Thương mại quốc tế của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách và mở cửa, tác động của nó đến hoạt động xuất nhập khẩu của Trung Quốc - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lờI NóI ĐầU
* * *
Bớc vào thế kỷ 21 hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ổn định về
chính trị và xã hội. Mỗi nớc đã lựa chon con đờng phát triển cho riêng mình,
có nớc theo con đờng XHCN, có nớc TBCN, lại cũng có những nớc trunh lập.
Nhng dù theo con đờng nào thì cuối cùng vẫn đi tới cái đích trung duy nhất:
kinh tế phát triển, xã hội ổn định và văn minh... Nói cách khác là tiến tới một
quốc gia vững mạnh toàn diện.
Vấn đề phát triển kinh tế hiện nay đang là điểm nóng của mỗi quốc gia.
Để thúc đẩy tăng trởng nền kinh tế các quốc gia đã phải tích cực vận dụng
các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất và thúc đẩy lao động không
ngừng. Trong bối cảnh đó thì chính sách thơng mại quốctế về xuất nhập khẩu
vô cùng quan trọng với mọi quốc gia, mọi dân tộc.
Trung Quốc, một quốc gia đất rộng, ngời đông và đặc biệt hơn lại là
một trong những nớcXHCN còn lại sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, hiện
nay đang là tiêu điểm chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào phe
XHCN. Nhng Trung Quốc bằng cách riêng của mình đang ngày càng khẳng
định vị thế của mình trên trờng quốc tế.
Với chủ trơng mở cửa hoà nhập đón nhận cái mới, cái văn minh, Trung
Quốc đang cho thế giới thấy quyết định đúng đắn và khôn ngoan của mình
trong thời kỳ cải cách mở cửa. Đứng trớc sự lựa chọn đóng cửa để tụt hậu hay
mở cửa để phát triển, Đăng Tiểu Bình nói riêng và Trung Quốc nói chung đã
không chần chừ lựa chọn con đờng hội nhập quốc tế để phát triển ngoại th-
ơng và xuất nhập khẩu.
Tại sao nhân dân Trung Hoa lại chọn con đờng mở cửa phát triển, đặc
biệt quan tâm đến thơng mại quốc tế về xuất nhập khẩu ;Vậy htơng mại quốc
tế là gì ;Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng nh thế nào đối với
nền kinh tế của một quốc gia ;Nó liên quan gì đến sự phát triển và phồn thịnh
của đất nớc Trung Quốc
Và cụ thể Trung Quốc đã, đang làm gì cho chính sách phát triển này.

độ tự cung tự cấp, không buôn bán.
Thơng mại xuất hiện từ sự đa dạng và điều kiện tự nhiên của sản xuất
các nớc, nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng cá lợi thế và nhập
khẩu các mặt hàng khác từ nớc ngoài mà sản xuất trong nớc kém lợi thế thì
chắc chắn sẽ đem lại lợi nhuận lớn hơn.
Năm 1817, quy luật lợi thế tơng đối (hay lý thuyết về lợi thế so sánh đã
chứng minh đợc rằng chuyên môn hoá có lợi cho tất cả các nớc.
Quy luật lợi thế tơng đối nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất,
coi đó là chìa khoá của các phơng thức thơng mại. Lý thuyết này khẳng định
nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các sản phẩm mà nớc đó có lợi
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thế tơng đối hay có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất thì thơng mại có lợi
cho cả hai nớc.
Chi phí cơ hội của một mặt hàng là số lợng những mặt hàng khác ngời
ta phải từ bỏ để sản xuất hoặc kinh doanh thêm một đơn vị mặt hàng đó. Giả
sử một nền kinh tế khép kín có các nguồn lực nhất định để làm ra máy video
và áo sơ mi. Càng dùng nhiều nguồn lực vào việc làm máy video, thì càng có
ít nguồn lực có thể dùng làm áo sơ mi. Chi phí cơ hội của máy video là lợng
áo sơ mi bị hy sinh do việc dùng các nguồn lực vào việc làm ra máy video.
3. Xuất nhập khẩu và vai trò của xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế.
Nó không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan
hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi
nhuận tối đa. Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả
đột biến nhng có thể gây ra thiệt hại lớn vì nó phaỉ đối đầu với một hệ thống
kinh tế khác, kinh tế bên ngoài, mà các chủ thể kinh tế trong nớc tham gia
xuất nhập khẩu không dễ dàng khống chế đợc.
Trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ
đem lại nhiều lợi ích, song cũng có một số đặc điểm bất lợi. Những thuận lợi

