1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm loét giác mạc là một trong những bệnh phổ biến trong
bệnh về mắt, đặc biệt ở các nước có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, để lại
hậu quả rất nghiêm trọng gây mờ đục giác mạc, thị lực giảm có thể dẫn đến
mù lòa [1],[4].
Rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh viêm loét giác mạc như nấm, vi rút,
vi khuẩn, trong đó đặc biệt viêm loét giác mạc do vi khuẩn chiếm một tỷ lệ
khá cao: 42,11% [4]. Theo Hoàng Thị Phúc (1996) [15] bệnh viêm loét giác
mạc do vi khuẩn chiếm tỷ lệ 32,7% trong tổng số bệnh nhân điều trị tại khoa
kết - giác mạc bệnh viện mắt Trung Ương.
Viêm loét giác mạc do vi khuẩn thường diễn biến nhanh dẫn đến hậu
quả hết sức nặng nề. Trong nhiều năm gần đây các tác giả trong và ngoài
nước đã có những nghiên cứu về tác nhân gây bệnh, hình thái lâm sàng và kết
quả điều trị đối với viêm loét giác mạc do vi khuẩn. Việt Nam chúng ta viêm
loét giác mạc do vi khuẩn là bệnh khá nặng nề vì nhận thức của nhân dân còn
hạn chế. Đặc biệt ở các tuyến xã, huyện, tỉnh nơi điểm khởi đầu tiếp nhận
bệnh nhân thì việc điều trị chưa được triệt để, thậm chí dùng kháng sinh lạm
dụng và nguy hiểm hơn còn dùng cả corticoid. Do vậy nhiều bệnh nhân
chuyển lên tuyến trung ương có bệnh cảnh lâm sàng hết sức nặng nề phức tạp
như: áp xe, hoại tử toàn bộ giác mạc, có nguy cơ thủng giác mạc, làm giảm
hoặc mất chức năng thị giác. Việc sử dụng kháng sinh kịp thời dựa trên kết
quả chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm rất là cần thiết để loại trừ tác nhân gây
bệnh, bảo vệ tổ chức khỏi sự hủy hoại, tổn thương giác mạc ở mức thấp nhất.
Vấn đề điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn với việc sử dụng kháng
sinh mới phổ rộng chống lại cả vi khuẩn gram (-) và vi khuẩn gram (+) là cần
thiết để hạn chế đến mức thấp nhất biến chứng.
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu và cấu trúc mô học giác mạc.
Nhu mô
Hình 1.1. Sơ đồ các thành phần tổ chức học giác mạc bình thường[48]
Giác mạc chiếm 1/5 trước vỏ ngoài của nhãn cầu. Giác mạc là một
màng trong suốt gồm 5 lớp đi từ ngoài vào trong.
1.1.1. Biểu mô
Lớp này rất đều, có cấu trúc tiếp với kết mạc và dễ tách ra khỏi màng
Bowman ở dưới. Là một biểu mô lát tầng gồm có 4 tầng tế bào ở trẻ sơ sinh
và có 5 đến 7 tầng ở trẻ trên 4 tháng tuổi. Toàn bộ biểu mô dựa trên một màng
đáy mỏng. Biểu mô giác mạc có 3 lớp tế bào là: lớp tế bào nông, lớp tế bào
4
trung gian và lớp tế bào đáy. Lớp tế bào đáy là nơi diễn ra quá trình gián
phân. Khi diễn ra sự phân chia tế bào, các tế bào con chuyển về phía bề mặt
giác mạc và ngày càng trở nên khác biệt hơn. Cuối cùng các tế bào bề mặt
thoái hóa và bong ra khỏi bề mặt giác mạc.
1.1.2. Màng Bowman
Đây là một màng trong suốt, đồng nhất, có tính đàn hồi, không có tế
bào, dày 12µm. Mặt trước có giới hạn rõ rệt, mặt sau khó phân cách với lớp
nhu mô giác mạc. Khi bị tổn thương sẽ bị tế bào xơ xâm nhập làm cho giác
mạc mất tính trong suốt.
