1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm ruột thừa cấp là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp nhất [1,2,3,4]
chiếm 60-70% của cấp cứu bụng và xẩy ra ở mọi lứa tuổi và gặp hàng ngày ở
mọi cơ sở y tế . Thống kê của Nguyễn Trinh Cơ tại Bệnh viện Việt Đức phẫu
thuật cắt ruột thừa viêm chiếm 45,4% [1] các cấp cứu về bụng còn Nguyễn
Đình Hối tỷ lệ này chiếm 60,7% [3].
Việc mổ mở để cắt ruột thừa đã được thực hiện trên 100 năm qua với
đường mổ Mc Burney(1889) [2,3,4]. Tuy nhiên có từ 10-20% các trường hợp
khó do bệnh nhân mập, thành bụng dày, ruột thừa ở vị trí bất thường … phải
mở rộng vết mổ như một cuộc mổ lớn và những biến chứng của nó như đau
nhiều, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ cao, thời gian hậu phẫu kéo dài và thẩm mỹ
không cao là khó tránh khỏi [5,6,7].
Nội soi ổ bụng để cắt ruột thừa lần đầu tiên được một bác sỹ sản khoa
người Đức Kurt Semm thực hiện năm 1983 nhân cơ hội ruột thừa dính vào
buồng trứng. Nhưng phải đến năm 1987 khi Phillip Mouret đã cắt thành công
túi mật nội soi tại Pháp[5,8], thì ngành phẫu thuật nội soi mới chính thức
được công nhận và không ngừng phát triển rộng khắp trên thế giới cho đến
nay. Phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa đã trở thành lựa chọn hàng đầu cho cả
thầy thuốc và bệnh nhân. Vì phẫu thuật nội soi ngày càng được khẳng định có
nhiều ưu điểm so với phẫu thuật mở: Sức khỏe bệnh nhân hồi phục nhanh sau
phẫu thuật, rút ngắn thời gian điều trị, hạn chế các biến chứng như giảm nguy
cơ nhiễm khuẩn vết mổ, về lâu dài hạn chế được tình trạng tắc ruột sau mổ…
Đặc biệt là không phải mở thành bụng rộng nên bảo đảm yếu tố thẩm mỹ
cao[7,9 ,10 ,11 ,12 ,13 ,14].
Dựa trên nguyên lý cơ bản của phẫu thuật nội soi truyền thống, các phẫu
thuật viên và các nhà sản xuất đã không ngừng nghiên cứu cải tiến, đưa ra
2
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Phôi thai học[1,2,3,4]:
Trong quá trình phát triển của phôi thai, nếu như đoạn ruột trước tạo ra
các cơ quan hô hấp, thực quản, dạ dày, một phần tá tràng, gan, các đường dẫn
mật tụy, thì các đoạn ruột giữa tạo ra quai ruột nguyên thủy bắt đầu ngay dưới
miệng nối ống mật chủ đổ vào tá tràng đến chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 xa của đại
tràng ngang, lúc này phôi thai dài khỏang 5mm. Ruột giữa được phân bố
mạch bởi động mạch mạc treo tràng trên. Trong quá trình phát triển của ruột
giữa, xẩy ra bốn hiện tượng quan trọng. Đó là:
- Tạo ra quai ruột nguyên thủy.
- Thoát vị sinh lý của các quai ruột.
- Chuyển động xoay của các quai ruột nguyên thủy.
- Sự thụt của các qua ruột đã thoát vị vào trong khoang màng bụng.
Manh tràng và RT được thấy vào tuần lễ thứ 8 của đời sống, nụ manh
tràng xuất hiện vào giai đoạn phôi dài 12mm dưới dạng một chỗ phình hình
nón ở ngành dưới của quai ruột nguyên thủy. Nó tạm thời nằm ở góc trên bên
phải khoang bụng, ngay dưới thùy gan phải. Từ vị trí đó nó từ từ hạ xuống
HCP, đồng thời ở đầu xa của manh tràng nẩy túi thừa hẹp tức là mầm của RT.
