Hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường bằng thuốc bôi Klenzit-C - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh trứng cá (acne) là một bệnh chiếm tỉ lệ khá cao ở độ tuổi thanh
thiếu niên từ 13 đến 25 tuổi, đa số tập trung ở lứa tuổi 14-19, khởi đầu ở tuổi dậy
thì, tăng dần theo tuổi và sau 20 tuổi thì bắt đầu thuyên giảm. Có tới 80% người
trưởng thành bị bệnh trứng cá. Bệnh thường xuất hiện ở mặt, ngực, lưng, tiến triển
từng đợt, dai dẳng. Bệnh gây nên do hiện tượng tăng tiết chất bã kèm theo viêm
nhiễm ở hệ thống nang lông tuyến bã. Tính chất bệnh không nguy hiểm nhưng vị
trí tổn thương thường ở mặt nên gây trở ngại lớn về mặt thẩm mỹ, ảnh hưởng tới
tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh [1], [2], [3].
Biểu hiện lâm sàng của bệnh trứng cá rất đa dạng với nhiều dạng tổn
thương khác nhau: vi nhân trứng cá, nhân đầu trắng, nhân đầu đen, sẩn, mụn
mủ, cục, nang... Dựa vào hình thái, triệu chứng lâm sàng và tính chất của
bệnh, người ta chia bệnh trứng ra làm nhiều thể khác nhau: trứng cá thông
thường, trứng cá do thuốc, trứng cá sẹo lồi, trứng cá kê hoại tử... Trong đó
trứng cá thông thường chiếm đa số.
Có nhiều nguyên nhân và yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá. Nguyên
nhân chủ yếu gồm 4 yếu tố: tăng sản xuất chất bã, tăng sừng hóa cổ nang lông
tuyến bã, hiện diện của vi khuẩn (đặc biệt là P.acnes) và tình trạng viêm.
Ngoài ra yếu tố gia đình, tâm lý, môi trường, vệ sinh cá nhân, cách sử dụng
thuốc và mỹ phẩm không hợp lý... cũng là tác nhân gây bệnh hoặc làm nặng
thêm tình trạng bệnh [1], [2], [4],[5], [6].
Do căn nguyên của bệnh trứng cá rất phức tạp nên có nhiều phương
pháp điều trị khác nhau. Các phương pháp đều nhằm mục đích: chống tăng
tiết chất bã, chống sừng hóa cổ nang lông và chống viêm, bao gồm: thuốc tại
chỗ, thuốc toàn thân, vật lý trị liệu, laser, ... Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc
tại chỗ để điều trị bệnh trứng cá. Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về


2

và nhiều vị trí: trán, má, mũi, cằm, cổ, lưng, ngực. Tiến triển của bệnh thường
là lành tính , một số trường hợp có thể tự khỏi nhưng có nhiều trường hợp tiến
triển dai dẳng, từng đợt. Nếu không điều trị kịp thời, phù hợp bệnh trứng cá
có thể để lại dát thâm, sẹo lõm, sẹo lồi làm ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ và
chất lượng cuộc sống của người bệnh.
1.1.2. Sinh bệnh học bệnh trứng cá
Để hiểu rõ về sinh bệnh học bệnh trứng cá, chúng ta cần hiểu rõ về đơn
vị nang lông tuyến bã vì có liên quan mật thiết đến bệnh trứng cá.
Đặc điểm của nang lông tuyến bã:
- Nang lông: có 2 loại là nang lông tơ và nang lông dài [1], [12], [13].
+ Nang lông tơ: nằm rải rác khắp toàn bộ cơ thể (trừ lòng bàn tay, lòng
bàn chân). Nang lông tơ có kích thước nhỏ nhưng tế bào tuyến bã có kích
thước lớn hơn nhiều so với nang lông dài
+ Nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu. Những vị trí
này lông mọc toàn bộ, tuyến bã quanh nang lông không phát triển, chất bã
được bài xuất qua các ống ngắn đến nang lông, cổ nang lông rồi ra ngoài.
- Tuyến bã:
+ Giải phẫu: da có 3 loại tuyến: tuyến mồ hôi, tuyến bã và tuyến sữa.
Tuyến bã gắn vào nang lông ở những nơi có nang lông (trừ lòng bàn tay, bàn


