BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN TIẾN VỮNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG VÀ
CHO THỊT CỦA TỔ HỢP LAI SASSO X LƯƠNG PHƯỢNG
VÀ SASSO X (SASSO X LƯƠNG PHƯỢNG) TẠI MỘT SỐ
TRANG TRẠI CHĂN NUÔI TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐINH VĂN CHỈNH
HÀ NỘI - 2008
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Vững
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các hình
vii
2.2.
Khả năng về sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
6
2.3.
Khả năng cho thịt của gia cầm
19
2.4.
Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới và ở Việt Nam
20
3.
Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
29
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
29
4.1.1.
Tuổi đẻ của tổ hợp lai SL và SSL
40
4.1.2
Khối lượng gà mái qua các giai đoạn đẻ
41
4.1.3
Tỷ lệ đẻ của tổ hợp lai SL và SSL
45
iii
4.1.4
Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống
4.1.5.
Khối lượng trứng của gà mái thuộc tổ hợp lai SL và gà mái lai
4.2.3
Tiêu tốn thức ăn cho gà lai nuôi thịt
72
4.2.4.
Mổ khảo sát
75
4.2.5.
Chỉ số sản xuất của gà lai nuôi thịt
79
4.2.6
Hiệu quả kinh tế nuôi gà lai SL và SSL
81
5.
Kết luận
84
: Kilogam tăng trọng
NXB
: Nhà xuất bản
Tr
: Trứng
TG
: Trứng giống
TT
: Tuần tuổi
TB
: Trung bình
TL
: Tỷ lệ
TTTA
: Tiêu tốn thức ăn
Tên bảng
Trang
4.1. Tuổi đẻ của tổ hợp lai SL và SSL qua các giai đoạn
40
4.2. Khối lượng gà mái qua các giai đoạn đẻ
41
4.3. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống
47
4.4. Tiêu tốn thức ăn/ 10 trứng, 10 trứng giống
52
4.5. Khối lượng trứng qua các giai đoạn đẻ
53
4.6. Tỷ lệ ấp nở
55
4.7. Tỷ lệ nuôi sống của gà lai nuôi thịt
80
4.15. Sản lượng thịt hơi/ mái đẻ
81
4.16. Hiệu quả kinh tế nuôi gà lai SL và SSL
82
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
4.1a.
Gà đẻ, tổ hợp lai trống Sasso x mái Lương Phượng
42
4.1b.
Gà đẻ tổ hợp lai Sasso x (Sasso x Lương Phượng)
58
4.7.
Tỷ lệ nở gà con loại 1 so với tổng trứng ấp
60
4.8a.
Gà con 1 ngày tuổi của tổ hợp lai trống Sasso x mái Lương
Phượng
4.8b.
62
Gà con 1 ngày tuổi tổ hợp lai Sasso x (Sasso x Lương
Phượng)
62
4.9.
Sinh trưởng tích luỹ của gà lai SL và SSL
67
4.10.
1. MỞ ĐẦU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chăn nuôi gia cầm từ lâu đã gắn bó với đời sống nhân dân, nó có vai trò
quan trọng trong việc cung cấp thịt và trứng cho xã hội. Ngày nay đời sống
kinh tế xã hội phát triển rất nhanh, nhu cầu về thực phẩm cũng không ngừng
tăng cao. Vì vậy chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng trong
những năm qua đã phát triển mạnh mẽ. Đồng thời khoa học về giống, thức ăn
đã phát triển tích cực trong những năm qua là yếu tố giúp cho chăn nuôi và
sản phẩm chăn nuôi của thế giới không ngừng tăng cao.
Ở Việt Nam chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có
tốc độ phát triển nhanh và hướng tới phát triển bền vững với giá trị sản xuất
lớn. Năm 1986 giá trị ngành chăn nuôi đạt 9.059,8 tỷ đồng, năm 2002 là
21.199,7 tỷ đồng và năm 2006 đạt 48.654,5 tỷ đồng chiếm 24,7 % giá trị sản
xuất nông nghiệp. Trong đó chăn nuôi gia cầm chiếm 19% giá trị sản xuất
trong chăn nuôi. Như vậy chăn nuôi gia cầm chỉ đứng thứ hai sau chăn nuôi
lợn, và giữ vai trò quan trọng trong nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Về đàn gia cầm, năm 1986 có 99,9 triệu con thì năm 2003 là 254 triệu
con (trong đó gà 185 triệu con, vịt ngan ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng
7,85%/năm. Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm nên số lượng đầu con
có giảm. Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con trong đó gà 152 triệu
con, thuỷ cầm 62,6 triệu con. Các vùng có số lượng gia cầm lớn như: Vùng
đồng bằng sông Hồng 58,4 triệu con, vùng Đông Bắc bộ là 42,5 triệu con;
Đồng bằng sông Cửu Long 36,4 triệu con (chủ yếu là thuỷ cầm); vùng Bắc
Trung bộ 33,2 triệu con, Đông Nam bộ 15,4 triệu con, Duyên hải miền Trung
12,5 triệu con, Tây Bắc 8,8 triệu con, Tây Nguyên 7,8 triệu con.