Cái mầm ấy phát triển thành RT khi đại tràng lên dần hạ thấp xuống HCP.
Trong cả hai giai đoạn phát triển trước và sau sinh, tốc độ phát triển của
MT vượt xa tốc độ phát triển của RT làm cho vị trí của RT lệch dần vào bên
trong. Mối liên hệ giữa gốc RT và MT vẫn hằng định trong khi đó có thể thấy
đầu RT thừa thay đổi vị trí.
4
1.2 Giải phẫu:
1.2.1. Giải phẫu [1,2,3,4,24]:
* Hình dạng ruột thừa:
Thượng vị
Sau manh tràng
Dưới gan
Dọc đại tràng
Trong túi
thoát vị
Hố chậu T
Trớc hồi tràng
Tiểu khung
Hỡnh 1.1: Cỏc v trớ bỡnh thng v bt thng ca RT [24].
- Cu to RT: RT c cu to thnh bn lp:
+ Lp niờm mc: liờn tc vi lp niờm mc ca manh trng qua l RT,
ni õy lp niờm mc dy lờn to thnh mt np nh gi l van Gerlac.
+ Lp di niờm mc: cú nhiu nang Lympho, cho nờn RT c xem
nh tuyn hnh nhõn bng.
+ Lp c: gm lp c vũng trong v lp c dc ngoi.
+ Lp thanh mc: mng v dớnh vo lp c, thanh mc RT cú th d
dng tỏch ra khi b viờm.
Mc treo RT
RT
Thanh mc
C dc
lòng RT phát triển gây viêm, nhưng cũng có thể đến theo đường máu, vi
khuẩn hay gặp là E.Coli.
- Tắc nghẽn các mạch máu RT: tắc hoặc nhiễm khuẩn RT thường gây
ra tắc nghẽn mạch máu RT, nhưng cũng có thể tắc nghẽn mạch máu là nguyên
nhân tiên phát gây viêm RT, nếu tắc nghẽn ở một vùng nhỏ thì có thể gây
thủng RT, nhưng nếu tắc mạch nuôi RT hoặc lan tràn đến nhiều mạch nhỏ RT
thì thường gây hoại tử RT.
7
1.2.4. Tổn thương giải phẫu bệnh[1,2,3,4]:
1.2.4.1. Đại thể:
Bao gồm các giai đoạn tiến triển của bệnh:
- Viêm RT xung huyết: là thể sớm nhất, các mạch máu RT giãn to,
thanh mạc có thể mất vẻ láng bóng như bình thường.
- Viêm RT nung mủ: RT sưng to, màu đỏ sẫm, trên thành có các ổ mủ
này vỡ vào lòng RT hoặc vỡ vào khoang phúc mạc, chung quanh RT có giả
mạc bám.
- Viêm RT hoại tử: RT sưng to, màu xanh sẫm, mềm dễ vỡ, thành RT
tổn thương nặng. Tổn thương hoại tử có thể một phần hay toàn bộ RT. Dịch ổ
phúc mạc có màu đục, rất thối do sự phát triển của vi khuẩn kỵ khí.
- Viêm RT bị thủng gây viêm phúc mạc hay áp xe RT: RT hoại tử gây
viêm phúc mạc toàn thể, ổ phúc mạc có mủ hôi thối, đôi khi có hơi, thanh
mạc RT có phản ứng viêm, nhiều giả mạc bám. Vị trí thủng thường là ở đầu
hoặc là gốc RT.
1.2.4.2. Vi thể[1,2,3,4]:
Vi thể RT thường được chia thành ba mức độ:
- Lỗ nguyên thủy nằm bên trong RT, gồm một hoặc nhiều vết loét niêm
mạc, ở đáy các vết loét đều có mủ.