4

chân), chúng tiết ra chất bã đổ vào nang lông nhờ có ống dẫn rồi bài xuất lên
mặt da. Tuyến bã ở niêm mạc đổ thẳng ra bề mặt niêm mạc như tuyến Tison và
hạt Fox-dyce. Tuyến bã là chùm nang chia nhánh, nang tuyến bã có đường kính
từ 0,2-2mm. Tế bào tuyến bã có 2 loại là tế bào tuyến ít biệt hóa và tế bào chế
tiết. Tế bào tuyến ít biệt hóa nằm sát màng đáy và có khả năng phân chia, chứa
nhiều ARN và các loại men esterase, phosphatase. Tế bào chế tiết nằm phía
trong có kích thước lớn, bào tương chứa nhiều hạt mỡ [12], [13], [14].

yếu là cholesterol tự do), sterol este hóa (chủ yếu là cholesterol este hóa).
Kết hợp Triglyceride, Cires và Cholesterol sẽ tạo thành lipid da bề mặt,
nhưng mức độ lipid da bề mặt khác nhau tùy từng vị trí cơ thể.
+ Số lượng tuyến bã:
Ở những vùng khác nhau của cơ thể có số lượng tuyến bã khác nhau. Ở
mặt, ngực, lưng 1 cm2 có từ 400- 900 tuyến bã. Ở những vùng da khác có số
lượng tuyến bã ít hơn vì vậy trứng cá hay xuất hiện ở mặt, ngực, lưng nhiều
hơn so với các vùng da khác.
Ngày nay, sinh bệnh học của trứng cá đã khá rõ và thống nhất gồm 4 yếu
tố chính là: tăng sản xuất chất bã, tăng sừng hóa cổ nang lông tuyến bã, vai
trò của vi khuẩn và tình trạng viêm [1], [2], [14].
1.1.2.1. Tăng sản xuất chất bã
Bình thường tuyến bã tiết chất bã để làm cho da, lông, tóc mềm mại,
mượt mà, luôn giữ được độ ẩm và góp phần duy trì độ pH cho da. Trong bệnh
trứng cá có sự tiết chất bã quá nhiều. Một trong những thành phần của chất bã
là triglyceride, có vai trò thúc đẩy trong sinh bệnh học bệnh. Triglyceride bị
phá hủy thành các acid béo tự do tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát
triển và lan tràn P.acnes gây nên hiện tượng viêm.


6

Sự bài tiết của chất bã có liên quan chặt chẽ với các hormon, trong đó
quan trọng là hormon sinh dục nam (androgen), đặc biệt là testosteron, ngoài ra
còn chịu tác tác động của các yếu tố khác như: di truyền, tress, thời tiết... [1],
[12], [13], [14]. Cơ quan bài tiết tiết androgen: ở nam giới là tinh hoàn, ở nữ
giới là buồng trứng và tuyến thượng thận. Testosteron sau khi được bài tiết sẽ
gắn lỏng lẻo với albumin huyết tương hoặc chặt hơn với beta globulin gọi là
globulin mang hormon sinh dục (SHBG: Sexual Hormon Binding Globulin). Ở
tuyến bã Testosteron chuyển thành DHT nhờ men 5α reductase. DHT là chất

- Vai trò của kích dục tố, kích thích tố giáp trạng trong việc làm tăng
hoạt động tuyến bã cũng đã được chứng minh.
Tóm lại: tuyến bã chịu sự điều tiết hoạt động của các hormon, đặc biệt
là hormon sinh dục nam, các hormon này làm phát triển, giãn rộng, tăng thể
tích tuyến bã, kích thích tuyến bã hoạt động mạnh dẫn tới sự bài tiết chất bã
tăng lên rất nhiều lần so với bình thường qua các cơ chế:
- Tăng hormon sinh dục nam (Testosteron, ehydroepiandosteron...)
- Tăng gắn Testosteron với các thụ thể tuyến bã


