TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
PHẠM THỊ PHƯƠNG
TÌM HIỂU VIỆC GIÁO DỤC THẢM MĨ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
ÂMNHẠC TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG
MÀM NON KHU Vực THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA •LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•••
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa
học ThS. TRỊNH THỊ
HÀ NỘI - 2015
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc với cô giáo,
ThS.Trịnh Thị Xỉnh - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên,giúp đỡ em
trong suốt quá trình làm khóa luận.
LỜI CAM ĐOAN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô khoa
giáo dục tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em
thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin được cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của ban giám hiệu, các cô giáo cùng bạn bè
động nghiệp và các cháu lớp 5 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm, Mầm non Đống Đa, Mầm
non Ngô Quyền - Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho em khảo sát thực trạng và thực
nghiệm sư phạm.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn nhiệt tình, giúp đỡ
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH
PHÚC...................................................................................................................
3.1.
3.2.
3.3.
3.16.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẤT
*
3.4. S 3.5. Từ viêt tăt
3.6. Từ viêt tăt đây đủ
TT
3.7.
3.8. MN
3.9. Mâm non
1
3.10.
3.11. SL
3.12. Sô lượng
2
3.13. 3.14. PTGT
3.15. Phương tiện giao thông
3
cuộc sống hơn cũng như có thể hòa mình và thể hiện
tình cảm và cảm xúc của trẻ khi trình bày, Ấm nhạc
còn giúp cơ thể ừở nên khỏe mạnh nhanh nhẹn qua
những ừò chơi hay bài vận động âm nhạc.
4
MỞ ĐẦU
3.23. Qua đó, âm nhạc còn giúp trẻ biết cảm thụ cái đẹp và còn biết
bảo vệ cái đẹp trong cuộc sống xung quanh trẻ.
3.24. Như vậy ta có thể nhận thức được sự cần thiết của hoạt động âm
nhạc trong việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho trẻ trong trường mầm
non. Vậy để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc ở trường
mầm non được thực hiện như thế nào ? Bằng những phương pháp nào? Được
thực hiên ở trường mầm non ra sao?
3.25. Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi đã chọn đề tài:
“Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
hoạt động âm nhac tai môt số trường mầm non thuôc khu vưc thành phố
Vĩnh Yên - tỉnh
•
3.26. Vĩnh Phúc”.
•
•
о
•
3.32. Tác giả Tào Văn Ân với cuốn “Thẩm mĩ học đại cương”Trường Đại Học Cần Thơ.
3.33. Giáo dục thẩm mĩ nói riêng còn rất được nhiều tác giả nghiên
cứu và đề cập đến trong từng công trình nghiên cứu bởi ý thức được sự quan
trọng và cần thiết của lĩnh vực trên đối với trẻ thơ. Tuy nhiên giáo dục thẩm mĩ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động âm nhạc nói riêng lại chưa nhận
được sự quan tâm cũng như chú ý của nhiều tác giả thể hiện trong công trình
nghiên cứu của họ.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
3.34. Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu được thực trạng việc giáo
dục thẩm mĩ cho trẻ ở trường mầm non và những nguyên nhân dẫn đến thực
trạng. Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất và những tác động phù họp nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn nói chung và
thông qua hoạt động âm nhạc nói riêng.
4. Đổi tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: “Tìm hiểu về thực trạng giáo dục thẩm mĩ cho
trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động âm nhạc tại một số trường mầm
non thuộc khu vực thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”.
- Khách thể nghiên cứu: Việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
6
MỞ ĐẦU
5. Phạm vỉ nghiên cứu của đề tài
3.35. Do thời gian có hạn và điều kiện không cho phép, đề tài chỉ dừng
ở việc tổ chức các hoạt động âm nhạc cho trẻ mẫu giáo lớn tại một số trường
mầm non: Trường mầm non Đồng Tâm, trường mầm non Đống Đa, trường
mầm non Ngô Quyền thuộc khu vực thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
MỞ ĐẦU
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
3.37. + Phương pháp quan sát (dự giờ tiết học âm nhạc).
3.38. + Phương pháp điều tra bằng Phiếu hỏi.
3.39. + Phương pháp phỏng vấn (học sinh & giáo viên).
3.40. + Phương pháp thống kê toán học.
9. Kế hoạch nghiên cứu
-
Tháng 11/2014 đến tháng 12/2014: Nhận đề tài và hoàn thành đề
cương.