- Viêm toàn bộ RT có vết loét rộng, lõm sâu. Tất cả các lớp đều bị phù
1.2.5.2. Cận lâm sàng[2,25]:
* Xét nghiệm máu:
- Đa số các trường hợp VRT thì số lượng bạch cầu tăng cao có thể từ
8.000-15.000/mm3, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao 80-90%. Số
9
lượng bạch cầu tăng cao thường gặp ở những trường hợp VRT có biến chứng.
Có từ 10 - 30% trường hợp số lượng bạch cầu không tăng và không tăng cao
gặp ở người già yếu, người có bệnh mãn tính.
* Chụp X-quang:
- Chụp bụng không chuẩn bị có rất ít giá trị chẩn đoán vì vậy nó không
phải là phương tiện chẩn đoán.
- Tỷ lệ thấy sỏi cản quang trong RT thấp. Có sỏi cản quang không có
nghĩa là VRT.
- Hình ảnh quai ruột canh gác ở HCP do đoạn cuối hồi tràng bị liệt tạo
nên cũng không phải là triệu chứng đặc hiệu của VRT
* Siêu âm:
- Siêu âm từ khi xuất hiện đã trở thành một thứ vũ khí hữu hiệu cho các
nhà lâm sàng. Sử dụng siêu âm trong chẩm đoán VRT cấp được nhiều tác giả
đưa ra, các tác giả đều thống nhất chẩn đoán bằng siêu âm có độ nhạy cao
(89%), độ đặc hiệu là 95%, độ chính xác 90%.
- Hình ảnh SA điển hình của VRTC là: Khi cắt ngang ruột thừa thấy
hình bia bắn, khi cắt dọc ruột thừa thấy hình ảnh ngón tay đeo găng kích
thước > 6mm.
* Chụp cắt lớp vi tính[2,25]:
Chụp cắt lớp vi tính có hay không dùng thuốc cản quang đường uống
hay tĩnh mạch cho thấy cấu trúc ống căng nhẹ, chứa đầy dich hay xẹp, đường
kính 5-20mm, thành RT không đồng nhất có thể phân biệt được múc độ viêm
nhiễm của RT. Kết quả cho thấy độ chính xác là 93%, độ nhạy là 87%, độ tin
thừa ở trẻ em hay gặp thể nhiễm độc và tiến triển rất nhanh tới viêm phúc mạc
vì thành ruột thừa mỏng, mạc nối lớn chưa phát triển, sức đề kháng kém.
Chẩn đoán thường bị muộn do khó khám và các triệu chứng không rõ ràng, dễ
nhầm lẫn với các bệnh khác.
11
Viêm ruột thừa ở trẻ 2-5 tuổi: việc khai thác bệnh sử vẫn còn khó khăn,
vì vậy các dấu hiệu lâm sàng cần được chú ý thăm khám kỹ. Rất có thể bỏ sót
chẩn đoán nếu trông chờ có đủ các dấu hiệu điển hình. Rất khó xác định vị trí
đau bụng; tính chất đau cũng khác thường, có thể đau cơn, cách quãng. Đau
làm cho trẻ quấy khóc, giẫy dụa, kêu la. Trẻ biếng ăn và nôn nhiều. Dấu hiệu
ỉa chảy cũng thường gặp. Dấu hiệu nhiễm trùng thường rõ, sốt cao tới 39 0,
toàn trạng suy sụp nhanh chóng, dấu hiệu mất nước rõ. Khó khám bụng vì trẻ
quấy khóc và không hợp tác. Dấu hiệu phản ứng thành bụng không rõ, thường
chỉ thấy khi ấn vào hố chậu phải làm trẻ đau, khóc thét, hất tay người thầy
thuốc ra hoặc đau khi ấn sâu vào bụng hố chậu phải và nhấc tay đột ngột lên.