7

- Tăng hoạt động của men 5α reductase
- Lượng SHBG trong máu giảm dẫn đến lượng Testosteron tự do đi đến
tuyến bã tăng.
1.1.2.2. Tăng sừng hóa cổ nang lông tuyến bã
Cổ nang lông tuyến bã bị sừng hóa làm ống bài xuất tuyến bã bị hẹp lại
làm cho chất bã không thoát ra ngoài được nên bị ứ đọng lại trong lòng tuyến bã,
lâu ngày bị cô đặc lại hình thành nhân trứng cá (quá trình hình thành nhân trứng
cá trung bình là 30 ngày). Nếu có bội nhiễm sẽ gây viêm nhiễm, có mủ, có thể
lây sang các tuyến bã khác hình thành nên các sẩn viêm, mụn mủ, nang...
Quá trình sừng hóa cổ nang lông tuyến bã chịu tác động của một số
yếu tố: hormon androgen (testosteron), thiếu hụt acid linoleic, tăng acid béo
tự do ở tuyến bã, vấn đề vi khuẩn, yếu tố di truyền…[13], [14], [15], [16].
- Tác động của Androgen: Androgen không chỉ làm phát triển tuyến bã,
tăng tiết chất bã mà cũng góp phần quan trọng vào sừng hóa cổ nang lông
tuyến bã thông qua các thụ thể.
- Thay đổi của lipid: các thành phần lipid trên bề mặt da như squalene,
squalene peroxides, oleic acid, proxides của oleic làm tăng quá trình sừng hóa
cổ nang lông tuyến bã góp phần làm tăng nhân trứng cá. Một số nghiên cứu

Các sản phẩm được tiết ra từ P.acnes như lipase, protease,
hyaluronidase và một số hóa ứng động bạch cầu. Lipase thủy phân triglycerid
thành acid béo tự do, đây là chất kích thích khởi đầu sinh nhân trứng cá. Các hóa
ứng động bạch cầu sẽ giải phóng hydrolase thấm vào thành nang lông và làm yếu
nang lông gây viêm và vỡ cùng nhân trứng cá vào lớp trung bì.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy P.acnes gắn vào các thụ thể trên bề
mặt tế bào bạch cầu đa nhân và bạch cầu đơn nhân sẽ dẫn đến giải phóng
nhiều cytokin có khả năng gây viêm như: IL-8, IL-12, yếu tố hoại tử u (TNF).


9

1.1.2.4. Tình trạng viêm
Hình thành phản ứng viêm với sự tham gia của các yếu tố: vi khuẩn (nhất
là P.acnes), bạch cầu, enzym, các cytokin tiền viêm, TNF-α... hình thành nên các
tổn thương viêm như sẩn, mụn mủ, cục, nang. Theo Lyte P (2009): các biểu hiện
của trứng cá do P.acnes gây ra các phản ứng viêm không những khi vi khuẩn còn
sống và ngay cả khi vi khuẩn đã bị tiêu diệt, cấu trúc màng tế bào vi khuẩn chết
cũng có thể kích thích gây nên phản ứng viêm.
Tóm lại, trên một thể tạng nhất định có tăng sản xuất chất bã dưới tác động
của nhiều yếu tố (testosteron, tuổi, môi trường…), kết hợp bị sừng hóa cổ nang
lông tuyến bã làm cho chất bã bị ứ chệ trong lòng tuyến bã tạo nên nhân trứng cá
và điều kiện để các vi khuẩn trên da điển hình là P. acne phát triển phân hủy chất
bã tạo ra nhiều acid béo tự do là nguyên nhân chính gây viêm tấy thành tuyến bã
và lan tràn ra xung quanh tạo nên các sẩn viêm, mụn mủ…Những quá trình này
phối hợp với nhau tạo thành vòng xoắn bệnh lý.
Bảng 1.1. Sinh bệnh học trứng cá [6]

