở chủ thể những cấu tạo tâm lý mới. Những hoạt động này
được gọi là hoạt động chủ đạo[6, tr.29-30].
Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang
tính cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ
nhất định, đòi hỏi ở con người hình thành và phát triển những phẩm chất và năng
lực đó. Nhân cách của con người do đó mà được định hình và phát triển[6, tr.115].
Trong xã hội, mỗi con người đều có thể tự tạo cho mình một hay nhiều hoạt
động khác nhau, mỗi hoạt động đều có mục đích riêng nhằm làm thỏa mãn nhu cầu
9
của con người, đặc biệt là ở thế hệ trẻ thường xuất hiện rất nhiều các hoạt động.
Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng GD đến thế hệ trẻ sẽ trở
nên không có hiệu quả nếu con người đó không tiếp nhận, không hưởng ứng những
tác động đó và không trực tiếp tham gia vào các hoạt động đó nhằm phát triển tri và
trong quá trình đó, cá thể thay đổi hành vi và các thuộc tính tâm lý của mình dưới
ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài và kết quả của các hành động của bản thân.
Về phương diện lý luận dạy học, học tập được xem xét trên cơ sở các đặc
điểm được hình thành trong quá trình học tập diễn ra trong những điều kiện học tập
và GD được tạo ra một cách có mục đích nhằm đảm bảo sự truyền đạt một cách có
hiệu quả nhất những kinh nghiệm xã hội. Việc học tập ở đây được xem xét theo hai
khía cạnh:
Theo nghĩa rộng, học tập được xem là sự hình thành và thay đổi hành vi do
kinh nghiệm cá nhân quy định, dẫn đến sự cải tiến việc thích nghi hay thích nghi lại
của hành vi người học với những điều kiện của môi trường xung quanh. Học tập
không chỉ là tiếp thu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà là sự hình thành toàn bộ nhân
cách.
Theo nghĩa hẹp, Học tập là quá trình hoạt động của HS, trong đó thông tin
thu nhận biến thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Khâu trung tâm của học tập là hoạt
động của bản thân HS. Như vậy, học tập theo nghĩa hẹp là sự lĩnh hội đối tượng cụ
thể nhưng có tính chất chuyên sâu, có tính chất nghiên cứu..., nên gần nghĩa hơn với
hoạt động nhận thức khoa học. Với quan niệm này, việc học có thể được xem như là
việc thực hiện chức năng giáo dưỡng của dạy học [8, tr.53].
Có nhiều quan niệm khác nhau về học tập, nhưng nhìn chung đều có sự
thống nhất, Tác giả cho rằng: Học tập là phương thức và hình thức phát triển tri
thức của cá nhân thông qua quá trình thu nhận thông tin, tích lũy thông tin, những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm bởi chính hoạt động và tương tác của các
cá nhân với các nhân tố môi trường.
Việc học tập của con người được đặc trưng bởi tính mục đích, tính khoa học
và được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như học bằng bắt chước, học
bằng hành động, học bằng trải nghiệm các quan hệ tình huống, học bằng suy nghĩ lý
trí và bằng phương thức hổn hợp.
HĐHT của HS gồm hai giai đoạn:
QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội
trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD
của nhà trường.
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu: QLGD là tập hợp các tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luạt của chủ thể QL ở các cấp khác nhau trong hệ thống
lên các đối tượng quản lý trực thuộc, thông qua việc thực hiện các chức năng QL
14
và việc sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận
hành, đản bảo được các tính chất và nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam, đạt
được mục tiêu giáo dục.
1.2.3. Quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt
động học tập
1.2.3.1. Quản lý nhà trường
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động QL bao gồm QL các hoạt động GD:
HĐDH, hoạt động GD (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt
động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động GD hướng nghiệp…; QL các đối
tượng khác nhau: QL thực hiện xã hội hóa GD, QL ảnh hưởng từ bên ngoài nhà
trường, QL hoạt động của Hội phụ huynh học sinh…
Trường học là tổ chức GD, là một đơn vị cấu trúc của cơ sở hệ thống GD
quốc dân. Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhà nước - xã hội
- sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất sư phạm.
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trương vận hành
theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục”[9, tr.6].