Việc lựa chọn các mặt hàng xuất khẩu không chỉ dựa vào những tính
toán hay ớc tính, những biểu hiện cụ thể của hàng hoá, mà còn phải dựa vào
những kinh nghiệm của ngời ngoài thị trờng để dự đoán các xu hớng biến
động của thị trờng.
+ Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng:
Dung lợng thị trờng là một khối lợng hàng hoá đợc trao đổi trên một
phạm vi thị trờng nhất định.
Nghiên cứu dung lợng thị trờng cần xác định nhu cầu thật của khách
hàng, kể cả lợng dự trữ, xu hớng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm,
các vùng, các khu vực có nhu cầu lớn và đặc điểm nhu cầu từng khu vực,
từng lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng. Một vấn đề cũng cần đợc quan tâm là
tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, thị trờng thế giới để có các
biện pháp thích hợp cho từng giai đoạn đảm bảo cho việc xuất nhập khẩu
hàng hoá.
Dung lợng thị trờng là không cố định nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của
thị trờng, do tác động của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Các
nhân tố làm dung lợng thị trờng thay đổi có thể chia ra 3 loại căn cứ vào thời
gian chúng ảnh hởng đến thị trờng:
Loại nhân tố thứ nhất: là nhân tố làm cho dung lợng biến đổi có tính
chất chu kỳ.
Loại nhân tố thứ hai: là nhân tố ảnh hởng lâu dài đến sự biến động của
thị trờng bao gồm những tiến bộ khoa học, công nghệ, các chính sách của
nhân tố nhà nớc, thị hiếu và tập quán tiêu dùng.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Loại nhân tố thứ 3: là các nhân tố ảnh hởng tạm thời đến dung lợng thị
trờng nh hiện tợng đầu cơ tích trữ gây ra các đột biến về cung cầu, các yếu tố
tự nhiên nh thiên tai, hạn hán, động đất... các yếu tố về chính trị, xã hội...
Nắm vững dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng trong từng thời
kỳ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng

+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trờng quốc tế
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Qua buôn bán quốc tế, giá cả của hàng hoá đợc coi là tổng hợp trong đó
bao gồm giá vốn của hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm
và các chi phí khác.
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với mỗi loại hàng hoá nhất định
trên thị trờng, giá đó phải là giá của những giao dịch thôngthờng không kèm
theo bất kỳ một điều kiện thơng maị đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ
tự do chuyển đổi để có thể dự đoán một cách tơng đối chính xác về giá cả
quốc tế của hàng hoá trớc hết phải căn cứ vào kết quả nghiên cứu và dự đoán
về tình hình thị trờng của hàng hoá đó, đánh giá đúng các nhân tố ảnh hởng
đến giá cả và xu hớng vận động của giá cả hàng hoá
Có rât nhiếu các nhân tố ảnh hởng đến giá cả hàng hoá, sau đây là một
số nhân tố:
Nhân tố chu kỳ: là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế, đặc
biệt là sự biến động thăng trầm của nền kinh tế các nớc lớn.
Nhân tố lũng đoạn của các công ty siêu quốc gia. Đây là nhân tố quan
trọng có ảnh hởng đến sự hình thành của giá cả của các loai hàng hóa trên thị
trờng quốc tế.
Nhân tố cạnh tranh, cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa ngời bán với
ngời bán, ngời mua với ngời mua và giữa ngời bán với ngời mua. Trong thực
tế cạnh tranh thờng làm giá cả hàng hoá rẻ hơn.
Nhân tố cung cầu: là những nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến
lợng cung cấp hoặc khối lợng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trờng.
Nhân tố lạm phát: giá cả hàng hoá không những phụ thuộc vào giá trị
của nó mà còn phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ.
Nhân tố thời vụ: là những nhân tố tác động đến giá cả theo tính chất
thời vụ của sản xuất và lu thông.
Ngoài những nhân tố trên đây giá cả quốc tế của hàng hoá còn chịu tác

