TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TlÉu HỌC
= = = s o lũ 3 o 3 = = =
ĐỎ THỊ THÚY HẰNG
TÌM HIỂU HÀNH ĐỘNG MÔ HÌNH HÓA CỦA
HỌC SINH LỚP 4 QUA MÔN TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
C huyên ngành: Tâm lí học
N gưòi hưÓTig dẫn khoa học
T hS. LÊ X U Â N T IẾ N
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô
trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình thực hiện khóa luận. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo Ths. Lê Xuân Tiến - giảng viên tổ Tâm lí - Giáo dục đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong qua trình nghiên cún và thực hiện đề tài.
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Th.S: Thạc sĩ
NXB: Nhà xuất bản
ĐHSP: Đại học sư phạm
[a, b]: Tài liệu tham khảo số a, trang b
HS: Học sinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................. 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứ u........................................................2
4. Giả thuyết khoa h ọ c .................................................................................. 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cún..........................................................................3
7. Phạm vi nghiên cứu................................................................................... 4
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tà i................................................ 4
9. Cấu trúc khóa lu ận ................................................................................... 4
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cún có liên quan đến đề tài khóa
luận..................................................................................................................5
1.2. Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài....................................... 6
1.2.1. Khái niệm hoạt động và hành động trong lí thuyết hoạt động.........6
1.2.2. Khái niệm hoạt động học và hành động học trong lí thuyết hoạt
động học......................................................................................................... 8
1.2.3. Hành động mô hình hóa trong cấu trúc của hoạt động h ọ c ............11
Chương 2:
THựC TRẠNG HÀNH
rộng rãi trong đời sống hằng ngày.Vì thế việc dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
làm cho học sinh nắm được kiến thức một cách phổ thông, cơ bản và nắm trắc
kiến thức và vận dụng kiến thức vào đế giải rất nhiều nhũng phân môn như
Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Ke chuyện...Và mỗi phân môn có những
nội dung và rèn các kĩ năng khác nhau cho học sinh.Trong việc học, làm các
bài tập Tiếng Việt học sinh tư duy một cách tích cực, linh hoạt, huy động các
kiến thức và các kĩ năng này vào các tình huống khác nhau và trong những
trường hợp học sinh phải suy nghĩ phân tích, sáng tạo. Vì vậy bộ môn Tiếng
Việt là bộ môn rất quan trọng.
Việc sử dụng mô hình trong học môn Tiếng Việt được học sinh tích lũy
thông qua hoạt động thực hành thông qua làm bài tập. Qua đó học sinh có
được những hiếu biết cần thiết. Những kiến thức về kĩ năng sử dụng mô hình
được thu lượm như vậy qua con đường thực nghiệm lại rất cần thiết trong
cuộc sống, rất hũu ích cho việc thực tập các tuyến kiến thức trong môn Tiếng
Việt: Luyện từ và câu, Ke chuyện, Tập làm văn, Tập đọc, Chính tả cũng như
việc học các môn khác như: Toán, Mỹ thuật, Tự nhiên - xã hội, Khoa học,
Lịch sử ...
Sử dụng mô hình giúp cho học sinh phát triển nhũng năng lực trí tuệ, rèn
luyện được những đức tính phẩm chất tốt: Chính xác, khéo léo, chăm chỉ, làm
việc có kế hoạch .. .Nhờ đó mà học sinh dễ dàng học được bộ môn Tiếng Việt
và việc học này nâng cao môn Tiếng Việt
Tuy nhiên trên thực tế, ở nhà trường tiểu học việc sử dụng mô hình trong
học Tiếng Việt còn rất hạn chế trong khi học sinh rất say mê với những hình
1
vẽ trực quan thì phần lớn học sinh chưa biết sử dụng các phương pháp để học
Tiếng Việt.