Chụp x quang bụng không chuẩn bị có thể thấy một vài quai hồi tràng giãn
hơi hoặc một vài mức nước – hơi ở hố chậu phải. Tuy nhiên, dấu hiệu Xquang cũng không đặc hiệu và không thay thế được thăm khám lâm sàng và
theo dõi chặt chẽ diễn biến của bệnh để chẩn đoán. Ở trẻ dưới 1 tuổi, thường
chỉ chẩn đoán được ở giai đoạn đã có viêm phúc mạc. Ở trẻ từ 1 – 3 tuổi, tỷ
lệ viêm phúc mạc cũng vào khoảng 50%. Chính vì thế mà tỷ lệ tử vong của
viêm ruột thừa ở trẻ nhỏ vẫn còn cao.
* Viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai [28]:
Về chẩn đoán, trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén, ruột thừa vẫn
nằm ở vị trí bình thường ở hố chậu phải nên triệu chứng viêm ruột thừa
thường điển hình, chẩn đoán thường không khó. Tuy nhiên, cần hết sức lưu ý
là trong các triệu chứng cơ năng của viêm ruột thừa như nôn, buồn nôn, chán
ăn, sốt nhẹ là các triệu chứng thường gặp trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai
nghén nên dễ bị bỏ qua. Trong những tháng sau, khi tử cung to dần lên và đẩy
kèm theo, từ đó lựa chọn phương pháp gây mê, cho thuốc điều trị sau mổ,
thậm chí những thủ thuật kèm theo. Các bệnh thường kèm theo là bệnh tim
mạch (cao huyết áp, loạn nhịp…), nội tiết (đái đường…), tiết niệu (phì đại
tuyến tiền liệt, chức năng thận…).
13
1.2.6.2. Thể theo tiến triển:
* Viêm ruột thừa thể nhiễm độc:
Hay gặp ở trẻ em hoặc những người cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng
như những vận động viên. Bệnh nhân có tình trạng sốc nhiễm khuẩn, nhiễm
độc: li bì, nhiệt độ 39-40oC, mạch nhanh nhỏ, thở nông, có thể tụt huyết áp,
đầu chi tím lạnh. Khám bụng thấy dấu hiệu rất nghèo nàn: bụng chướng nhẹ, nắn
bụng đau không rõ, không rõ phản ứng, thăm trực tràng cũng không thấy rõ.
* Viêm ruột thừa thể tắc ruột
Hay gặp ở người già. Bệnh diễn biến chậm, bệnh nhân có dấu hiệu đau
bụng cơn kèm theo có sốt. X-quang bụng thấy có bóng hơi, mức nước hơi ở
hố chậu phải hay tiểu khung.
1.2.6.3. Thể lâm sàng theo vị trí:
* Viêm ruột thừa sau manh tràng:
Bệnh nhân đau lan ra sau, khi khám thấy hố chậu phải đau không rõ.
Có khi chân phải co lại do kích thích cơ đái chậu. Nắn điểm trên mào chậu
bệnh nhân đau chói.
* Viêm ruột thừa tiểu khung:
Thường có dấu hiệu về tiết niệu như đái rắt, đái buốt. Khi khám trên
bụng thấy điểm đau lệch xuống thấp ở hố chậu phải. Thăm trực tràng hay âm
đạo rất quan trọng để chẩn đoán.
* Viêm ruột thừa dưới gan:
Do ruột quay chưa hết, manh tràng nằm ở ngay dưới gan. Rất dễ nhầm
với viêm túi mật vì có sốt, đau và phản ứng dưới sườn phải. Siêu âm thấy túi
khu trú ổ mủ lại, ổ mủ này ở giữa bụng không dính vào thành bụng trước và
thành bụng bên.
1.2.7.3. Đám quánh ruột thừa:
Ruột thừa viêm gây phản ứng tổ chức mạc nối lớn cùng các tạng lân
cận như: Ruột, thành bàng quang, vòi buồng trứng được huy động đến để bao
vây lấy ruột thừa để khu trú ổ viêm lại.