1.1.3. Nhu mô
Chiếm 9/10 chiều dày giác mạc. Các tổn thương loét giác mạc đến lớp
thương giác mạc trước đó. Các nguyên nhân có thể là biến chứng của bệnh
mắt hột (lông xiêu, lông quặm), khô mắt do thiếu Vitamin A, chấn thương
trong nông nghiệp, công nghiệp, tổn thương thần kinh (liệt thần kinh VII gây
nhắm mắt không kín)
Viêm loét giác mạc do vi khuẩn thường do liên cầu, tụ cầu vàng, tụ cầu
epidermidis, phế cầu, trực khuẩn mủ xanh, mycobacteria. Trên thế giới các
loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: Tụ cầu vàng, tụ cầu epidermidis, phế
cầu và các liên cầu khác, trực khuẩn mủ xanh, Enterobacteria. Tác nhân hiếm
gặp: Neisseria, Moraxella, Mycobacteria, Nicardia, vi khuẩn hiếm khi không
sinh bào tử [4], [5], [6], [7], [8].
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Hiền (1957 - 1977) [3] các loại vi khuẩn tìm
thấy trong bệnh loét giác mạc là tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn mủ xanh,
moraxella, một số vi khuẩn khác... Gần đây, khi phân lập các tác nhân gây
loét giác mạc (1991 - 1996), Lê Hồng Nga và cộng sự đã đưa ra kết quả là
6
trong tổng số 5771 bệnh phẩm của bệnh nhân được nuôi cấy thì có 2255 mẫu
(39,08%) có vi khuẩn hoặc nấm mọc. Đặc biệt trong đó có 1060 mẫu vi khuẩn
gây bệnh (18,37%), trực khuẩn mủ xanh chiếm 13,05% (91 mẫu),... [12]
Khi nghiên cứu tình hình điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn tại
Bệnh viện Mắt trung ương năm 1996, Hoàng Thị Phúc và cộng sự đã chỉ ra vi
khuẩn chính gây loét giác mạc là (dựa vào kết quả soi tươi và soi trực tiếp
trong số 351 mắt loét giác mạc do vi khuẩn) (có những trường hợp nhiễm cả
Gram (+) và Gram (-) [15]:
- Vi khuẩn Gram (+): 285 mawts (91,2%)
- Vi khuẩn Gram (-) : 170 mắt (48,4%)
Các loại vi khuẩn này gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây loét giác mạc với
đặc điểm lâm sàng của mỗi loại.
Năm 1997, các tác giả nghiên cứu tình hình viêm loét giác mạc tại tỉnh
Trực khuẩn mủ xanh sinh ra các men ngoài tế bào ngoài tế bào gồm
elastase, Proteinase, 2 enzym tan máu là phospholipase C không bền vững với
nhiệt và glycolipase bền vững với nhiệt, men tiêu collagen gọi là collagenase.
Trực khuẩn mủ xanh tạo ra độc tố exotoxin A gây hoại tử mô và gây chết súc vật.
Trực khuẩn mủ xanh sống ký sinh trong túi kết mạc nhưng không làm
ảnh hưởng đến tổ chức giác mạc còn nguyên vẹn.
Khi bề mặt biểu mô của giác mạc bị tổn thương, trực khuẩn mủ xanh
xâm nhập biểu mô gây tổn thương bằng những sợi lông ở bề mặt của vi
khuẩn, các enzym và độc tố gây viêm giác mạc, hoại tử giác mạc, áp xe giác
mạc, ổ loét thường bắt đầu ở một khu vực trung tâm, kích thước nhỏ và lan ra
một cách nhanh chóng, nếu không được điều trị kịp thời thường gây ra thủng
giác mạc và mất nhãn cầu trong vòng 48h.
8
Nhiễm khuẩn do trực khuẩn mủ xanh hết sức nghiêm trọng, phá hủy tổ
chức giác mạc và gây biến chứng nặng nề, do đó khi đã phất hiện nhiễm khuẩn
do trực khuẩn mủ xanh phải điều trị sớm và tích cực [2], [10], [11], [12].
1.2.3.2. Tụ cầu (Staphylococcus)
Tụ cầu là một trong những vi khuẩn đứng hàng đầu gây nên những
nhiễm khuẩn ở mắt. Tụ cầu có nhiều loại, thường gặp là tụ cầu vàng
(Staphylococcus aureus) và tụ cầu kí sinh ở trên da, niêm mạc không gây
bệnh gọi là tụ cầu da Staphylococcus Epidermidis), nhưng khi gặp điều kiện
thuận lợi có thể trở thành tụ cầu gây bệnh. Tụ cầu là những cầu khuẩn Gr(+),
đường kính 1µm, thường sắp xếp thành từng đám như chùm nho, chúng
không di động, không sinh nha bào và thường không có vỏ [13]. Khuẩn lạc có
mầu vàng da cam, vàng sẫm hay mầu trắng. Tụ cầu phát triển tốt trong các
môi trường nuôi cấy thông thường. Các ngoại độc tố của tụ cầu là exotoxin
gây hoại tử tổ chức, leucoeidin gây phá hủy bạch cầu, exfoliativetoxin làm
khô bong vẩy da. Các enzym của tụ cầu gồm: Catalase gây phá hủy nước ôxy,
1.2.3.4. Quá trình nhiễm khuẩn:
Trong cơ thể người và động vật có một lượng lớn các loại vi khuẩn mà
bình thường không gây bệnh cho vật chủ. Sự cân bằng giữa vi khuẩn và vật
chủ đảm bảo cho sự sống sót và phát triển của vật chủ và vi khuẩn.