Như vậy chúng ta đang đứng trước mẫu thuẫn giữa một bên là tầm quan
sinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và nắm vững các khái niệm: Hoạt động, hành động, thao tác
trong cấu trúc của hoạt động. Hoạt động học và hành động mô hình hóa trong
cấu tróc hoạt động học. Tìm hiểu phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu
học có liên quan đến đề tài khóa luận.
6.2. Phương pháp quan sát
Dự giờ để quan sát những biểu hiện của học sinh trong quá trình thực
hiện hành động mô hình hóa qua tiết học bài mới và tiết luyện tập.
6.3. Phương pháp thực nghiệm phát hiện
Xây dựng các bài tập để đo trình độ thực hiện hành động mô hình hóa
của học sinh qua tiết học bài mới và tiết thực hành, luyện tập.
6.4. Phương pháp phân thích sản phấm của hoạt động
Phân tích các sản phẩm của học sinh: Vở bài tập, bài kiểm tra để đánh
giá hành động mô hình hóa của học sinh.
6.5. Phương pháp xử lí số liệu
Dùng toán thống kê để xử lí số liệu, phân tích, tổng hợp để khái quát rút
ra kết luận.
3
7. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn, đề tài này chỉ nghiên cứu hành động mô hình hóa
trong việc dạy học môn Tiếng Việt lóp 4 ở trường Tiểu Học Thị Trấn A Đông
A n h -H à Nội.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đe tài này góp phần tìm hiếu thực trạng của hành động mô hình của học
sinh trong môn Tiếng Việt lớp 4 và đưa ra các giải pháp giúp học sinh lập, sử
giai đoạn thứ 2, học sinh có thể lĩnh hội tri thức dựa vào ngôn ngữ, mô hình,
sơ đồ mà giáo viên hoặc tài liệu học tập mang lại” [5,79].
Nghiên CÚ01 kĩ năng sử dụng mô hình trong giải bài tập toán có lời văn
cửa học sinh lóp 3, Nguyễn Thị Mùi (1996) đã kết luận: Chất lượng giải các
bài tập toán có lời văn, đặc biệt những bài toán cần có sự hỗ trợ của mô hình,
còn nhiều hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó
nguyên nhân quan trọng là do các em chưa có kĩ năng sử dụng mô hình trong
giải toán có lời văn.
Đánh giá về vai trò của mô hình, Bùi Văn Huệ nhận xét: “Mô hình là sản
phẩm của tư duy phân tích, đồng thời chính nó lại là phương tiện của tư duy một kiểu tư duy khoa học được hình thành ở trẻ em nhò' có hoạt động học”
[3,199].
5
Nghiên cứu các kĩ năng trong dạy Tiếng Việt, Lê Phương Nga và các tác
giả khác đã chỉ sự mã hóa và giải mã trong môn Tiếng Việt có liên quan đến
sự mã hóa và giải mã nói chung.
Điểm qua các công trình nghiên cứu, cung cấp cho chúng tôi cơ sở lý
luận và thực tiễn về hành động mô hình hóa của học sinh cuối bậc Tiểu học.
Tuy nhiên vấn đề nghiên cún: Hành động mô hình hóa của học sinh lóp 4 qua
môn Tiếng Việt chưa ai nghiên cứu.
1.2. Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
1.2.1. Khái niệm hoạt động và hành động trong lí thuyết hoạt động
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động
Theo lí thuyết hoạt động, cuộc sống con người là một dòng các hoạt
động, con người là chủ thế của các hoạt động thay thế nhau. “Hoạt động là
quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tụ’
nhiên, xã hội, người khác và bản thân. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực
lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực
phải chiếm lĩnh. Khái niệm mục đích quan hệ với hành động cũng giống như
khái niệm động cơ quan hệ với hoạt động.
Mục đích là đối tượng mà chủ thể cần chiếm lĩnh nó chứa đựng nội dung
tâm lí và kĩ thuật hình thành, vì vậy nó có khả năng tồn tại độc lập, tìm tòi
trong mối quan hệ với hoạt động, dẫn đến hành động có tính độc lập và tính
xác định cao. Trong tình huống độc lập, hành động thực hiện nhằm giải quyết
hai câu hỏi: Đạt được cái gì? Và đạt được cái đó bằng cách nào, như thế nào?