15
1.2.8. Chẩn đoán phân biệt [1,2,3,4,25,30]:
1.2.8.1. Các nguyên nhân gây đau bụng cấp:
* Sỏi niệu quản phải và viêm bể thận cấp:
Cơn đau quặn thận phải và viêm bể thận cấp do sỏi cần phải phân biệt
với viêm ruột thừa sau manh tràng. Tính chất cơn đau quặn thận là đau cơn,
xuyên từ thắt lưng xuống vùng bẹn. Siêu âm hệ tiết niệu và chụp x quang niệu
tĩnh mạch có thể khẳng định được chẩn đoán. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng
có thể vẫn có viêm ruột thừa trên bệnh nhân có sỏi niệu quản, sỏi thận. Trong
viêm bể thận cấp, cần xét nghiệm tìm bạch cầu, mủ, hồng cầu trong nước tiểu.
* Viêm đoạn cuối hồi tràng:
Bệnh thường gặp ở người trẻ, các dấu hiệu lâm sàng giống như viêm ruột
thừa cấp, thường có ỉa chảy. Thường chỉ chẩn đoán xác định được trong mổ.
* U manh tràng:
Áp xe ruột thừa ở hố chậu phải cần phải phân biệt với áp xe quanh khối
u manh tràng. Đối với khối u manh tràng, thường kèm theo hội chứng tắc ruột
không hoàn toàn (hội chứng Koenig), rối loạn lưu thông ruột (ỉa lỏng hoặc táo
bón). Chụp x quang khung đại tràng cản quang thấy hình khuyết không đều ở
manh tràng. Soi đại tràng bằng ống soi mềm giúp khẳng định chẩn đoán.
* Viêm hạch mạc treo
Thường gặp ở trẻ em, bệnh cảnh lâm sàng giống như viêm ruột thừa
cấp, chỉ chẩn đoán được trong mổ. Khi mổ thấy ruột thừa bình thường, hạch
pháp điều trị có rất nhiều ưu điểm.
1.2.8.2. Các nguyên nhân nội khoa:
* Viêm phổi
Viêm thuỳ đáy phổi phải có thể gây đau bụng bên phải kèm theo sốt, dễ
nhầm với viêm ruột thừa nhất là đối với trẻ em. Cần lưu ý khi thấy trẻ có dấu
hiệu khó thở, cánh mũi phập phồng. Nên chụp X quang phổi một cách hệ
thống cho những trường hợp nhi ngờ là viêm ruột thừa ở trẻ em.
17
* Sốt phát ban
Trong các trường hợp sốt phát ban, có thể có đau hố chậu phải và sốt
cao trước khi có các dấu hiệu phát ban ở da từ 24 – 48 giờ nên dễ bị nhầm với
viêm ruột thừa cấp.
* Viêm gan siêu vi trùng
Khi viêm gan siêu vi trùng, có thể thấy đau ở dưới sườn phải hoặc hố
chậu phải, kèm sốt nhẹ trong giai đoạn chưa có vàng da nên dễ nhầm với
viêm ruột thừa. Làm các xét nghiệm tìm kháng nguyên HBsAg, định lượng
men gan (SGPT, SGOT), bilirubin trong máu giúp ích cho chẩn đoán.
1.2.9. Điều trị[1,2 ,3,4] :
- Khi đã chẩn đoán là VRT, cần phải mổ cấp cứu càng sớm càng tốt.
Mổ cắt ruột thừa kịp thời thì diễn biến sau mổ rất thuận lợi, Nếu không mổ
hoặc mổ muộn sẽ dẫn đến các biến chứng nặng, nguy hiểm đến tính mạng
người bệnh. Không được điều trị kháng sinh vì kháng sinh không làm khỏi
viêm ruột thừa mà chỉ làm thay đổi biểu hiện lâm sàng, bệnh vẫn tiến triển
thành viêm phúc mạc, áp xe tồn dư trong ổ bụng, làm bệnh nhân suy kiệt dần.