- Tháng 12/2014 đến tháng 1/2015: Tìm hiểu cơ sở lí luận.
-
Tháng 2/2015 đến tháng 4/2015: Tìm hiểu thực ừạng giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động âm nhạc tại một số trường
mầm non thuộc khu vực thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Tháng 5/2015: Tổng kết, đề xuất một số biện pháp giáo dục thẩm mỹ
thông qua hoạt động âm nhạc cho ừẻ. Hoàn thành đề tài nghiên cứu và
bảo vệ.
10.Cấu trúc đề tài.
3.41. Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo.
3.42. Nội dung chính của đề tài bao gồm:
thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong
xã hội thuộc lĩnh vực tư tưởng chính trị, đọa đức, lao động xã hội và học tập,
thẩm mỹ và vệ sinh...
1.1.2.
Khái niệm thẩm mỹ
3.50. Nói đến thẩm mỹ là nói đến cái đẹp. Cái đẹp là lĩnh vực vừa có
tính bản thể vừa có tính định hướng. Có tính bản thể là vì đẹp có thể là một
hiện tượng, sự vật ý nghĩa, một hành vi, là tinh thần hay vật chất... nó tồn tại
9
MỞ ĐẦU
như những chinh thể độc lập. Có tính định hướng là vì đẹp còn là một chuẩn
mực do con người xác định lý tưởng sống sao cho đạt tới Chân - Thiện - Mỹ.
3.51. Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm của mỹ học, dùng để chỉ
thực tại thẩm mỹ khách quan. Thực tại này chúng ta biết được nhờ hệ thống
cảm nhận phổ biến có tính xã hội sâu sắc. Dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm
mỹ chân chính, hệ thống cảm nhận thẩm mỹ phản ánh lại thực tại đẹp. Đặc
trưng ngôn ngữ của sự phản ánh đó là nghệ thuật. Cái đẹp bắt nguồn từ cái
thật, cái tốt. Nó tỏa chiếu bằng các xung đột thẩm mỹ có sức cuốn hút, giúp
cho con người định hướng đời sống theo quy luật hoàn thiện , hoàn mỹ. Tác
động của cái đẹp là một tác động thanh cao, hài hòa, biện chứng, ở tự thân bên
trong tâm hồn con người xa hội loài người.
3.52. Như vậy cái đẹp gắn với bản chất sáng tạo của con người với quá
trình hoàn thiện, hoàn mỹ hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời sống
vật chất và tinh thần.
1.1.3.
Với giáo dục đạo đức: Cảm xúc thẩm mỹ không những xây dựng trên
cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở nắm chắc nội dung tư tưởng
của tác phẩm nghệ thuật. Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hường đến
tâm lí, đến hành vi đạo đức và làm cho hành động của con người thêm
cao thượng.
3.57. Ví dụ: Qua việc cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của hoa
lá, của cây cối,... trẻ có thái độ yêu mến, biết chăm sóc, bảo vệ cây cối xung
quanh mình.
3.58. Như khi đứng trước một vườn hoa nhỏ ừẻ rất thích thú và chạy
lại hít mùi hương mà hoa mang lại, ngắm hoa,... từ đó gợi lên những rung cảm
trong lòng trẻ. Trẻ yêu hoa, yêu cây cối muốn chăm sóc bảo vệ cho vườn hoa.
3.59. Từ đó, hình thành ở trẻ những hành vi văn minh trong ừẻ như ừẻ
không hái hoa, không bẻ cành, giẩm đạp lên vườn hoa. Trẻ biết gìn giữ, bảo
vệ, và thích làm những việc như giúp đỡ người xung quanh mình. Trẻ đồng
cảm với những hoàn cảnh đáng thương, không may mắn trong cuộc sống. Đó
chính là những cái đẹp ừong hành vi và ừong tâm hồn ừẻ.
1
1
MỞ ĐẦU
3.60. Cảm xúc thẩm mỹ làm phong phú cuộc sống của trẻ, nó góp
phần giáo dục tính lạc quan yêu đời của các em.
-
Với giáo dục trí tuệ: Giáo dục thẩm mỹ là cơ sở, là tiền đề để phát triển
trí tuệ cho trẻ mẫu giáo, trẻ ở lứa tuổi này không thể tiếp nhận những lý
* Phát triển tri giác, tình cảm
3.61. Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu tò sự phát triển năng lực tri giác cái
đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp. Đó là những rung cảm thẩm mỹ, những
tình cảm thẩm mỹ.