Quá trình nhiễm khuẩn xảy ra khi cơ thể vật chủ bị tổn thương và giảm
sức đề kháng, khi đó vi khuẩn sẽ tấn công hoặc kết dính với tế bào vật chủ,
thông thường là tế bào biểu mô. Sau khi đã tạo được sơ nhiễm ban đầu vi khuẩn
sẽ lan rộng trực tiếp vào tổ chức hoặc theo đường hệ thống bạch huyết đến mạch
máu. Quá trình nhiễm khuẩn này có thể mất đi hoặc phát triển mạnh lên. Dòng
máu mang vi khuẩn cho phép chúng đi khắp nơi trong cơ thể và xâm nhập vào
các tổ chức đặc biệt thích hợp với sự sinh sản và phát triển của chúng [15].
10
1.2.4. Điều kiện thuận lợi và yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ thường gặp viêm loét giác mạc do vi khuẩn đó là
chấn thương nông nghiệp, công nghiệp, dị vật giác mạc, các phương pháp
điều trị phản khoa học, các biến chứng của bệnh mắt hột: lông quặm, lông
xiêu. Viêm loét giác mạc nói chung và do vi khuẩn nói riêng có thể phát triển
trên những người thường xuyên đeo kính tiếp xúc. Người ta ước tính tỷ lệ
viêm loét giác mạc do vi khuẩn ở người đeo kính tiếp xúc là 0,21%. Tỷ lệ này
tăng gấp 10 lần ở người đeo kính tiếp xúc qua đêm [16],[17], [20].
Các biến đổi cấu trúc, dị dạng mi mắt bẩm sinh hoặc mắc phải, viêm lệ
đạo cũng có thể gây loét giác mạc. Viêm loét giác mạc còn liên quan đến
bệnh toàn thân (bệnh basedow...), bệnh thần kinh (liệt dây TK VII..).
1.2.5. Triệu chứng lâm sàng
1.2.5.1. Triệu chứng cơ năng.
Bệnh nhân sau khi bị nhiễm bệnh thường có cảm giác chói, cộm, đau
nhức mắt, chảy nước mắt, nhìn mờ hoặc mất hẳn thị lực. Toàn thân có thể sốt
nhẹ, kém ăn, kém ngủ.
mống mắt, diện đồng tử.
Độ II: Nhìn không rõ các chi dày giác mạc,
tiết mống mắt, diện đồng tử. không có nguy
Độ III. Không nhìn được các
Nặng
> 6mm
giác mạc
Từ 1/3 - 2/3 bê
chi tiết mống mắt, diện đồng
tử
cơ dọa thủng.
> 2/3 bê dày
giác
mạc,
có
nguy
cơ
dọa
thương biểu mô có đường kính 6µm được liền sẹo lại trong vòng 48h và tốc
độ di chuyển của tế bào biểu mô khoảng từ 60 - 80 µm/giờ. Trong quá trình
liền sẹo của giác mạc, nối tiếp với sự liền vết thương một quy trình chuyển
đổi khác nhau của sinh hóa và hình thái học diễn ra cùng với việc mất đi của
các tế bào có chân và thành lập biểu mô giác mạc [22], [48], [57].
