1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta khẳng định
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển”, “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững” [14].
Trong những năm gần đây, giáo dục-đào tạo được tăng cường đầu tư tài
chính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao; công tác tổ chức, cán bộ, chế độ, chính
sách chậm đổi mới. Chất lượng giáo dục cũng thấp và không đồng đều giữa các
vùng, miền; quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng. Hệ thống
giáo dục thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối giữa các cấp học, ngành
học, cơ cấu, trình độ, ngành nghề, vùng, miền. Việc giáo dục tư tưởng đạo đức,
lối sống, về truyền thống văn hoá, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và
nghĩa vụ công dân cho học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội
dung và phương pháp; giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy
chữ”, chưa quan tâm đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề” cho thanh
thiếu niên.
Luật Giáo dục 2005 (bổ sung năm 2009) cũng đã xác định nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Vì vậy, xây dựng,
phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ cấp thiết của
ngành giáo dục núi chung và các nhà trường núi riờng. Giáo dục phổ thông giữ
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu
2
phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia. Muốn thực hiện được trọng trách của
Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng theo
hướng chuẩn hóa, theo qui hoạch, kế hoạch.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời việc đánh giá theo chuẩn, các chế độ, chính
sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đặc biệt là các nhà giáo
và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội
đặc biệt khó khăn, các cơ sở giáo dục chuyên biệt.
Đội ngũ giáo viên THPT là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
giáo dục của THPT. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT đồng bộ về cơ
cấu, đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng là nhân tố quyết định đối với việc
đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục ở trường THPT tại Thành phố
Cao Lónh.
Thành phố Cao Lãnh là một trong những thành phố có điều kiện phát triển
kinh tế-xã hội của tỉnh Đồng Tháp. Trong những năm gần đây, do những điều
kiện chủ quan và khách quan, các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của thành
phố Cao Lãnh chưa đạt được kết quả xứng đáng với tiềm năng sẵn có. Chất
lượng giáo dục đào tạo hiện nay là điều được các cấp ủy Đảng, chính quyền,
ngành giáo dục và nhân dân tỉnh Đồng Tháp quan tâm. Đối với bậc trung học
phổ thông, thành phố Cao Lãnh có 05 trường THPT. Tuy nhiên, chất lượng giáo
dục toàn diện chưa đạt được kết quả như mong muốn. Một trong những nguyên
4
nhân là đội ngũ giáo viên bậc trung học phổ thông của thành phố Cao Lãnh đang
có những bất cập về số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Chính vì vậy, một trong những giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên,có
hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh
Đồng Tháp đã xác định trong thời gian tới là phải xây dựng, phát triển, chuẩn
ngũ giáo viên THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
5.3. Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu sảm phẩm hoạt động
- Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
7. Đóng góp của luận văn
6
7.1. Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa một số vấn đề về lí
luận, đề xuất những vấn để phát triển đội ngũ giáo viên THPT có tính khả thi
nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục đào tạo.
7.2. Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng, xác định những ưu điểm, hạn chế
về công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Từ đó, đề xuất những giải phỏp phát
triển đội ngũ giáo viên THPT có tính khả thi, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên THPT thành phố Cao Lãnh. Đưa đội ngũ này trở thành nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu giảng dạy, giáo dục của nhà trường, thực hiện có hiệu quả mục tiêu
giáo dục, đào tạo.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên trung học
Đó là vấn đề mà các tác giả đặt ra trong công trình nghiên cứu của mình. Nói
chung, các tác giả đều chú trọng đến việc phân công hợp lý và các biện pháp
quản lý của hiệu trưởng [35]
8
Một trong những giải pháp hữu hiệu để xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên đã được các nhà nghiên cứu khẳng định là: phải bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày
càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn giáo viên bằng nhiều
nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ thành những người giáo viên tốt theo tiêu
chuẩn nhất định, bằng nhiều biện pháp khác nhau [35]
Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, các tác giả quan tâm đến giải pháp
tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó giáo viên có điều kiện trao đổi những kinh
nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ. Tuy nhiên, nội dung các
hội thảo chuyên môn cần phải được chuẩn bị kỹ, phù hợp và có tác dụng thiết
thực đến dạy học. Việc tổ chức hội thảo phải sinh động, thu hút được nhiều giáo
viên tham gia thảo luận, trao đổi. Những vấn đề đưa ra hội thảo phải mang tính
thực tiễn cao, phải là vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm và có tác dụng thiết
thực đối với việc dạy học.