Trên cơ sở đó, có thể hiểu: QL nhà trường là tập hợp những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (các cấp QL của chủ thể GD)
nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để đạt tới mục tiêu GD đặt
đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của người thầy, HS tự giác, tích cực tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ DH.
Theo lý thuyết hoạt động thì bất kỳ hoạt động nào cững có mục đích và
phương tiện để thực hiện mục đích đó. Nếu phân tích các thành tố của QTDH (mục
đích, nội dung, chương trình, phương pháp, lực lượng dạy học, CSVC-TBDH,
phương pháp tổ chức dạy học, đánh giá kết quả dạy học…) thành hai phạm trù là
mục đích và phương tiện (theo nghĩa rộng) của lực lượng dạy học (người dạy và
người học) thì các phượng tiện để thực hiện mục đích dạy học bao gồm: luật pháp,
chính sách và quy chế dạy học; CSVC-TBDH, người dạy và người học phải sử
dụng các phương tiện nói trên vào việc truyền đạt và lĩnh hội tri thức để đạt tới mục
tiêu dạy học.
16
Như vây, QLHĐDH có bản chất là QL người dạy và người học cùng với việc
QL đồng bộ và thống nhất các mặt hoạt động mang tính phương tiện thực hiện mục
đích dạy học. Trong điều kiện bình thường, để quản lý tốt HĐDH, trước hết phải
bảo đảm cho mọi người tham gia vào quá trình này, quán triệt rõ mục đích và phát
huy tác dụng các thành tố cấu trúc của QTDH. Bên cạnh đó, cần nhìn nhận rõ hơn
vai trò của phương tiện dạy học, đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến mức độ đạt
mục tiêu dạy học và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng DH. Nói cụ thể hơn,
QLHĐDH là sự tác động hợp quy luật của chủ thể QLHĐDH đến chủ thể của
HĐDH ( người dạy và người học) và môi trường bằng các nhóm giải pháp phát huy
tác dụng của các thành tố đó nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Tóm lại, QLHĐDH phải đồng thời QL hoạt động dạy của GV và hoạt động
của HS và các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến HĐDH. Bên cạnh đó, người QL
phải QL sự tác động qua lại của ba thành tố trên nhằm hướng đến việc đảm bảo mục
tiêu, nhiệm vụ dạy học.
1.2.3.3. Quản lý hoạt động học tập
- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học sinh phát huy các yếu tố tích cực,
khắc phục yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày
càng cao.
1.3. Một số vấn đề về hoạt động học tập của học sinh trường TCCN
1.3.1. Đặc điểm của học sinh TCCN
1.3.1.1. Đặc điểm về tâm lý - nhân cách của học sinh TCCN
Học sinh TCCN là những người đã tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc THPT ở lứa
tuổi từ 18 đến 21 được trang bị đầy đủ hệ thống những tri thức khoa học phổ thông
cơ bản hiện đại.
Đây là lớp người có sức khỏe, nhạy bén, năng động, tiếp thu nhanh, nhận
thức của họ rất phát triển, biết thừa kế và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc
và nhân loại. Có xu hướng tích cực hóa xã hội, có tính tự lập, độc lập và tự giác cao,
có nhu cầu tự khẳng định, tự đánh giá toàn diện về bản thân mình.
*Về mặt sinh lý:
Hình thể đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và phối hợp giữa các chức năng.
Hệ thần kinh cao cấp đả đạt đến mức trưởng thành. Nhiều yếu tốt bẩm sinh di
18
truyền được phát triển cao dưới những điều kiện môi trường và môi trường giáo
dục. Khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh TCCN vượt xa hoạt động trí tuệ của
học sinh THPT.
* Về mặt tâm lý:
- Một đặc trưng tâm lý quan trọng của lứa tuổi này là sự phát triển tự ý thức.
Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái
độ đối với bản thân. Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh
giá về hoạt động và kết quả tác động của bản thân, về tư tưởng, tình cảm, phong
cách, đạo đức, hứng thú,…, là sự tự đánh giá toàn diện về chính bản thân và vị trí
của mình trong cuộc sống. Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện
nghiệm để thực hiện ước mơ đó.