3.62. Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính , cụ thể về
mặt thẩm mỹ. Nhìn và nghe là cơ sở đầy đủ về phương diện tâm lý, sinh lý để
tri giác cái đẹp. Ngay từ những năm đầu trẻ đã bị lôi cuốn một cách vô thức
vào tất cả những gì sống động, sặc sỡ, hấp dẫn... qua những bài hát và những
bức ảnh. Song đó chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện ra của
hứng thú, nhận thức. Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ là giúp trẻ diễn ra quá trình
chuyển từ quá trình nhận thức bản năng sang sự tri giác có ý thức về cái đẹp.
cần làm cho trẻ chú ý đến những sự việc, hiện tượng thiên nhiên, đến những
hành vi của con người, dạy cho các em phải biết nhìn ra và phát triển được cái
đẹp trong cuộc sống, trong thiên nhiên, lao động, ừong hành vi và hành động
của con người, dạy cho các em biết về phương diện thẩm mỹ đối với thế giới
xung quanh, giáo dục tình cảm thẩm mỹ cho trẻ trong việc rèn luyện thị hiếu
thẩm mỹ sau này.
3.63. Giáo viên cũng có nhiệm vụ dẫn dắt trẻ đi tìm sự tri giác cái đẹp,
cảm xúc đối với nó đến chỗ hiếu và hình thành các khái niệm các nhận xét và
đánh giá thẩm mỹ.
* Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ
3.64.
3.65. Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng
о*
о•
«г
О
đẹp một cách khách quan, biết phân biệt đâu là cái đẹp, đâu là cái không đẹp,
đâu là cái xấu.
1.2.3.
Những phương tiện cơ bản để giáo dục thẩm mỹ ở trường mẫu
giáo
3.71. Gồm 3 phương tiện:
1
4
MỞ ĐẦU
-
vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ (hay chính là vẻ đẹp trong sinh
hoạt hằng ngày).
3.72. Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ là bức tường của ngôi nhà
thân yêu, những động vật xung quanh, đồ đạc, đồ dùng trong gia đình, sự kết
họp hài hòa giữa các đồ vật trong gia đình về màu sắc, trang trí, trưng bày,...
Tất cả những điều đó để lại ấn tượng sâu sắc, được phản ánh trong trí nhớ và ý
thức của trẻ.
3.73. Vẻ đẹp trong sinh hoạt hàng ngày của trường mẫu giáo- nơi mà
ừẻ hằng ngày đến học thể hiện ở tính giản dị của nghệ thuật ừang trí, lựa chọn
các tiện nghi sinh hoạt, màu sắc của các bức tranh trên tường cửa lớp thật bắt
mắt, nổi bật, trong sáng như tâm hồn trẻ.
3.74. Các yêu càu ừang trí trường học do nhiệm vụ và bảo vệ đời sống,
sức khỏe của trẻ, do nội dung của công tác giáo dục quy định. Các yêu cầu chủ
viên... đều góp phần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
-
Thiên nhiên, quê hương đất nước: là một phương tiện mạnh mẽ để giáo
dục thẩm mỹ cho ừẻ, vẻ đẹp thiên nhiên ừong thơi thơ ấu được cảm thụ
sâu sắc và ừong sáng, nó được giữ lại ừong tình cảm, tư tưởng và giữ
mãi mãi trong cuộc đời.
3.83. + Cô giáo phải biết mở ra cho các em thế giới tự nhiên, dạy cho
ừẻ biết vẻ đẹp của mỗi sớm bình minh, tiếng chim hót, hình ảnh bác nông dân
chuẩn bị ra đồng, các anh chị lớn đi học, tiếng cười đùa của mọi người, tiếng
lá rơi xào xạc..tất cả đều tạo nên cảm xúc cho trẻ biết yêu mến cảnh đẹp thiên
nhiên cũng như chính cuộc sống xung quanh trẻ.
- Nghệ thuật
1
6
MỞ ĐẦU
3.84. Là một phương tiện toàn diện và vô tận giáo dục thẩm mỹ. Loại
hình nghệ thuật phù hợp với trẻ: văn học, hội họa, điêu khắc, sẫn khấu điện
ảnh. Mỗi một loại hình nghệ thuật phản ánh một cách độc đáo cuộc sống và có
ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ. Cô giáo
phải biết sử dụng các loại hình nghệ thuật khác nhau để gây cho ừẻ những cảm
xúc thẩm mỹ và phát triển thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn. Điều quan trọng là sự
lựa chọn các tác phẩm phù hợp với trình độ phát triển của trẻ em, các tác phẩm
có tính nghệ thuật cao, dễ hiểu và nâng dần theo lứa tuổi.