Kháng sinh chỉ được sử dụng nhằm mục đích dự phòng trước mổ. Một số
nghiên cứu cho thấy kháng sinh dự phòng trước mổ đã làm giảm được tỷ lệ áp
xe thành bụng sau mổ. Kháng sinh với kháng khuẩn phổ rộng được dùng
trước, trong và sau mổ, đặc biệt với vi khuẩn kỵ khí cần phối hợp thêm
thực sự. Phải kiểm tra đoạn cuối hồi tràng một cách hệ thống để tìm túi thừa
Meckel. Khi mổ viêm ruột thừa ở người già, cần kiểm tra manh tràng và đại
tràng phải cận thận để phát hiện các khối u manh tràng và đại tràng kèm theo.
Nếu bỏ sót rất có nguy cơ bục mỏm ruột thừa, gây viêm phúc mạc hoặc rò
manh tràng sau mổ.
19
Đóng bụng theo các lớp giải phẫu, trong trường hợp viêm phúc mạc,
nên đóng bụng một lớp, để da hở, hoặc đóng bụng 1 lớp từ phúc mạc tới da
bằng chỉ Monofil to, cắt chỉ chậm sau 2 - 3 tuần, hoặc khâu da thì 2 khi tổ
chức hạt đã tốt.
1.2.9.2. PhÉu thuËt néi soi c¾t ruét thõa:
* Lịch sử phát triển phẫu thuật nội soi :
Trên thế giới [5,8,21,13]:
Nội soi đã có từ thời Hypocrates, kéo dài qua thời kỳ trung cổ, nhưng
mãi đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX mới bắt đầu phát triển. Trong lịch
sử 100 năm gần đây, phẫu thuật nội soi trở thành hiện thực nhờ vào 3 bước
đột phá quan trong.
- Sự phát minh ra bóng đèn đốt nóng bằng dây tóc của Thomas Edson
và sự phát triển hệ thống kính dùng cho các kính soi vào các thập niên 1870
và 1880.
- Sự phát minh ra hệ thống kính hình que của Hopkins vào cuối thập niên
1950 cùng với sợi quang dẫn truyền ánh sáng lạnh vào dầu thập niên 1960.
- Sự phát triển của các Mini-camera có vi mạch điện toán (coputer chip
video camera) vào thập niên 1980. Sự bùng nổ này cũng nhờ các bước phát
triển qua các thập niên.
1920, Zollikofor đã khám phá ra sự hữu ích của khí CO 2 để dùng bơm
vào ổ bụng hơn là máy lọc không khí Nitơ.
1929, Kalk một bác sỹ người Đức giới thiệu về sự tiến bộ của một hệ
Internet.
Ngày 18/6/2009 hội nghị phẫu thuật nội soi Châu Âu lần thứ 17 tổ chức tại
Thụy Sỹ đã công nhận kỹ thuật mổ không sẹo hay phẫu thuật một vết mổ [21,22].
21
Tình hình phẫu thuật nội soi ở Việt Nam[5,6,7,10].
Năm 1992, Phẫu thuật cắt bỏ túi mật qua nội soi được thực hiện đầu
tiên tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Năm 1992, Bệnh viện Việt Đức Phẫu thuật cắt bỏ túi mật và u nang
buồng trứng đầu tiên sau đó từ năm 1996, phẫu thuật nội soi cắt RT được thực
hiện thường qui ở một số bệnh viện lớn như Việt Đức, Bạch Mai, Chợ Rẫy,
Bệnh viện TWQĐ 108… rồi lan ra khắp các bệnh viện trong cả nước, và đến
nay cũng đã trở thành một phẫu thuật thường qui, mà yêu cầu của phẫu thuật
nội soi cũng như mổ mở là tìm được RT, cắt mạc treo RT cầm máu, cắt RT
hết gốc và buộc được gốc RT (buộc chỉ, khâu hay kẹp clip), có thể khâu vùi
hoặc không vùi gốc.