V.A Xukhomlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến phương pháp dự giờ,
phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn. Theo Xvecxlerơ thì việc dự
giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý
chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên. Việc phân tích bài giảng mục đích là để
cho giáo viên thấy và khắc phục các thiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh
nhằm nâng cao chất lượng bài giảng. V.A Xukhomlinxki đã nêu rất cụ thể trong
tác phẩm “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” về cách tiến hành dự giờ và
phân tích bài giảng giúp cho việc thực hiện tốt và có hiệu quả giải pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ.
10
Trên cơ sở các nguyên tắc chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản
lý chuyên môn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Bởi do tính chất nghề
nghiệp mà hoạt động chuyên môn của giáo viên có nội dung rất phong phú.
Ngoài giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động chuyên môn còn bao
gồm việc tự bồi dưỡng và bồi dưỡng, giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp, sinh
hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học giáo dục. Thực chất việc quản lý chuyên
môn của giáo viên là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy.
Như vậy, vấn đề xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên từ lâu đã
được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Các công trình nghiên
cứu của họ, có cùng một điểm chung đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của
các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất
lượng dạy học ở các cấp học, bậc học. Đây cũng là một trong những tư tưởng,
quan điểm chỉ đạo mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta.
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Trường Trung học phổ thông (THPT)
Trường THPT nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông, là một tổ chức sư
phạm – xã hội. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học,
từ lớp mười đến lớp mười hai [20].
Trường THPT được coi là trung tâm giáo dục, văn hóa, góp phần tích cực
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Là một cấp học chịu áp
lực về nhu cầu học tiếp của THCS đang phổ cập cho trên 80% học sinh ở độ tuổi
11 – 15, hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2010 của cả nước, chuẩn bị tham
gia hoàn thành phổ cập THPT vào năm 2020.
Sơ đồ 1: Vị trí, tính chất của trường THPT trong hệ thống giáo dục phổ thông
11
Mục tiêu của giáo dục THPT là: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở,
hoàn thiện học vấn phổ thông và có những kết quả của giáo dục trung học cơ sở,
hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân, để lựa chọn hướng phát
triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
lao động” [20].
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của chương
trình giáo dục phổ thông.
- Quản lý, tham gia tuyển dụng và điều động GV, cán bộ, nhân viên.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý
học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
12
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước.
- Tổ chức cho GV- NV & học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Hệ
thống trường THPT có hai loại hình là công lập và tư thục. Trường công lập do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp
quản lý. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho chi thường
xuyên, chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm. Trường tư thục do các tổ chức
Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một
cách rộng rãi như “đội ngũ cán bộ, công chức”, “đội ngũ tri thức”, “đội ngũ y,
bác sĩ”. Các khái niệm tuy khác nhau nhưng đều phản ánh một điều, đó là một
tập hợp người được tổ chức thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều
chức năng, có thể cùng nghề nghịêp hoặc không cùng nghề nghiệp , nhưng đều
cùng có một mục đích nhất định.
14
Như vậy, có thể nói đội ngũ là một tập thể số đông người, có cùng lý
tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó
với nhau.
- Đội ngũ giáo viên
Khi đề cập đến đội ngũ giáo viên, có nhiều quan niệm khác nhau: "Đội
ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri
thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến
toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục"
"Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán
bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì
đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục" [41]
Có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là một tập
hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được tổ chức thành một lực
lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà
giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật
giáo dục và các Luật khác được nhà nước quy định.
Từ khái niệm đội ngũ giáo viên nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ
riêng cho từng bậc học, cấp học như: Đội ngũ giáo viên mầm non, đội ngũ
giáo viên tiểu học, đội ngũ giáo viên trung học cơ sở, đội ngũ giáo viên
THPT, đội ngũ giáo viên dạy nghề, đội ngũ giáo viên trung học chuyên
16
Tuy nhiên, phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển tập thể những con
người có học vấn, có nhân cách phát triển ở trình độ cao. Vì thế, trong phát triển
đội ngũ giáo viên cần lưu ý một số yêu cầu chính như sau:
- Phát triển đội ngũ giáo viên trước hết phải giúp cho đội ngũ giáo viên
phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo. Khơi dậy và phát huy cao nhất năng
lực và tiềm năng của đội ngũ, để họ có thể cống hiến được nhiều nhất cho việc
thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
- Phát triển đội ngũ giáo viên phải nhằm hướng giáo viên đưa hoạt động
của mình vào phục vụ những lợi ích của tổ chức, cộng đồng và xã hội, đồng thời
phải đảm bảo thoả đáng lợi ích vật chất và tinh thần cho giáo viên.