- Mâu thuẩn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn học phù hợp
với sở thích và yêu cầu thực hiện toàn chương trình.
- Mâu thuẩn giữa số lượng thong tin phong phú với khả năng, điều kiện để
xử lý thông tin của các em.
Sự phát triển nhân cách của học sinh TCCN được diễn ra theo hướng cơ bản
sau:
- Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp, các năng lực cần thiết được cũng cố và
phát triển.
- Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được “nghề nghiệp
hóa”.
- Tình cảm, nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá
tính và lập trường sống của sinh viên được bộc lộ rõ nét.
- Kỳ vọng đối với nghề nghiệp tương lai của các em được phát triển.
- Sự trưởng thành về mặt xã hội, tinh thần đạo đức, những phẩm chất nghề
nghiệp và sự ổn định chung về mặt nhân cách của các em được phát triển.
- Khả năng tự giáo dục của các em được nâng cao.
- Tính độc lập và sẳn sang đối với hoạt động nghề nghiệp tương lai được
cũng cố.
Tóm lại: Lứa tuổi của học sinh TCCN là giai đoạn đã phát triển các yếu tố
về sinh lý, những đặc điểm tâm lý và xã hội. Họ là những người đã trưởng thành cả
20
về mặt thể chất, nhận thức và tâm lý. Thời kỳ này các em đã phát triển tính tự ý
thức, tự giác, tích cực, tính tự lập, tự quản cao nhằm thực hiện những kế hoạch và
dự định của bản thân. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên các em có thể chủ động,
tích cực và tự giác học tập, tự nghiên cứu đạt kết quả cao.
1.3.1.2. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh TCCN
đẩy bởi những động cơ nhất định. Động cơ là lực đẩy trực tiếp của hành động, duy
trì hứng thú. Hoạt động học tập cũng vậy, động cơ học tập là nguồn gốc tạo ra trạng
thái tích cực trong học tập. Động cơ học tập rất phong phú và đa dạng. Nó không
thể được hình thành bằng cách áp đặt mà được hình thành từ trong quá trình học tập
và giải quyết các nhiệm vụ học tập, đồng thời nó còn được hình thành trong quá
trình giáo dục tổ chức, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh. Nếu
trong quá trình dạy học, thầy tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điều mới
lạ, tự giải quyết những nhiệm vụ học tập, tạo ra những ấn tượng tốt đẹp đối với việc
học thì dần dần làm nảy sinh nhu cầu học tập của các em. Khi học tập trở thành nhu
cầu không thể thiếu được của học sinh, thì nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thúc
đẩy học sinh khắc phục khó khăn để giành lấy tri thức. Để hình thành động cơ học
tập cho học sinh, trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em nhu cầu nhận thức.
Điều đó được bắt đầu từ việc ý thức rõ ràng vì mục đích học tập, có ý chí vươn lên
mạnh mẽ trong học tập, chịu khó học hỏi. Càn phải làm cho học sinh hiểu rõ tại sao
phải học tập, học để làm gì. Chỉ khi nào học sinh thấy việc học sẽ mang lại lợi ích
thiết thực cho bản thân thì mới có thể hy vọng sự tự giác, tích cực học tập của các
em và điều đó là yếu tố cơ bản góp phần nâng cao kết quả học tập. Động cơ học tập
gồm có động cơ bên trong và động cơ bên ngoài:
- Động cơ bên trong: Là những động cơ xuất phát từ chính việc học tập, từ
nội dung, phương pháp học, từ nhu cầu, hứng thú học tập.
Động cơ bên trong thống nhất với mục đích của hoạt động học tập. Mục đích
của hoạt động học tập của học sinh là tiếp thu nền văn hóa nhân loại để chuyển hóa
thành trí tuệ và nhân cách của bản thân để trở thành người lao động thong minh và
sang tạo. Cụ thể hơn, mục đích học tập là mắm vững hệ thống kiến thức, khoa học
và thực hành. Các nhà phoa học đã chỉ rõ 4 trụ cột của thế kỷ 21 về giáo dục là: “
Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình".
22
23
tiến hành hoạt động học tập. Đó là toàn bộ các thành tố vật chất giúp học sinh tiến
hành các thao tác học tập như: phòng học, thư viện, sách, vở, phòng thí nghiệm với
các thiết bị học tập và các điều kiện về ăn ở, học tập ở ký túc xá...