3.85. + càn tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động nghệ thuật như hát,
vẽ, múa, kể chuyện, đọc thơ để nâng cao hứng thú và phát triển mầm mống
thuật 1 tác phẩm âm nhạc hay một tác phẩm văn học..có tác dụng trực tiếp
khêu gợi tình cảm và xúc cảm thẩm mỹ, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn nội dung và
hình thức của tác phẩm.
3.92. + Khi sử dụng phương pháp ừò chuyện bằng câu hỏi của mình
cô giáo làm cho trẻ lưu ý, suy nghĩ về những điểm chủ yếu, tìm hiểu và huy
động kinh nghiệm của trẻ, làm sâu sắc những cảm xúc thẩm mỹ của trẻ. Trong
khi trò chuyện thì tập cho ừẻ nói lên những ấn tường của mình, bày tỏ thái độ
của mình với tác phẩm và các hiện tượng trong cuộc sống. Khi trò chuyện phải
dùng từ cảm xúc thẩm mỹ của trẻ đối với tác phẩm nghệ thuật để trẻ học theo,
làm theo bắt chước theo.
3.93. + Khi dạy trẻ vẽ nặn, hát, múa, cô truyền đạt cho trẻ những tri
thức cần thiết và hình thành kỹ năng nhất định. Bởi vậy, cần vận dụng những
phương pháp tập luyện để trẻ hiểu được những thao tác, cách thể hiện, cách sử
dụng đồ dùng học tập ( Bút màu, bút chì, phấn vẽ..) cô càn dùng các biện pháp
chỉ dẫn và làm mẫu.
1.3.
Một số vấn đề về âm nhạc
1.3.1.
Khái niệm về âm nhạc
1
8
MỞ ĐẦU
3.94. Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật, phản ánh hiện thực khách
quan bằng những hình tượng có sức biểu cảm của âm thanh. Cùng với các
từ rất sớm, những biểu hiện sinh động của trẻ khi nghe thấy âm nhạc... Đã
khẳng định rằng, có thể cho ừẻ làm quen với âm nhạc tò những tháng tuổi đàu
tiên rằng, âm nhạc là phương tiện tích cực trong việc giáo dục ừẻ ở nhiều mặt
như thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ, thể chất.
1.3.2.
Ẩm nhạc đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ
3.99. Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật biểu hiện bằng âm thanh có
sức tác động mạnh mẽ đến tình cảm của con người. Ngôn ngữ âm nhạc chính
là giai điệu, âm sắc, cường độ, nhịp độ, hòa âm, tiết tấu... diễn ra cùng với thời
gian đã thu hút, hấp dẫn, làm thỏa mãn như cầu tình cảm của trẻ, đồng thời là
phương tiện giúp ừẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển ngôn ngữ, quan
hệ giao tiếp, trao đổi tình cảm...
3.100. Ở trường mầm non, tổ chức hoạt động âm nhạc bao gồm hoạt
động hát, vận động theo nhạc và nghe nhạc. Qua quá trình tham gia các hoạt
động âm nhạc như nghe giáo viên hát, trẻ tự hát, vận động, chơi trò chơi âm
nhạc... sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển hài hòa
toàn diện, đó là sự phát triển về thẳm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực. Ngoài ra
thế giới âm thanh muôn màu không ngừng chuyển động là điều kiện cho trẻ
phát triển các chức năng tâm lí, năng lực hoạt động và sự hiểu biết.
- Ấm nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mỹ
3.101. Ảm nhạc là một trong những các bộ môn nghệ thuật giáo dục cái
đẹp cho trẻ. Lời ca, giai điệu của các bài hát, bản nhạc đã giúp trẻ tưởng tượng,
2
0
3.105. Âm nhạc nói chung và đăc biệt là hoạt động ca hát nói riêng có
sức mạnh lôi cuốn tâm hồn và tình cảm con người ừong đời sống xã hội, nhất
là đối với trẻ thơ - lứa tuổi yêu thích ca hát. Âm nhạc chân chính có giá trị
nghệ thuật cảm hóa mọi người luôn hướng tới cái đẹp.