- Phát triển đội ngũ giáo viên phải nhằm đáp ứng mục tiêu trước mắt và
mục tiêu lâu dài của tổ chức, đồng thời phải được thực hiện theo một quy chế,
quy định thống nhất trên cơ sở luật pháp của Nhà nước.
- Phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo, chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô,
vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo
dục đào tạo của địa phương.
Nghị quyết Đại hội XI khẳng định: Đổi mới giáo dục theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế”, trong đó “đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý là khâu then
chốt”. Căn cứ nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đổi mới. Đội
ngũ giáo viên trong trường THPT phải đảm bảo các mặt về số lượng, đội ngũ, cơ
cấu đội ngũ, chất lượng đội ngũ. Đào tạo và bồi dưỡng là các hoạt động để duy
trỡ và nõng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Do đó trong công tác tổ
bộ môn: Toán, vật lý, hóa học, tin học, sinh học, ngữ văn, lịch sử, địa lý, giáo
dục công dân, thể dục, ngoại ngữ, giáo dục quốc phòng, kỹ thuật.
Kèm theo Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8
năm 2006 của Bộ Giáo dục và Bộ Nội vụ hướng dẫn về định mức biên chế ở các
cơ sở giáo dục phổ thông. Cụ thể:
Bảng 1.1: Quy định số tiết của các môn học trong tuần và hệ số môn học
KHỐI THPT
Lớp
Khối 10
Khối 11
Khối 12
TS Tiết
Hệ số
Môn
Văn
3
3.5
3
9.5
0.266
Sử
1.5
1
2
4.5
0.126
Địa
1.5
1
1
6
0.168
Sinh
1
1.5
1.5
4
0.122
Kỹ thuật
1.5
1.5
2
5
0.140
Thể dục
2
2
2
6
0.168
Quốc phòng
1
1
1
3
0.084
Tin học
2
1.5
1.5
loại trung bình và không có GV chưa đạt chuẩn là một mục tiêu quan trọng của
tất cả các đơn vị giáo dục. Đây là một trong những yêu cầu đầu tiên về chất
lượng đội ngũ GV.
- Không để mất cân bằng về độ tuổi, luôn có tính kế thừa và phát triển,
không thể tạo ra những hụt hẫng khi có quá nhiều GV cùng một thời điểm. Tỷ lệ
GV giữa các môn học phải cân đối, không để môn này quá nhiều, môn kia lại
quá ít.
- Ngoài ra còn có một số tiêu chí về chất lượng ĐNGV mà nhà quản lý có
thể dựa vào đó để nâng cao chất lượng đội ngũ của mình như Quy chế công
nhận trường trung học đạt chuẩn: Theo Thông tư 30/2009/TT- BGD-ĐT của Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
cơ sở, giáo viên trung học phổ thông “Đủ giáo viên các bộ môn đạt trình độ
chuẩn được đào tạo theo quy định hiện hành trong đó ít nhất có 20% GV đạt
chuẩn dạy giỏi từ cấp huyện trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt; không có GV xếp
loại yếu về chuyên môn và đạo đức.”
Hoặc trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
THPT phục vụ cho công tác kiểm định chất lượng giáo dục nêu tiêu chí: “Phấn
đấu đến năm 2012 để 100% GV đạt chuẩn trình độ đào tạo trở lên và có ít nhất
10% đến 15% GV trong tổng số GV của trường, 50% tổ trưởng chuyên môn có
trình độ thạc sĩ trở lên” tại Thông tư 30/2009/TT- BGD-ĐT Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên
trung học phổ thông.