Vi nhân trứng cá Nhân đầu đen Sẩn viêm / mụn
- Tăng sừng hóa - Giãn rộng cổ mủ

có nhận xét là yếu tố di truyền đã được khẳng định trong vai trò sinh bệnh học
trứng cá.Theo Goudlen cứ 10 người bị bệnh trứng cá thì 5 người có tiền sử
gia đình. Theo Phạm Văn Hiển, nếu bố mẹ bị bệnh trứng cá thì 45% con trai
của họ bị trứng cá ở tuổi đi học [2].
- Yếu tố nghề nghiệp: tiếp xúc dầu mỡ, tiếp xúc với ánh nắng nhiều…
làm tăng khả năng bị bệnh [2], [18]
- Yếu tố thời tiết: liên quan đến bệnh với khí hậu nóng ẩm, hanh khô.
- Yếu tố chủng tộc: người da vàng và da trắng bị bệnh trứng cá nhiều
hơn người da đen [17].
- Yếu tố thức ăn: thức ăn ngọt (socola, đường, bơ...), đồ uống có tính
chất kích thích (rượu, bia, cafe...) có liên quan đến bệnh [2], [18].
- Yếu tố nội tiết: những người bị bệnh nội tiết như cường giáp,
Cushing, buồng trứng đa nang... thì hay bị bệnh trứng cá [2], [3].
- Yếu tố thần kinh: khi lo lắng, căng thẳng... thì làm trứng cá nặng lên [21].
- Yếu tố thuốc: nhiều thuốc làm nặng thêm bệnh trứng cá như: corticoid,
isoniazid, nhóm hologen (bromidem, iod...), lithium, hydantoni...[2], [20].
- Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà xát, nặn bóp không
đúng phương pháp…


11

1.1.4. Các thể bệnh trứng cá
Dựa vào triệu trứng lâm sàng và tính chất bệnh người ta chia thành các
loại trứng cá sau [3], [5], [6], [17], [24], [25], [28].
1.1.4.1. Trứng cá thông thường (acne vulgaris)
Là dạng bệnh hay gặp nhất, thường gặp ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Vị
trí tổn thương thường gặp ở vùng da mỡ như: mặt, vai, ngực, lưng. Tổn
thương đa dạng với nhân đầu trắng, nhân đầu đen, sẩn, mụn mủ, cục, nang,
đôi khi gặp áp xe. Các dạng thương tổn này không thường xuyên xuất hiện và

nghiên cứu thấy tất cả đều có HLA-DRw4, một số ít có các kháng nguyên
chéo HLA-B7. Bên cạnh đó có các nguyên nhân khác: biến đổi phản ứng từ
P.acne, tiếp xúc với các hydrocarbon có nhân halogen thơm, dùng các steroid,
phản ứng với các thuốc khác.
Điều trị rất là khó, dùng liều cao kháng sinh, isotretinoin uống, tiêm
corticoid trong tổn thương hay dùng đường toàn thân, đôi khi phải phẫu thuật.
1.1.4.6. Trứng cá tối cấp (acne fulminans)
Hay còn gọi là trứng cá sốt loét và sốt cấp tính, là dạng nặng nhất kèm
theo triệu chứng toàn thân. Lâm sàng biểu hiện với sự xuất hiện đột ngột các
tổn thương viêm, căng, rỉ dịch ở ngực, lưng, ít khi biểu hiện ở mặt. Các tổn
thương nhanh chóng vỡ để lại vết loét, đóng vảy tiết, khi lành để lại sẹo. Các
triệu chứng khác kết hợp: sốt, tăng bạch cầu nhất là bạch cầu đa nhân trung
tính, đau cơ, đau khớp, gan lách to, thiếu máu.
Là bệnh lý hệ thống do cơ chế miễn dịch với khơi mào từ kháng
nguyên của P.acnes. Sự gia tăng cấp độ testosterone trong máu giữ vai trò
thúc đẩy quan trọng trong sinh bệnh học bệnh trứng cá ác tính
Điều trị bằng liệu pháp corticoid, kháng sinh liều cao, isotretinoin.