Năm 2008, Nguyễn Tấn Cường cắt RT chưa có biến chứng bằng một
trocar [16].
Năm 2010 , Bệnh viện Việt Đức phẫu thuật cắt RT nội soi 1 lỗ.
Năm 2011, Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cắt RT nội soi qua một vết
mổ, cắt túi mật bằng Triport ...
Năm 2011, Triệu Triều Dương cắt Túi Mật bằng Triport Qua một vết mổ
Tại Bệnh viện108. Phạm Anh Vũ và cs cắt RT và Túi mật chưa có biến chứng
bằng một vết mổ sử dụng Triport tại Bệnh viện Trung Ưng Huế [18,31,33]..
* Phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa.
Phẫu thuật nội soi cắt RT nhờ có dụng cụ soi ổ bụng có thấu kính mỏng
ngắn với máy quay video cho phép phẫu thuật viên quan sát bên trong ổ bụng
qua một vết rạch nhỏ trên thành bụng (thay cho một vết mổ lớn) để tìm thấy
RTV, RT có thể được cắt bỏ và đưa ra ngoài bởi những dụng cụ chuyên biệt
mới. Hiện nay tên gọi của phương pháp này cũng chưa được thống nhất. Có
nhiều tên gọi khác nhau như:
Single-port access surgery = SPA
Laparo-endoscopic single-site surgery = LESS.
Single-incison laparoscopic surgery = SILS.
23
One port umbilical surgery = OPUS.
Single port incisoless conventional equipment-utilizing surgery = SPICES.
Khi tổng hợp lại những tên gọi trên và dịch ra tiếng việt, chúng tôi thấy tên
gọi phẫu thuật nội soi một lỗ hay một vết mổ tương đối phù hợp.
Có ba loại phẫu thuật nội soi một vết mổ:
+ Sử dụng một trocar duy nhất [16,21]: chỉ thực hiện những phẫu thuật
đơn giản như cắt túi mật, cắt RT, cắt u ngang buồng trứng….
Hình 1.3. Một trocar duy nhất[16]
+ Sử dụng nhiều trocar qua một cổng gọi là Multiport bằng chất dẻo.
Cổng này được đặt vào thành bụng qua vết rạch da 2,5-3cm ở rốn.
Hình 1.4. Hệ thống Pnavel[36,37,38]
+ Sử dụng 3 trocar qua nhiều vết chọc cân cơ thành bụng trong một vết
rạch da chung.
24
Hình 1.5. Các trocar qua một vết mổ [BV Việt Đức].
Ngoài ra, kỹ thuật này còn được sử dụng trong: Cắt túi mật, Cắt u nang
buồng trứng, Cắt bỏ tử cung, Cắt thận, Cắt gan ….
* Các biến chứng của phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa[7,9,10,40].
Các biến chứng liên quan đến bơm CO2 vào ổ phúc mạc:
- Tim mạch: có sự thay đổi trên điện tâm đồ, rối loạn nhịp tim và thậm
chí có thể ngừng tim. Về huyết động, khi áp lực ổ bụng tăng quá cao sẽ làm
giảm lưu lượng máu về tim đồng thời tăng sức cản của mạch máu ngoại vi
đưa đến giảm cung lượng tim và suy tim, vì vậy điều chỉnh áp lực ổ bụng phải
tuân thủ các thông số đã được khuyến cáo và cần theo dõi sát.
+ Nhịp châm: là loại rối loạn nhịp tim hay gặp nhất, do thành bụng căng
và kích thích phúc mạc dẫn đến phản ứng cường phó giao cảm. Tuy nhiên đây
là biến chứng thường không nguy hiểm.