20
Việc nâng cấp tỷ lệ GV đạt chuẩn và trên chuẩn cũng là một mục tiêu
quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục. Ban lãnh đạo nhà trường phải có
biện pháp để động viên, khuyến khích GV bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo được
một đội ngũ ngày càng nhiều thạc sỹ, tiến sỹ trong các trường THPT.
có giải pháp thực hiện. Thái độ lao động nghiêm túc, đảm bảo ngày công; lên lớp
đúng giờ, không tùy tiện bỏ lớp học, bỏ tiết dạy; chịu trách nhiệm về chất lượng
giảng dạy và giáo dục HS ở lớp được phân công.
Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo, có
tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, luôn có ý thức phấn đấu vươn
lên trong nghề nghiệp được đồng nghiệp, HS và cộng đồng tín nhiệm.
Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp, hết lòng
phục vụ nhân dân và học sinh.
Có trình độ chuyên môn được đào tạo theo đúng chuẩn trình độ của GV
giảng dạy ở cấp học.
Kiến thức cơ bản trong các tiết dạy đảm bảo đủ, chính xác, có hệ thống.
Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa
của các môn học được phân công giảng dạy, có kiến thức chuyên sâu, đồng thời
có khả năng hệ thống hóa kiến thức trong cả cấp học để nâng cao hiệu quả giảng
dạy đối với các môn học được phân công giảng dạy.
Có kiến thức phổ thông chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên quan
đến ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ, tiếng dân tộc để đáp ứng yêu cầu
dạy học.
Có kiến thức cơ bản về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi, giáo
dục của cấp học và vận dụng được vào việc lựa chọn phương pháp giảng dạy,
cách ứng xử trong giáo dục phù hợp với từng HS.
Có khả năng hướng dẫn đồng nghiệp một số kiến thức chuyên sâu về môn
học, hoặc có khả năng bồi dưỡng HS giỏi, hoặc giúp đỡ HS yếu hay HS còn
nhiều hạn chế trở nên tiến bộ.
22
Có kiến thức và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HS và
vận dụng phù hợp với cấp học, đánh giá HS chính xác, khách quan đúng qui định
Biết cách xử lý tình huống cụ thể để giáo dục HS và vận dụng vào tổng
kết sáng kiến kinh nghiệm giáo dục, ứng xử với đồng nghiệp, cộng đồng luôn
giữ đúng phong cách nhà giáo.
Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy.
1.3.3. Yêu cầu về thực hiện chức năng nhiệm vụ của GV THPT.
Như chúng ta đã biết đội ngũ GV có chức năng rất quan trọng, nó quyết
định đến chất lượng giáo dục. Từ xa xưa đến nay trong dân gian ai cũng thuộc
câu ca dao “Muốn khôn thì phải có thầy” hay “Không Thầy đố mầy làm nên”.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh và công cuộc xây và bảo vệ Tổ quốc, Đảng
- Nhà nước và nhân dân ta luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người
Thầy. Đảng ta có ĐNGV là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục; người
thầy giáo là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hoá, đó là những người truyền
thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho họ vốn kiến thức
văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, dạy cho họ
có tri thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước. Bác Hồ đã nói: “Có gì vẻ vang
hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản ? Người Thầy giáo tốt - Thầy xứng đáng là người
Thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được
thưởng huân chương, song những người Thầy giáo tốt là những người anh hùng
vô danh”.
Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cũng nói “Nghề dạy học là nghề cao quý
vào bậc nhất trong những nghề cao quý… nghề dạy học là một nghề sáng tạo
vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo… vì nó sáng tạo ra những con người sáng
tạo”.
24
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
cho HS; được đào tạo chính quy và được trang bị đầy đủ kiến thức về lý luận
dạy học và phương pháp sư phạm.
Thứ hai, giáo viên phải được trang bị kiến thức tương đối tổng quát và
phải có một chuyên môn sâu để có thể đánh giá được tầm quan trọng của những
tri thức chuyên môn của mình và đánh giá được nội dung các giáo trình trong
bối cảnh chung.
Thứ ba, giáo viên phải có khả năng hoạt động xã hội để tập hợp và tổ
chức được các hoạt động cho HS; có thể hình dễ gần không dị tật. GV trường
trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm:
Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ của GV trường trung học, GVBM có những nhiệm vụ sau đây:
- Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, soạn bài; dạy
thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ
đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà
trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
- Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín nhà giáo, gương mẫu trước HS, yêu
thương tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích
chính đáng của HS, đoàn kết và giúp đỡ đồng nghiệp.
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các nhà giáo khác, gia đình học sinh,