13

1.1.4.7. Trứng cá cơ học (acne mechanica)
Phát ban dạng trứng cá có thể xuất hiện sau những chấn thương vật lý lặp
lại đối với da, ví dụ như sự cọ xát khi mang dây đai hay mũ thể thao hay băng
kín da. Tắc nghẽn tuyến bã nhờn làm hình thành nên các nhân trứng cá. Hay các
yếu tố bên ngoài tác động làm nặng thêm tình trạng trứng cá có từ trước.
1.1.4.8.Trứng cá sẹo lồi (acne keloidalis)
Lần đầu tiên được Hebra mô tả năm 1860 với cái tên “viêm nang lông
sâu dạng ghẻ cóc”. Tên gọi “trứng cá sẹo lồi” được Bazin gọi năm 1872 và
được dùng cho đến ngày nay trong chuyên khoa da. Trứng cá sẹo lồi thường

Nguyên nhân vẫn chưa được xác định rõ, một số yếu tố được đưa ra để
giải thích sự xuất hiện là:
+ Nội tiết tố: androgen, estrogen, yếu tố tăng trưởng...
+ Mỹ phẩm: lanolin và các dẫn xuất
+ Thuốc ngừa thai: đường uống, thành phần có chứa androgen
+ Vi khuẩn kháng thuốc: nồng độ kháng thể với P.acnes cao ở người bị
bệnh trứng cá nhưng không song hành với biểu hiện bệnh.
+ Các yếu tố khác: gia đình, tiếp xúc ánh sáng...
Thương tổn cơ bản: tổn thương viêm (sẩn, mụn mủ, cục) chiếm ưu thế,
nhân trứng cá ít. Vị trí phân bố thường ở má, cằm, quanh miệng. Đây là dạng
trứng cá dai dẳng và kém đáp ứng điều trị.
1.1.4.11. Các lọai hình trứng cá khác
Trứng cá trước chu kỳ kinh nguyệt: thường xuất hiện trước khi có kinh
khoảng một tuần, tổn thương là những sẩn mủ, số lượng từ 5- 10 tổn thương.


15

Thường là do Luteinizing hoormone (LH) ở đỉnh cao kích thích tổ chức đệm
của buồng trứng tiết androgen .
Trứng cá nhân loạn sừng gia đình [5]: là do rối loạn di truyền trội với
đặc điểm có nhiều nhân ở mặt, thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ, mụn
nước, khi khỏi để lại sẹo sâu, có khi xuất hiện đến tuổi 40. Mô bệnh học thấy
tiêu gai và tế bào loạn sừng trong thành của các lỗ chân lông.
Trứng cá vùng nhiệt đới: loại trứng cá này có tổn thương nang lớn đa
dạng ở vùng ngực, lưng, mông. Bệnh thường xuất hiện ở vùng nhiệt đới khi
thời tiết nóng ẩm.
Trứng cá do mỹ phẩm [17]: thường gặp ở phụ nữ tuổi 15- 30, do sử
dụng mỹ phẩm không đúng cách hoặc thường có thói quen dụng nhiều các
loại kem bôi mặt, dầu làm ẩm da, kem chống nắng. Tổn thương đồng đều,