Đe thể hiện một hành động nào, đó ít nhất phải thỏa mãn hai điều kiện.
Một mặt về phía chủ thể, phải ý thức được biểu tượng về đối tượng cần hình
thành, tức là phải trả lời được câu hỏi: Đạt tới, cái gì? Mặt khác, về phía
khách quan, hành động bị chi phối bởi hai yếu tố: Những hoàn cảnh vật chất
bên ngoài và lôgic kĩ thuật để hình thành đối tượng, tức là phải trả lời được
7
câu hỏi: Đạt tới cái đó như thế nào? Nói cách khác, hành động phải thực hiện
nhiệm vụ. Muốn vậy, phải có phương thức hành động, A.N.Lêônchiev gọi nó
là thao tác.
1.2.2. Khái niệm hoạt động học và hành động học trong tí thuyết hoạt
động học
1.2.2.1. Khái niệm hoạt động học
Hoạt động nói chung và hoạt động học nói riêng từ lâu đã trở thành đối
tượng nghiên cún quan trong của khoa học Tâm lí.
Theo Đ.B.Encônhin: “Hoạt động học tập, trước hết là hoạt động nhờ đó
diễn ra sự thay đổi trong bản thân học sinh. Đó là hoạt động nhằm tự biến đổi
mà sản phẩm của nó là những biến đổi diễn ra ở chính bản thân chủ thể trong
quá trình thực hiện nó” [3,188].
Trong xã hội hiên đại, con người không chỉ học trong sách vở mà còn
học trong cuộc sống, học qua phương tiện truyền thông...theo Nguyễn Quang
hành động học phải thỏa mãn các điều kiện sau: Tính chất tuyến tính (các
thao tác được sắp xếp theo thời gian); tính chất hữu hạn (số lượng các thoa tác
không thừa không thiếu); tính chất hiệu quả (sau khi kết thúc các thao tác phải
tạo ra được ra sản phẩm thảo nãm được các tiêu chí đã định trước).
+ Hành động học tập có 3 hình thức: Một khái niệm, với tư cách là sản
phẩm tâm lí có 3 hình thức tồn tại cơ bản:
- Hình thức vật chất, ở đây khái niệm được khách quan hóa,trú ngụ trên
các vật chất hay vật thay thế.
- Hình thức mã hóa, trong trường họp này, lôgiccủa khái niệm chuyển
vào trú ngụ ở một vật liệu khác (kí hiệu, mô hình, lời nói...)
- Hình thức tinh thần, ở trong đầu (trong tâm lí) cá thế.
+ Tương ứng với 3 hình thức tồn tại của khái niệm (sản phẩm, giáo dục)
là 3 hình thức của hành động học:
9
- Hình thức hành động vật chất trên vật thật (hoặc vật thay thế). Ở đây
chủ thể dùng những thao tác tay chân để lắp, chuyển dời, sắp xếp.. .đối tượng.
Chính thông qua hành động này làm cho lôgic của khái niệm vốn trú ngụ trên
vật thật (hay vật thay thế) được bộc lộ ra ngoài. Đối với trẻ nhỏ ở những lớp
đầu Tiểu học, hành động này là bắt buộc, là điểm xuất phát cho những quá
trình diễn ra sau này.
- Hình thức hành động với lời nói và cách hình thức “mã hóa” khác
tương ứng với đối tượng. Mục đích của hành động này là dùng lời nói cũng
như các hình thức mã hóa khác để chuyển lôgic của khái niệm đã phát hiện ở
hành động vật chất vào trong tâm lí chủ thể hành động.
- Hình thức hành động tinh thần (hành động trí óc). Đến đây lôgic của
khái niệm đã được chuyển hắn vào trong (tâm lí) và khái niệm có được hình
thức chính cống của mình.