Những điều kiện về vật chất như trên cần được trang bị và vận dụng một
cách có hiệu quả cho hoạt đọng học tập của học sinh.
Như vậy, một hoạt động muốn có kết quả phải có động cơ, mục đích,
phương tiện. Vì vậy, muốn cho hoạt động nói chung và hoạt động học tập nói riêng
có kết quả, nhà giáo dục phải làm cho người học có được động cơ, mục đích học tập
đúng đắn đồng thời phải chuẩn bị những phương tiện cần thiết để đạt tới mục tiêu
đã định.
1.3.2.3. Phong trào học tập trong tập thể học sinh
Theo GS-TS Nguyễn Quang Uẩn, PGS-TS Trần Hữu Luyến, PGS-TS Trần
Quốc Thành thì tập thể có vai trò rất to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân
cách. “ Tập thể là một nhóm người, một bộ phận xã hội được thống nhất lại theo
những mục đích chung, phục tùng các mục đích của xã hội” [26, tr.200]
PGS-TS Phạm Viết Vượng khẳng định: Một tập thể có kỷ luật nghiêm, mọi
hoạt động được tiến hành trong một trật tự, một nề nếp sẽ là một môi trường thuận
lợi để học sinh rèn luyện và hình thành thoi quen tốt nhất. Tập thể học sinh là một
tập thể được tổ chức để giáo dục, là môi trường thuận lợi để học sinh thi đua và là
nơi để học sinh thử sức, thể hiện và khẳng định khả năng của mình. Những gương
tốt của bạn bè sẽ là nguồn động viên lớn để các em phấn đấu học tập noi theo. [28,
tr.106]
Chúng ta biết rằng: Một trong những hoạt động cơ bản của tập thể học sinh
là hoạt động học tập. Vì vây, bầu không khí học tập trong tập thể học sinh có vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành động cơ và ý thức học tập. Sống trong một tập
thể gắn bó với nhau, lấy học tập làm mục tiêu phấn đấu chung cho tất cả mọi thành
viên thì mỗi cá nhân khó có thể thờ ơ trước hoạt động của mọi người; khó có thể tự
nhận thức của người học mà giáo dục phải ý thức được. Mặt chủ quan là những thao
tác, những hành động mà giáo viên lựa chọn phù hợp với quy luật chi phối đối
tượng.
Hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào nghiệp vụ sư phạm của
giáo viên. Việc nắm vững nội dung dạy học và quy luật, đặc điểm nhận thúc của
25
học sinh là tiền đề quan trọng cho việc sử dụng phương pháp dạy học nào đó. Thực
tiễn dạy học cho thấy, cùng một nội dung dạy học, cùng sử dụng một phương pháp
dạy học, nhưng mức độ thành công của các giáo viên là khác nhau.
Như vậy chúng ta thấy phương pháp dạy học của giáo viên có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động học tập của học sinh.
1.3.2.5. Phương pháp học tập của học sinh
Trong hoạt động học tập, phương pháp học tập là yếu tố cần thiết giúp người
học hoàn thành được nhiệm vụ học tập. Hoạt động học tập của học sinh là hoạt
động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức –học
tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành thành tri
thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổ mình, tự làm phong phú
những giá trị của mình. Tính tự giác nhận thức trong quá trình học tập thể hiện ở
chổ người học ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập, qua đó họ nổ lực nắm
vững tri thức trong việc lĩnh hội tri thức.
Xét cho cùng, mọi ảnh hưởng của thầy giáo, phong trào học tập trong tập thể
học sinh, các điều kiện phương tiện học tập...đều là những yếu tố bên ngoài tác
động đến hoạt động học tập của học sinh. Kết quả và chất lượng học tạp của học
sinh có cao hay không phụ thuộc chủ yếu và trực tiếp vào chính bản thân người học
sinh, trong đó phương pháp học tập đóng vai trò quyết định nhất. Trong những điều
kiện học tập tương tự, kết quả học tập của mỗi học sinh không giống nhau, điều đó
phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp, năng lực học tập của mỗi học sinh. Nếu học