3.106. Ví dụ như bài "Niềm vui của em" là hình ảnh niềm vui của
những em nhỏ thích được đến trường vào mỗi buổi sáng sớm: mặt trời, mẹ, em
đến trường, đàn chim, cô giáo..Những hình ảnh đó đã nuôi dường những tâm
hồn trẻ thơ nhận thức về cái đẹp. Từ nhận thức cái đẹp một cách khách quan,
nó sẽ đi vào chiều sau nhận thức của trẻ.
3.107. Các bài hát cho trẻ mầm non đã đem lại cho trẻ những cảm xúc
đa dạng và hồn nhiên, góp phần quan trọng trong việc giáo dục tình cảm đạo
đức và thẩm mỹ cho ừẻ thơ. ừong đó có cái đẹp về cách ứng xử, giao tiếp với
ông bà, cha mẹ, người lớn..bạn vè xung quanh cuộc sống của trẻ
3.108. Vì vậy, giáo dục tình cảm thẩm mỹ cho trẻ thông qua hoạt động
âm nhạc ừong trường mầm non làm phong phú thêm tinh thần cho trẻ, giúp trẻ
cảm thụ được cái đẹp, tạo niềm vui trẻ trong cuộc sống bây giờ và sau này.
- Âm nhạc là phương tiện giáo dục đạo đức
3.109. Trong khi tác động đến tình cảm, âm nhạc cũng đồng thời hình
thành ở trẻ những tình cảm đạo đức. Đôi khi tác động của âm nhạc còn mạnh
hơn cả những lời khuyên hay ra lệnh nghiêm khắc.
3.110. Các tác phẩm âm nhạc ca ngợi thiên nhiên , đất nước, con
người..gợi ở trẻ tình yêu quê hương đất nước, tổ quốc, lòng biết ơn những
người thân trong gia đình. Một số bài hát có chủ đề về trường mầm non, về cô
giáo, về những nét sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của trẻ, gần gũi với trẻ
2
2
MỞ ĐẦU
thanh tiến hành theo các hướng khác nhau, làm quen với ý nghĩa biểu cảm của
âm nhạc, ghi nhớ đặc điểm, tính chất hình tượng âm nhạc. Những trải nghiệm
ban đầu thử đánh giá cái đẹp trong âm nhạc đòi hỏi các thao tác tư duy, trí tuệ
của ừẻ phải hoạt động tích cực.
3.117. Trong khi tập hát, ừẻ không chỉ tiếp thu đường nét gia điệu, tiết
tất âm nhạc mà còn cả lời ca âm nhạc giản dị, gần gũi với trẻ còn giúp ừẻ phát
triển ngôn ngữ, phát âm chính xác, biểu cảm, mở rộng vốn từ...
3.118. Cũng như các loại hình nghệ thuật khác âm nhạc còn có ý nghĩa
nhận thức. Nhiều hiện tượng của đời sống được phản ánh qua tác phẩm âm
nhạc làm phong phú thêm vốn hiểu biết của trẻ bằng những khái niệm về xã
hội, về thiên nhiên, về truyền thống và các mối quan hệ khác.
3.119. Các dạng hoạt động âm nhạc ở nhà trẻ, mẫu giáo, tùy theo đặc
điểm lứa tuổi trẻ, thông qua các bài tập ngày một khó dàn, phức tạp hơn... đòi
hỏi ừẻ phải tích cực tư duy, tưởng tượng, sáng tạo...
3.120. Như vậy, giáo dục âm nhạc thực hiện nhiều nhiệm vụ thúc đẩy
hoạt động trí tuệ.
- Âm nhạc tác động đến sinh lý của trẻ
3.121. Tính chất đa dạng của các hoạt động âm nhạc gợi ra những phản
ứng đối với sự thay đổi của nhịp tim, sự trao đổi máu, hô hấp, giãn nở cơ., tiết
học vẫn động theo nhịp điệu giúp ừẻ phối hợp các động tác, đi lại vững vàng,
chạy được nhẹ nhàng. Tất cả những vẫn động của tay, chân, lưng đầu vai, toàn
thân... nhờ có sự phụ họa của âm nhạc, trở nên chính xác, nhịp nhàng hơn. Sự
thay đổi cường độ, nhịp độ âm nhạc trong tác phẩm đòi hỏi trẻ phải thay đổi
tốc độ của vận động, biên độ của vận động sao cho thật phù hợp. Sự thay đổi
2
4
MỞ ĐẦU