1
giống trôi nổi ngoài thị trường, (Phùng Đức Tiến và cộng sự 2007 [34])
2
Hiện nay ở Nam Định chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà lông
màu nói riêng khá phát triển. Đàn gia cầm thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2008
là 5.079.146 con trong đó có 3.733.834 con gà. Trong đàn gà có 911.382 con
gà công nghiệp. Như vậy hàng tháng Nam Định cần 400.000 đến 500.000 con
giống gà công nghiệp các loại, trong đó nhu cầu gà giống lông màu từ
200.000 đến 300.000 con. Lượng con giống gà công nghiệp lông màu này do
các trang trại tại Nam Định cung cấp khoảng 100.000- 150.000 con còn lại là
mua từ Công ty cổ phần gà giống Châu thành và từ nơi khác về.
Chính vì vậy để đáp ứng yêu cầu cung cấp gà lông màu nuôi thịt chúng
tôi tiến hành đề tài “Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt
của tổ hợp lai Sasso x Lương Phượng và Sasso x (Sasso x Lương Phượng)
tại một số trang trại chăn nuôi tỉnh Nam Định”
1.2.
Mục đích
- Đánh giá khả năng sinh sản của tổ hợp lai Sasso x Lương Phượng và tổ
hợp lai Sasso x (Sasso x Lương Phượng)
- Khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà thương phẩm của hai tổ hợp lai trên
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi gà thương phẩm của tổ hợp lai
Sasso x Lương phượng và tổ hợp lai Sasso x (Sasso x Lương Phượng)
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phượng đều có tuổi thành thục sớm tuổi đẻ trứng đầu dao động trong khoảng
142 – 152 ngày. Tỷ lệ đẻ tăng nhanh sau 2 tuần đạt mức 30% và sau 4 tuần
đạt 50% tỷ lệ đẻ đỉnh cao ở tuần tuổi 28-29.
Theo Đoàn Xuân Trúc và cộng sự (2005) [45] Tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên dòng HB5 dao động từ 134-143 ngày tuổi, bình quân là 137 ngày tuổi.
Dòng HB7 dao động từ 138-149 ngày tuổi, bình quân là 142 ngày.
* Sản lượng trứng, năng suất trứng của gia cầm là yếu tố đánh giá trực
tiếp khả năng sinh sản của gia cầm. Gà có sản lượng trứng cao thì năng suất
trứng qua các giai đoạn đẻ sẽ cao. Các giống gà chuyên trứng có sản lượng
trứng 260 – 320 quả/mái/năm. Các giống gà chuyên thịt có sản lượng trứng
thấp hơn, sản lượng trứng chỉ đạtt 150 – 210 quả/mái/năm. Những giống gà
năng suất trứng cao thì tỷ lệ đẻ thường xuyên duy trì ở mức cao, chi phí thức
ăn cho 10 quả trứng sẽ thấp. Sản lượng trứng phụ thuộc nhiều vào chăm sóc
nuôi dưỡng đàn gà mái.
Khối lượng của đàn gà mẹ ở các giai đoạn gà dò và gà đẻ cũng ảnh
hưởng rất lớn đến sản lượng trứng. Nếu đàn gà phát triển đồng đều ở các giai
đoạn và đúng với trọng lượng chuẩn của dòng, giống thì sẽ thu được sản
lượng trứng cao nhất. Phùng Đức Tiến và công sự (2007) [33] khối lượng cơ
thể lúc 20 tuần tuổi của gà KL (Kabir x Lương Phượng) là 2.160,25g, gà
Kabir B là 2.168,52, gà LV2 là 2098,30 g. Tài liệu hướng dẫn chăn nuôi gà bố
mẹ của Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam (2002) cho biết khối lượng gà
SASSO- SA31L lúc 20 tuần tuổi là 2.250g.