hoạt động xuất nhập khẩu
I. Tình hình của kinh tế Trung Quốc trớc thời kỳ mở cửa.
Trớc năm 1978 Trung Quốc còn là một nớc mang nặng t tởng bảo thủ
không có quan hệ với các nớc khác. Kinh nghiệm cho thấy đóng của để tự
xây dựng thì không thể thành công đợc. Đại hội X Đảng Cộng Sản Trung
Quốc (8/1973) kiên quyết mở cửa ra nớc ngoài, xuất phát từ t tởng của Đặng
Tiểu Bình là mở cửa để phát triển nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu Chủ nghĩa
xã hội. Theo ông "Tính u việt của chủ nghĩa xã hội biểu hiện ở chỗ sức sản
xuất của nó phải phát triển cao hơn chủ nghĩa t bản". Nhng việc Trung Quốc
kiên quyết mở cửa ra nớc ngoài còn liên quan đến một cách nhìn mới về tình
hình quốc tế. Theo Đặng Tiểu Bình ngày nay tiếp tục con đờng cách mạng xã
hội chủ nghĩa là vấn đề " hoà bình và phát triển" tức là tất yếu phải có đờng
lối đổi mới cải cách và mở cửa. Để tìm hiểu tầm sâu sắc của chủ trơng mở
cửa của Trung Quốc ta sẽ xét qua tình hình Trung Quốc thời kỳ trớc khi
Trung Quốc mở cửa.
1. Tình hình thế giới từ 1960- 1970: Có nhiều biến đổi.
Cuộc đối đầu giữa các nớc xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa dịu
xuống. Cuộc chạy đua vũ trang mỗi ngày một quyết liệt. Đói nghèo, dốt nát,
bệnh tật, chiến tranh luôn đeo bám những ngời dân vô tội. Trớc tình hình đó
Trung Quốc lấy đờng lối mở cửa ra nớc ngoài thay đờng lối đối đầu với các
lực lợng đế quốc.
Những vấn đề toàn cầu cấp bách đã xuất hiện yêu cầu phải mở cửa để
hoà nhập với thế giới.
Do những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các quan hệ chính trị và kinh tế thế
giới mỗi ngày một phức tạp đòi hỏi một cách cấp bách phải giải quyết những
vấn đề một cách thoả đáng nh vấn đề chiến tranh vũ khí hạt nhân, độc lập
dân tộc...
Việc giải quyết những vấn đề toàn cầu là của tất cả các nớc trên thế
giới, cần phải có sự cộng tác... Việc nhận thức này liên quan đến đờng lối mở
cửa của Đặng Tiểu Bình.

nó cũng lên xuống bấp bênh cùng với các triều đại phong kiến lúc đợc đề cao
lúc lại " chìm nghỉm xuống".
*Nhân tố kinh tế xã hội
Mở cửa kinh tế đối ngoại là phần quan trọng trong chính sách mở cửa
của Trung Quốc nhằm khởi động các tiềm năng kinh tế nên đã tạo lên cao
trào sản xuất ở mọi nghành, mọi địa phơng...
Để có đợc một chiến lợc mở cửa mà Trung Quốc phải lật lại biết bao bài
học quá khứ về sự thất bại, chậm chân... bởi Trung Quốc có cơ sở hạ tầng yếu
kém, tình hình tài chính bi đát.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trớc khi mở cửa Trung Quốc đã có nhiều chiến lợc sửa sai và đạt đợc
những thành tựu đáng kể nhng mở cửa vẫn là sự lựa chọn đúng đắn nhất của
ĐCS Trung Quốc.

II. Chính sách kinh tế mở cửa và tác động của nó đối với xuất
nhập khẩu:
1. Nội dung của chính sách kinh tế trong thời kỳ mở cửa
Chính sách kinh tế mở cửa của Trung Quốc đợc thực hiện từ 1979 theo
quyết định của hội nghị TW lần 3 khoá XI. Chính sách này là một bộ phận
của cuộc cải cách thể chế kinh tế đợc bắt đầu từ cuối những năm 1970. Thực
chất cải cách thể chế kinh tế là sự lựa chọn lại hình thức thực hiện chế độ xã
hội chủ nghĩa, tức là một quá trình cải tạo và thay thế thể chế kinh tế cũ bằng
thế thể chế kinh tế mới.
Cải cách thế thể chế kinh tế là một nhu cầu bức xúc, bởi lẽ từ lúc thành
lập nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc đã xây dựng
một thế thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa theo sự hiểu biết truyền thống. ở
Trung Quốc đã hình thành mô hình kinh tế xã hội theo mô hình của Liên
Xô- một mô hình đợc hình thành trong những năm 1930- 1950. Đồng thời
mô hình đó cũng đợc củng cố thêm bởi chế độ Cộng Sản chủ nghĩa quân sự