Phan Trọng Ngọ đã định nghĩa mô hình: “Mô hình là một hệ thống được
hình dung trong óc hoặc được thể hiện bằng vật chất, phản ánh hay tái tạo lại
đối tượng nghiên cứu nên có khả năng thay thế đối tượng đó, khiến cho việc
tìm hiểu nó sẽ cung cấp cho người học những thông tin mới về đối tượng mà
nó thay thế” [6,347].
Nói cách khác, một vật A là mô hình của vật B, khi vật A thay thế cho
vật B, mà khi tìm hiểu A ta có thể thu được từ nó những thông tin chân thực
về B.
Xét khái quát, mọi mô hình đều có đặc trung chung:
-
Mô hình là vật thay thế cho đối tượng nghiên cún .
Trong quá trình nghiên cứu đối tượng, vì một lí do nào đó (sự hạn chế
không gian, thời gian, điều kiện thực nghiệm không cho phép...) người ta
không trực tiếp nắm bắt đối tượng buộc con người phải tạo ra vật thay thế đế
từ đó có thể nhận thức được các dấu hiệu bản chất của đối tượng cần chiếm
lĩnh.
11
Như vậy, mô hình bao giờ cũng phản ánh các dấu hiệu, các quan hệ có
tính phổ biến, quy luật của sự vật mà nó thay thế.
-
Mô hình có tính cụ thể, trục quan.
Nếu đối tượng nhận thức là một cái gì đó trừu tượng, dấu hiệu bản chất
của nó bị che lấp bởi nhiều yếu tố cản trở thì ngược lại mô hình bao giờ cũng
một mục đích nào đó của việc nghiên cún đối tượng nhưng lại sử dụng một
vật liệu khác làm vật thay thế để nghiên cứu đối tượng đó. Vì vậy, nếu xem
mô hình hóa là hành động xây dựng một phiên bản của đối tượng, cần xem
xét ở hai khía cạnh:
- Quá trình xây dựng mô hình.
- Các vật liệu được sử dụng để xây dựng mô hình.
Ta có thể hiểu hành động mô hình hóa là quá trình học sinh xác lập mối
quan hệ giữa đối tượng với mô hình của nó bằng phép tương ứng và thông
qua mô hình, học sinh nghiên cún gián tiếp đối tượng.
Hành động mô hình hóa có hai việc làm: Lập mô hình và hành động trên
mô hình.
+ Lập mô hình: Là quá trình học sinh ghi lại kết quả và quy trình của
hành động phân tích dưới dạng mô hình.
+ Hành động trên mô hình hay còn gọi là sử dụng mô hình: Là hành
động vật chất nhưng được rút gọn rất nhiều so với hành động vật chất với vật
thật. Học sinh sử dụng mô hình để tiếp thu khái niệm mới hoặc để cụ thể hóa
khái niệm.
1.2.3.3. Các loại mô hình
Có hai cách phân loại phổ biến và có nhiều ứng dụng vào trong dạy học:
Phân loại theo hình thức biểu hiện và phân loại theo chức năng nhận thức của
mô hình.
* Phân loại theo hình thức biêu hiện:
13
Mô hình gần giống với vật thật: Ảnh chụp, tượng nặn, quả cầu... Loại
mô hình này có tính trực quan rất cao (rất phù hợp với tầm hiểu biết còn hạn
chế của học sinh tiếu học).
Mô hình biếu trưng: Loại mô hình này đã mang tính khái quát, tuy nhiên
đối tượng của nó, ta thấy có sự giảm dần mức độ trực quan và tăng dần mức
độ trừu tượng giữa các loại mô hình.Việc hiểu các mức độ biểu hiện trục quan
của mô hình có ý nghĩa quan trọng trong dạy học. Nó là cơ sở khoa học đế
giáo viên tổ chức cho học sinh sử dụng các loại mô hình cho phù họp với lứa
tuổi, và với các giai đoạn của quá trình thành một tri thức khoa học nhất định.