Sơ đồ giả thiết sự toàn vẹn của biểu mô giác mạc
X+Y=Z
X = Tế bào đáy mới được tạo ra
Y = Các tế bào di chuyển hướng tâm của vùng rìa
z = Các tế bào bề mặt bong ra
1.2.6.2. Quá trình liền tổn thương nhu mô:
Quá trình liền vết thương nhu mô liên quan tới sự phục hồi và trao đổi
chéo của các sợi collagen. Sự thay đổi trong quá trình tổng hợp glucoprotein
dẫn đến sự liền vết thương xảy ra một cách từ từ và đưa đến sự duy trì tính dai
bền của sợi collagen. Ở vết thương thủng giác mạc trong vòng các tế bào bạch
cầu hạt xuất hiện quanh các tế bào tổn thương, theo sau là các bạch cầu đơn
13
nhân. Các tế bào giác mạc cạnh tổn thương trải qua một quá tình trao đổi dẫn
đến sự tích tụ các tế bào sợi. Các tế bào nhu mô giác mạc tạo ra các hợp bào
và các đám tế bào này bắt đầu mất đi liên kết bên trong và đi đến những biến
đổi hình thái. Một vài tế bào khác phình to ra, tăng nhanh số lượng và nối lại
những liên kết hổng. Các sợi collgen mới được tạo ra có thể cài vào các sợi
collgen cũ ở sẹo giác mạc [15], [22].
Người ta thấy rằng trong phẫu thuật các đường rạch giác mạc ở xa vùng
rìa không có mạch máu liền chậm hơn các đường rạch ở vùng rìa hoặc ở giác
mạc viêm mạn tính có tân mạch. Sử dụng corticoid mạnh tại chỗ sau phẫu
thuật có thẻ làm trì hoãn sự liền sẹo sớm của tổn thương giác mạc.
Trong ổ loét giác mạc do vi khuẩn xảy ra sự kết dính, xâm nhập và sinh
vi khuẩn nhưng nó cũng làm ảnh hưởng đến cấu trúc của biểu mô và nội mô
giác mạc khi sử dụng. Chất bảo quản gây phá vỡ liên kết các tế bào bề mặt và
làm bong ra lớp tế bào ngoài cùng, nếu kéo dài sử dụng có thể làm bong ra
lớp tiếp theo làm ảnh hưởng tới lớp tế bào trung gian của biểu mô giác mạc.
Benzalkonium chlorid thậm chí còn gây cản trở quá trình liền sẹo của biểu mô
giác mạc ở một số bệnh nhân, đặc biệt những người bị khô mắt không nên
dùng thuốc có chất bảo quản. Các chất bảo quản làm thoái hóa tế bào nội mô
và phù giác mạc nên không dùng trực tiếp đưa vào tiền phòng của mắt [26].
1.3. Điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn
1.3.1. Trên thế giới
Các phương pháp chuẩn đoán sớm và sử dụng kháng sinh trong điều trị
viêm loét giác mạc đã được giới thiệu. Các thuốc kháng sinh nhỏ mắt tại chỗ
có nồng độ tập trung cao đã được sử dụng.
Tình trạng nhiễm khuẩn gây chậm quá trình biểu mô hóa giác mạc. Nếu
15
quá trình tái tạo biểu mô không diễn ra sẽ ảnh hưởng đến thị lực. Giảm thị lực có
thể phòng được nếu xác định sớm nguyên nhân và điều tri kháng sinh phù hợp.
Do vi khuẩn Gr(-) và Gr(+) có thể gây nên tình trạng viêm nhiễm giác mạc nặng
nề nên bệnh nhân cần được điều trị bằng một loại kháng sinh phổ rộng.
Trước đây, thầy thuốc thường chỉ định điều trị một loại kháng sinh
chống vi khuẩn Gr(+) phối hợp với một loại khác diệt vi khuẩn Gr(-). Công
thức điều trị chuẩn thường có sự kết hợp giữa: cephalosporin (cephazolin) và
aminoglycosid (gentamycin hoặc tobramycin) [12]. Tuy nhiên, các tác giả có
nhận định rằng sự kết hợp này không đủ để diệt vi khuẩn trên giác mạc; và để
diệt được vi khuẩn trên giác mạc, cần những loại thuốc có phổ tác dụng rộng
hơn và có nồng độ cao hơn. Vì vậy, các tác giả đã kết hợp một nhóm
cephalosporin với một nhóm aminoglycoside mạnh [33].
Tuy nhiên công thức điều trị chuẩn còn có nhiều hạn chế. Việc tính
Gần đây, trên thế giới một số tác giả đã nghiên cứu trên lâm sàng và thực
nghiệm điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn bằng kháng sinh nhóm Quinolon
và cho thấy kết quả rất khả quan. Theo Leibowitz tỷ lệ thành công khi dùng
kháng sinh nhóm này điều trị các viêm loét giác mạc do vi khuẩn là 91,9%[35].