[6], [28], [29], [32].
- Sẩn: các nang lông bị dãn rộng và vít chặt lại, vùng kế cận tuyến bã
xuất hiện phản ứng viêm nhẹ, đường kính nhỏ hơn 5 mm, nhô cao, màu đỏ,
mềm, hơi đau. Tổn thương có thể tự khỏi hay tiến triển thành mụn mủ.
- Mụn mủ: là sẩn chứa mủ. Mụn mủ có thể vỡ, khô sau đó xẹp và biến
mất, đôi khi để lại sẹo.
- Cục: hiện tượng viêm nhiễm có thể xuống sâu hơn, tổn thương viêm
có thể đến trung bì sâu, đường kính thường nhỏ hơn 1 cm, thường đau và tăng
lên khi sờ.
- Nang: tập hợp nhiều cục, 2-3 cục, sưng lên, quá trình viêm đã hóa
mủ chứa dịch vàng lẫn máu, kích thước thường lớn hơn 1 cm, sờ thấy lùng
nhùng. Tiến triển thường để lại sẹo.
Các tổn thương thuyên giảm để lại các dát đỏ, dát thâm sau đó da trở về
bình thường. Nếu tổn thương viêm nhiễm sâu, hóa mủ sẽ để lại sẹo, có thể là
sẹo lõm, sẹo quá phát hay sẹo lồi. Đây là các tổn thương thứ phát.


17

Ngoài các tổn thương trên thì ở bệnh nhân bị trứng cá có hiện tượng
tăng tiết bã làm da bóng, nhờn, các lỗ chân lông dãn rộng....
1.2.3. Vị trí thương tổn
Vị trí các thương tổn thường biểu hiện ở mặt, vai, ngực và lưng.
1.3. PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG
Có nhiều cách phân loại:
1.3.1. Phân loại theo giáo trình Học Viện Quân Y (2001) [28]
- Mức độ nhẹ: dưới 50 nhân trứng cá, sẩn
- Mức độ vừa: 50-100 nhân trứng cá, sẩn
- Mức độ nặng: 100-200 nhân trứng cá, sẩn
1.3.2. Phân loại theo Cunliffe và cs (2003) [30]

- Mức độ nhẹ:

+ 50 thương tổn viêm, hoặc:
+ Tổng số thương tổn >125.

1.4. ĐIỀU TRỊ BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG
Bệnh trứng cá phát sinh do nhiều nguyên nhân và chịu nhiều yếu tố tác
động, do vậy khi điều trị phải quan tâm chú ý đến các vấn đề này để điều trị
có hiệu quả. Bốn nguyên tắc chính khi điều trị là [2], [5], [38], [39], [40]:
- Điều chỉnh những thay đổi về sừng hóa nang lông
- Giảm hoạt động tiết bã
- Giảm sự phát triển của vi khuẩn, đặc biệt là P.acnes, ức chế sự sản
xuất các sản phẩm viêm nhiễm ngoại bào (trực tiếp hoặc gián tiếp) thông qua
việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
- Chống viêm
1.4.1. Điều trị tại chỗ [2], [5], [39], [40].

- Clindamycin
Thuốc thuốc họ lincosamide, tác động kháng khuẩn mạnh lên P.acnes
và tụ cầu. Tác dụng kìm khuẩn ở nồng độ thấp và diệt khuẩn ở nồng độ cao,
tốt trong điều trị trứng cá.


20

- Erythromycin
Đây là thuốc thuộc họ macrolid, được bào chế dưới dạng dung dịch hay
dạng gel bôi tại chỗ với nồng độ 2-4% trong điều trị bệnh trứng cá.
- Metronidazole
Đây là thuốc cũng hữu ích trong điều trị trứng cá nhất là trứng cá đỏ.
1.4.1.4. Azelaic acid (C9-dicarbonic acid)
Thuốc có tác dụng làm giảm số lượng nhân trứng cá, giảm phát triển
P.acnes trên bề mặt da và trong ống dẫn của nang lông tuyến bã, giảm viêm.
Thuốc có ít tác dụng phụ và ít có sự đề kháng. Azelaic acid 20% có hiệu quả
trong trứng cá có tổn thương sẩn, mụn mủ.
1.4.1.5. Salicylic acid
Salicylic acid (1-3%) có tác dụng sát khuẩn nhẹ và bong lớp sừng biểu
bì trong nang lông và phần phễu.
1.4.2. Điều trị toàn thân
1.4.2.1. Kháng sinh
Kháng sinh đường uống là điều trị căn bản trong bệnh trứng cá. Có nhiều
loại kháng sinh tác động lên P.acnes [2], [5], [39], [40], [41], [42], [43], [44].
- Tetracyclin
+Liều giảm dần: 1,5g/ngày trong 8 ngày; 0,5g/ngày trong 1 tháng;
0,25g/ngày trong các tháng tiếp theo.
+Liều không đổi: 1g/ngày chia làm 2 lần, uống trước bữa ăn 30-60 phút
- Minocyclin

Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên
Nhiễm khuẩn da và mô mềm
Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục không do lậu
Nhiễm Chlamydia Trachomatis không biến chứng ở đường sinh dục
+Tác dụng không mong muốn:


22

Rối loạn tiêu hóa: nôn, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy.
Toàn thân: mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, ngủ gà.
Da: phát ban, ngứa
+ Liều dùng và cách dùng:
Azithromycin dùng 1 lần mỗi ngày, uống 1 giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ
sau khi ăn.
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới, nhiễm khuẩn da và mô mềm:
Dùng liều duy nhất 2 viên trong ngày đầu tiên; 4 ngày sau: mỗi ngày 1 viên.
- Bệnh lây truyền qua đường sinh dục: liều duy nhất 4 viên
+ Liều dùng 500mg x 3 lần/tuần. Hiệu quả tốt, tác dụng phụ là rối loạn
tiêu hóa
- Clindamycin
+ Liều dùng: 300-600mg/ngày
+ Tác dụng phụ: Nguy cơ gây viêm đại tràng giả mạc.
- Trimethoprim-Sulfamethoxazol
+ Liều dùng 960mg x 2 lần/ngày
+ Dùng trong trường hợp trứng cá nặng, không đáp ứng với các kháng
sinh khác. Đây là thuốc thường gây dị ứng thuốc.
1.4.2.2. Nội tiết tố
Điều trị bằng hormon là nhằm ức chế cạnh tranh với androgen tại tuyến
bã, dùng điều trị thích hợp trong những trường hợp bệnh nhân nữ bị bệnh

chậm lành vết thương da và mô mềm, nám da nhất là ở phụ nữ... [2], [5].
1.4.3. Điều trị bằng ánh sáng, laser
1.4.3.1. Ánh sáng hữu hình quang phổ hẹp
- Ánh sáng xanh: P.acnes là mục tiêu trong điều trị bằng ánh sáng.
- Ánh sáng đỏ: bước sóng 632-660nm làm giảm P.acnes, tăng hoạt
động đại thực bào, xâm nhập vào biểu bì sâu hơn.


24

1.4.3.2. Ánh sáng hữu hình quang phổ rộng
- IPL: Cơ chế hoạt động là sự ly giải bằng nhiệt một cách chọn lọc ở mô
đích.
- Quang đông trị liệu: sử dụng qua đường bôi, đường uống hay tĩnh
mạch các chất nhạy cảm ánh sáng để tạo ra phản ứng thông qua các gốc tự do.
1.4.3.3. Lasers
- Laser KPT (potassium-tianyl-phosphate): có bước sóng 532nm có
hiệu quả trong điều trị trứng cá.
- PDL (pulse dye laser): một loại laser màu xung có bước sóng 585nm
hoặc 595nm có tác dụng mạnh trong điều trị trứng cá thông qua cơ chế hoạt
hóa protoporphyrin của vi trùng và sinh ra sự ly giải quang nhiệt chọn lọc ở
các mạch máu giãn nở trong tổn thương viêm .
- Laser Diode có bước sóng 1450nm. Theo nghiên cứu của Laubach
H.J (2009) cho thấy laser này mang lại hiệu quả trong điều trị trứng cá thông
thường .
1.5. THUỐC BÔI KLENZIT- C
1.5.1. Đặc điểm
- Hoạt chất chính: Adapalene + clindamycin phosphate 1%.
- Dạng bào chế: gel dùng ngoài da, typ 15g
- Hãng bào chế: Glenmark, Ltd- Ấn Độ.


Trích đoạn Tác dụng không mong muốn của NNC1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường Đặc điểm đối tượng của 2 nhóm nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status