Theo Phan Trọng Ngọ: “Khi hình thành tri thức khoa học cho học sinh cần
tuân theo lôgic: Mô hình giống vật thật
võ đoán-> mô hình ý nghĩ” [6,352].
15
mô hình vật chất hóa-> mô hình
Chương 2: THỤC TRẠNG HÀNH ĐỘNG MÔ HÌNH HÓA CỦA
HỌC SINH LỚP 4 QUA MÔN TIẾNG VIỆT
2.1. Khái quát về môn Tiếng việt lóp 4 và khách thễ nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về môn Tiếng Việt lóp 4
Tiếng Việt là một trong những bộ môn quan trọng trong chương trình
của Tiểu học, đồng thời Tiếng việt cũng có vai trò không thể thiếu trong đời
sống.
Chương trình Tiếng Việt lớp 4 có những bộ phận sau:
- Kĩ năng sử dụng Tiếng việt (đọc, viết, nghe, nói)
- Tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ sở, tối thiểu về ngữ âm, chính
tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp )
Tri thức về văn học, về Tự nhiên xã hội (một số hiểu biết về văn học và
cách tiếp cận chúng, về con người về đời sống tinh thần và vật chất, về đất
nước và dân tộc Việt Nam...)
Trong chương trình lớp 4 thì môn Tiếng Việt nội dung chương trình
nhằm phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói lên ở một mức độ cao hơn,
- Tuần 29, 30, 31: Khám phá thế giới
- Tuần 32, 33, 34: Tinh yêu cuộc sống
- Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II
Nếu so sánh với những chủ diểm đã học ở các lớp dưới có thể thấy: Chủ
điểm học tập ở lớp 1, 2 và lớp 3 xoanh quanh những lĩnh vực rất gần gũi với
học sinh như gia đình, nhà trường, thiên nhiên và xã hội:Còn ở lóp 4 chủ
điểm là những vấn đề về đòi sống tinh thần củacon người như phẩm
chất
(nhân ái, trung thực, tự trọng, biết ước mơ, giàu nghị lực, dũng cảm, lạc quan,
yêu đời), năng lực (tài năng, sức khỏe, thẩm mĩ), sở thích (du lịch, thám hiểm,
vui chơi).
17
Mỗi đon vị học gắn với chủ điểm như đã nói ở trên lại được chia thành
các phân môn, căn cứ vào nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng của từng phân môn. Ở
lớp 4 có các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Ke chuyện và Tập
làm văn với thứ tự sắp xếp và thời lượng học tập trong mỗi tuần như sau:
- Tập đọc: 1 tiết
- Chính tả: 1 tiết
- Luyên từ và câu: 1 tiết
- Kể chuyện: 1 tiết
- Tập đọc: 1 tiết
- Tập làm văn: 1 tiết
- Luyện từ và câu: 1 tiết
- Tập làm văn: 1 tiết
Như vậy có thể thấy, so với các lớp dưới, ở lớp 4 không bố trí giờ Tập
lớp hoặc được nghe, được đọc, được chứng kiến, tham gia trong đời sống
hằng ngày phù họp với chủ điểm mà các em đang học.
- Phân môn Tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Học sinh
lớp 4 được dạy các kĩ năng kế chuyện và miêu tả đồ vật, cây cối, con vật. Bên
cạnh đó, học sinh còn được rèn kĩ năng thuyết trình, trao đổi và nâng cao kĩ
năng viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn đã hình thành từ các lớp d ư ớ i.
2.2. Khái quát về khách thể nghiên cửu
2.2.1. Kết quả học tập của học sinh
Đối tượng tôi nghiên cún là học sinh lớp 4B trường Tiểu học Thị trấn
A, Thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Có tổng số học sinh là 45 học sinh, trong đó có 24 HS nam và 21 HS
nữ. Qua kết quả học tập thì có 12HS giỏi, 21 HS khá, 10 HS trung bình và
3HS yếu.
2.2.2. Kết quà học tập môn Tiếng Việt
19