thông qua chơng trình 4 hiện đại hoá: Công nghiệp, nông nghiệp, khoa học-
kỹ thuật và quốc phòng; Dự định đến năm 2000 tỏng sản phẩm xã hội sẽ tăng
lên gấp 4 lần; Trung Quốc sẽ trở thành một cờng quốc có vị trí xứng đáng
trên thế giới. Chơng trình này sẽ không khể thực hiện đợc nếu không sử dụng
yếu tố tích cực bên ngoài. Do vậy, hội nghị TW lần 3 khoá XI đã có những
chính sách kinh tế mở cửa. Chính sách này đợc thực hiện đồng thời với cải
cách trong nớc. Hai yếu tố hỗ trợ cho nhau và là sự đảm bảo để thực hiện ch-
ơng trình 4 hiện đại hoá, để hoàn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang
màu sắc Trung Quốc.
Về ngoại thơng
Từ 1978 Trung Quốc mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu, đã ký các hiệp
định mậu dịch dài hạn với Nhật Bản vào 2- 1978, với các nớc Thị truờng
chung Châu Âu 4- 1978, với Mỹ tháng 6- 1979. Những hiệp định này quy
định cho các bên chế độ tối huệ quốc, cho Trung Quốc huởng u đãi về thuế
và phần nào giúp Trung Quốc khắc phục xự phân biệt đối xử khi xuất hàng
vào các thị trờng t bản. Tháng 1- 1980 khối Thị truờng chung Châu Âu xếp
Trung Quốc vào số các nớc đợc hởng u đãi chung của khối này đối với các n-
ớc đang phát triển.
Dới đây là vài số liệu của những năm gần đây nhất chứng minh sự phát
triển ngoại thơng của Trung Quốc.
- Năm 1978, kim ngach ngoại thơng đạt 39, 5 tỷ đo la, nhập khẩu đạt
43, 2 tỷ đô la. Năm 1988, kim ngach ngoại thuơng đạt 102, 8 tỷ đô la trong
đó xuất khẩu đạt 47, 5 tỷ đô la, nhập khẩu đạt 55, 3 tỷ đô la.
- Năm 1989, kim ngach ngoại thuơng đạt 111 tỷ đô la trong đó nhập
khẩu đạt 52, 5 tỷ đô la tăng 10, 5%.
- Năm 1999, kim ngach ngoại thuơng đạt 115, 4 tỷ đô la tăng 4, 6 lần so
với năm 1978. Xuất khẩu từ hàng thứ 34 trong buôn bán thế giới đã vựot lên
hàng thứ 15 vào năm 1990. Số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên
100 triệu đô la từ 18 loại tăng lên 83 loại. Tỷ trọng thành phẩm công nghiệp
xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ 46, 5% tăng lên 74, 5%.