Nhóm kháng sinh Fluoroquinolon với phổ tác dụng rộng cả trên vi
khuẩn gram (+) và gram (-), ít tai biến khi sử dụng đã được sử dụng để điều
trị các bệnh nhiễm trùng. Besivance (bésifloxacin ophthalmic suspension,
0.6%) là một kháng sinh thuộc nhóm fluorquinolon thế hệ IV với khả năng
diệt khuẩn mạnh đã được các tác giả trên thế giới sử dụng vào điều trị các
bệnh nhiễm trùng ở mắt và cho kết quả khả quan [28].
Katz và cộng sự [37] nghiên cứu điều tri cho 544 bệnh nhân trên 1
tháng tuổi bị viêm kết mạc do vi khuẩn: bệnh nhân được chia thành hai nhóm:
một nhóm được tra (bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%), một nhóm
dùng Placebo hàng ngày với liều 3 lần/ngày. Đánh giá kết quả sau 9 ngày điều
17
trị: trong nhóm được điều trị bằng (bésifloxacin ophthalmic suspension,
0.6%), kết quả tốt đạt 82,0% so với 67% của nhóm dùng Placebo. Đặc biệt
ở nhóm được điều trị bằng (bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%) thì
kết quả tốt được biểu hiện rất rõ ở ngày điều trị thứ 3. Theo tác giả,
(bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%) có tác dụng diệt tụ cầu trắng,
phế cầu, tụ cầu vàng cũng như những chủng kháng Quinolon các thế hệ
trước đó. Những ghi nhận về tính an toàn của (bésifloxacin ophthalmic
suspension, 0.6%) chỉ ra rằng thuốc được chấp nhận sử dụng 3 lần/ngày
ữong 4 ngày cho những đối tượng trên 1 tuổi.
Kowalski và cộng sự [38] đã nghiên cứu trên thực nghiệm gây viêm nội
nhãn cho 20 mắt của 20 con thỏ bằng cách tiêm vào tiền phòng 0.025ml canh
thang chứa khoảng 5 x 104 chủng phân lập tụ cầu vàng gây viêm nội nhãn.
Trước khi gây bệnh 10 mắt được tra (bésifloxacin ophthalmic suspension,
Điều trị nội khoa: Điều trị bằng thuốc các viêm loét giác mạc do vi
khuẩn là biện pháp tích cực để loại bỏ tác nhân gây bệnh:
+ Cù Nhân Nại và Phan Khiết [11] đã sử dụng là diếp cá trong điều trị 37
bệnh nhân loét giác mạc do trực khuẩn mủ xanh đạt tỷ lệ thành công là 74,4%.
+ Trần Thuấn Điền (1976) đã điều trị loét giác mạc do trục khuẩn mủ
xanh cho 8 bệnh nhân bằng Gentamycin đạt tỷ lệ thành công là 75% [2].
+ Đinh Thị Khánh (1986) đã sử dụng Dekamycin trong điều trị loét
giác mạc do trực khuẩn mủ xanh cho 13 bệnh nhân, 10 bệnh nhân khỏi bệnh
chiếm tỷ lệ 76,9% [8].
+ Trần Tất Thắng (1999) điều trị kháng sinh nhóm Fluoroquinolon thế hệ
II cho 124 bệnh nhân, kết quả khỏi bệnh là 106 trường hợp chiếm 85% [18].
+ Hoàng Thị Phúc [15], Nguyễn Văn Vui, (1999) [19] điều trị viêm loét
giác mạc do trực khuẩn mủ xanh bằng tiêm gentamycin + Okacin tra mắt và
19
uống L.Cystin cho 58 bệnh nhân, 40 bệnh nhân đạt kết quả tốt chiếm tỷ lệ
69%, 16 trường hợp đạt kết quả vừa (27,6%), kết quả xấu 2 trường hợp
(3,4%). Tỷ lệ khỏi là 96,6%.
Điều trị phẫu thuật:
Trong trường hợp bệnh nhân viêm loét giác mạc do vi khuẩn không đáp
ứng với điều trị thuốc (ổ loét giác mạc nặng hơn, có nguy cơ thủng giác
mạc...) thì các tác giả đã sử dụng một số phương pháp phẫu thuật.
Phan Dần (1963): Ghép niêm mạc môi điều trị loét giác mạc do vi
khuẩn cho 35 bệnh nhân, kết quả tốt: 18 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 51,4% bệnh
nhân, loét kéo dài trên 20 ngày là 17 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 48,6% [1].
Nguyễn Trọng Nhân (1965 - 1975) ghép giác mạc điều trị cho 32 bệnh
nhân, thì có 12/32 bệnh nhân đạt kết quả tốt với tỷ lệ là 37,8% [10].