Chính sách kinh tế mở cửa của Trung Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế trong nớc và đáp ứng đòi hỏi của thị trờng thế giới. Và đó cũng
chính là cái logic buộc Trung Quốc phải thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.
Trong những năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc có những cải tiến rõ rệt
trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Tỷ lệ hàng xuất khẩu hàng thành phẩm công
nghiệp tăng nhanh, nhất là những mặt hàng truyền thống nh: quần áo, giầy
dép, đò trải giờng, đồ chơi trẻ em, dụng cụ thể thao, hàng thủ công mỹ nghệ.
Trong đó hàng dệt và may mặc chiếm vị trí quan trọng nhất và chủ yếu là
xuất sang Mỹ, Nhật, tây Đức, Canada. Xuất khẩu dầu mỏ và than cũng tăng
nhanh: khoảng 80% mặt hàng này xuất sang Nhật và 20% xuất sang Mỹ.
Tỷ trọng thành phẩm công nghiệp trong tổng kim nghạch xuất khẩu từ 46,
5% năm 1978 tăng lên 74, 5% trong năm 1990.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để có thêm khả năng xuất khẩu những sản phẩm kỹ thuật cao. Trung
Quốc chủ trơng nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Từ hội nghị toàn
quốc bàn về nhập khẩu kỹ thuật họp vào 4- 1985 Trung Quốc đã nhập kỹ
thuật và công nghệ của trên 40 nớc, trong đó trên 70% là nhập từ Mỹ, Nhật,
Anh, Pháp, Đức.
đến nửa đầu năm 1991 Trung Quốc đã ký những hợp đồng nhập khẩu
kỹ thuật với tổng kim ngạch hơn 26, 4 tỷ đô la trong đó có một số hạng mục
kỹ thuật cao xuất khẩu sang Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức.
Hiện nay Trung Quốc đạng từng bớc thực hiện thay thế nhập khẩu một
số loại sản phẩm kỹ thuật cao, vốn lớn để chuẩn bị cho việc xuất khẩu trong
những năm tới những sản phẩm nh: máy công cụ chính xác điều khiển từ
xa, máy phát điện, ô tô con, sắt thép, hoá chất... Đồng thời phát triền những
nghành có kỹ thuật cao nh: điện tử, tin học, thông tin, quanh học, hàng
không, vũ trụ, sinh học công nghệ và siêu âm... tổ chức và phát huy tài năng
trong nớc, đồng thời tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nớc khác và tham
gia nghiên cứu với các nớc khác.

khoảng 70 tỷ đôla, chiếm 3, 6% tổng giá trị sản lợng công nghiệp toàn quốc.
Kim ngạch xuất khẩu của các xí nghiệp này đạt 7, 8 tỷ đôla, chiếm 12, 6%
tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc.
Số vốn đầu t trực tiếp của t bản nớc ngoài vào Trung Quốc trong mấy
năm qua dã vợt xa số đầu t trực tiếp vào các nớc Châu á khác. Sở dĩ nh vậy là
do nhiều nhân tố, trong đó chính sách mở cửa là nhân tố quan trọng nhất.
Việc Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế và thực hiện chính sách mở cửa
đã tạo hoàn cảnh đầu t cho các nớc và cho những t bản muốn đầu t vào Trung
Quốc. Các khoản đầu t và tiền vốn của nớc ngoài đã và đang có tác dụng
ngày càng quan trọng đối với công cuộc hiện đại hoá Trung Quốc. Nó bổ
xung cho tiền vốn đang thiếu của Trung Quốc, thúc dẩy cải tién kỹ thuật ở
các nhà máy cũ, nâng cao trình độ quản lí kinh doanh, trình độ kỹ thuật ở đó
làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới và góp phần làm
sống động nền kinh tế trong nớc.
Một trong những con đờng tiếp thu khoa học kỹ thuật là lợi dụng vốn
đầu t của nớc ngoài đa khoa học kỹ thuật và phơng pháp quản lí tiến tiến vào
trong nớc. Phạm vi tiếp thu kỹthuật rất rộng, đó không chỉ là kỹ thuật sản
xuất và chủ yếu là kỹ thuật sản xuất công nghiệp, mà còn bao gồm kỹ thuật
quản lí kinh doanh, lu thông vật t, tiết kiệm năng lọng và kỹ thuật phân tích
dự đoán tính hình thị trờng... Có thể đa kỹ thuật vào bằng con đờng gián tiếp
nh: giấy cho phép chuyển nhợng kỹ thuật, bàn bạc kỹ thuật... hoặc bằng
hình thức trực tiếp nh nhập khẩu kỹ thuật, làm gia công...
Trung Quốc sử vốn của nớc ngoài đã mở ra những triển vọng mới, đã
đem lại những hiệu quả đáng kể có lợi cho việc điều chỉnh kinh tế của Trung
Quốc: xây dựng trọng điểm năng lợng, giao thông và cải tiến kỹ thuật ở các
xí nghiệp hiện có, tiếp thu kinh nghiệm quản lí khoa học kỹ thuật tiên tiến
của nớc ngoài.
Nhng bên cạnh những kết quả lớn, việc thu hút vốn đầu t của nớc ngoài
còn đang gặp một số khó khăn. Trớc hết là chất lợng thu hút vốn đầu t cha
cao và trong những năm đầu còn tập trung vào những nghành nh du lịch, nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status