Hoàng Thị Minh Châu và cộng sự đã ghép giác mạc xuyên cho những bệnh
nhân viêm loét giác mạc nặng. Theo dõi sau khi ra viện trong số 90 mắt được
vi khuẩn gram (+) trong khi vẫn duy trì hiệu quả chống lại vi khuẩn gram (-)
và vi khuẩn không điển hình [46].
Có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng dung dịch nhỏ mắt Besivance
(bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%) có hiệu quả cao chống lại nhiều
loại vi khuẩn, có độ an toàn cao và độ dung nạp tốt.
Những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cung cấp
thêm bằng chứng về hiệu quả của Besivance (bésifloxacin ophthalmic
suspension, 0.6%) trong điều trị dự phòng trước phẫu thuật và điều trị nhiễm
trùng gây đe dọa thị lực như: viêm loét giác mạc, viêm nội nhãn,...
Besivance (bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%) là dung dịch
nhỏ mắt vô trùng, là Fluoroquinolon 8-chloride được sử dụng để điều trị trong
nhãn khoa.
Công thức hóa học:
21
- Thành phần:
22
+ Hóa chất: Besivance (bésifloxacin ophthalmic suspension, 0.6%)
+ Tá dược: chứa DutaSite® - là hệ thống phân phối thuốc độc đáo của
Besivance
- Là chất polymer liên kết chéo. Bao gồm: Polycarbophil, sodium
chloride, disodium edetate, sodium hydroxide và nước.
- Làm tăng tác dụng của thuốc trên bề mặt giác mạc.
- Giảm thiểu mất thuốc ra ngoài do chớp mắt.
- Kéo dài thời gian tác dụng của thuốc.
Thuốc cũng có thể chứa Axit clohiđric/Natri hiđroxit để điều chỉnh PH
MICs với vi khuẩn s. aureus. Tác dụng diệt vi khuẩn của Besivance là do ức
chế men topoi - somerase II (DNA gyrase) và topoi - seomerase IV.DNA
gyrase là enzym cần thiết cho sự tái tạo sao chép và sửa chữa DNA của vi
khuẩn. Topoi - somerase IV là enzym giữ vai trò chủ yếu trong sự phân chia
của DNA trong sự phân chia tế bào vi khuẩn [57].
Besivance có hiệu quả chống lại nhiều chủng vi sinh vật cả trên nghiên
cứu trong ống nghiệm và trên lâm sàng: Vi khuẩn gram (+) ưa khí, vi khuẩn
gram (-) ưa khí, vi khuẩn kỵ khí.
Cơ chế tác dụng của Besivance khác với nhóm Macrolid
Aminoglycosid hay tetracyclin. Do đó Besivance có thể có hiệu quả với các
tác nhân gây bệnh đã kháng với những kháng sinh này.
Không có sự đề kháng chéo giữa bésifloxacin ophthalmic suspension và
các kháng sinh trên. Tuy nhiên, người ta lại thấy có sự đề kháng chéo khi dùng
Besivance đường toàn thân với một vài kháng sinh nhóm Quinolon khác.
Sự đề kháng của Besivance trên nghiên cứu trong thực nghiệm phát
triển qua sự biến đổi nhiều bước. Sự đề kháng của Besivance xảy ra trong ống
nghiệm có tần suất khoảng l,8xl0 -9 → 1.10-11 đối với trực khuẩn gram (+).
24
Besivance có hiệu quả chống lại nhiều chủng vi sinh vật cả trên nghiên cứu
trong ống nghiệm và trên lâm sàng vi khuẩn gram (+) ưa khí, vi khuẩn gram
(-) ưa khí, vi khuẩn kỵ khí [59].
Theo tác giả Callegan M.c, Ramier, kháng sinh nhỏ mắt lý tưởng phải có
phổ tác dụng rộng đối với vi khuẩn không điển hình, những tác nhân gây bệnh
này có khả năng gây nên những bệnh nhiễm trùng nguy hiểm tại mắt như: viêm
loét giác mạc, viêm nội nhãn và có thể xảy ra sau phẫu thuật và chấn thương.
Những nhiễm trùng này đòi hỏi phải điều trị kháng sinh chống vi khuẩn liều
tấn công. (Đặc biệt bằng những kháng sinh chống vi khuẩn liều tấn công), đặc
biệt bằng những kháng sinh thế hệ mới. Trong nghiên cứu các tác giả đã xác
người sau khi dùng tại chỗ là không đáng kể [50].