* Khối lượng trứng của gia cầm cũng là một chỉ tiêu quan trọng đánh
giá khả năng sinh sản của gia cầm. Khối lượng trứng phụ thuộc vào giống,
dòng, chăm sóc nuôi dưỡng và tuổi đẻ. Cùng tỷ lệ đẻ như nhau những đàn nào
trứng có khối lượng lớn hơn thì thu được tổng khối lượng trứng cao hơn. Khối
lượng trứng còn đặc biệt quan trọng đối với việc đánh giá khả năng sinh sản
5
Khả năng về sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
6
2.2.1. Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời, liên tục trong cơ thể động
vật cũng như trong cơ thể gia cầm. Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng,
kích thước của cơ thể do kết quả của quả của sự phân chia các tế bào dinh
dưỡng.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [24], đã dẫn tài liệu của
Gatnez cho biết trong quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của sự phân
chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Theo tài liệu của
Chambers (1990) [57], Mozan (1977) đã định nghĩa sinh trưởng là tổng sự
sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không
những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh
dưỡng. Trần Đình Miên và cộng sự (1975) [22] đã khái quát: Sinh trưởng là
một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều
cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn thể bộ phận của
cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Cùng với quá
trình sinh trưởng các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn
thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Về mặt sinh học sinh
trưởng của gia súc, gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên
ngoài (thức ăn) chuyển hoá thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng
giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước. Tuy nhiên,
cũng có những hiện tượng tăng khối lượng cơ thể không do quá trình tổng
hợp protein như: Sự tích luỹ mỡ, tích luỹ nước trong cơ thể gia súc gia cầm.
Sự sinh trưởng của động vật thường tuân theo những quy luật nhất
định. Các tác giả Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [24] đã cho
biết: Viện sĩ A.F. Midedorpho (1867) là người đầu tiên phát hiện quy luật
việc làm cần thiết vì đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá năng suất thịt
8
của dòng và giống. Trong thực tế để đánh giá khẳ năng sinh trưởng, người ta
thường dùng các chỉ số sinh trưởng tích luỹ, sinh trưởng tuyệt đối, sinh
trưởng tương đối hoặc chỉ số sinh trưởng K.
Sinh trưởng tích luỹ Là sự tăng khối lượng cơ thể, kích thước các
chiều đo trong một đơn vị thời gian nhất định. Khối lượng cơ thể ở tại một
thời điểm nào đó là chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả năng
sinh trưởng. Xác định được khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian khác
nhau như: 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi … sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng
tích luỹ. Đối với gà thịt sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng
nhất làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau.
Từ những số liệu về sinh trưởng tích luỹ chúng ta có thể vẽ được đường
cong sinh trưởng của gà thịt gồm 4 pha với các đặc điểm chính sau:
- Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở
- Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất
- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn.
- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành.
Trần Long (1994) [14] đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các
dòng gà V1, V3, V5 thuộc dòng gà Hybro (HV85), đường cong sinh trưởng
của 3 dòng gà có sự khác nhau và trong mỗi dòng gà giữa gà trống và mái
cũng có sự khác nhau. Tốc độ sinh trưởng cao ở 7-8 tuần tuổi đối với gà trống
và 6-7 tuần tuổi đối với gà mái.
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể
tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (T.C.V.N 2.39, 1977)
[38]. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabol, với gà thịt thường đạt đỉnh
cao từ 6-8 tuần. Đơn vị sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày.
: Hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng locut (I)
Như vậy kiểu di truyền của gen (G) sẽ được xác định bằng công thức:
G=A+D+I
Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu để xác định mức độ ảnh
hưởng của di truyền đến sinh trưởng của gia súc, gia cầm người ta sử dụng
10
đại lượng hệ số di truyền. Tác giả Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999) [12] đã
khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên
giá trị kiểu hình. Theo tài liệu của Chambers (1990) [57] thì Siegel và Kiney
đã tổng kết tương đối hoàn chỉnh về hệ số di truyền tốc độ sinh trưởng của
con bố là từ 0,4-0,6. Marco (1982) [62] đã thông báo hệ số di truyền của tốc
độ sinh trưởng là từ 0,4-0,5. Theo Kushner (1978) [11] hệ số di truyền khối
lượng sống của gà 1 tháng tuổi là 0,33; gà 2 tháng tuổi là 0,46; gà 3 tháng tuổi
là 0,44; gà 6 tháng tuổi là 0,55 và của gà trưởng thành là 0,43.
Trần Long (1994) [14] đã công bố hệ số di truyền của 3 dòng gà V1,
V3,V5 thuộc giống gà HV85 ở 9 đời theo phương pháp phân tích phương sai:
- Dòng V1: Gà trống h2D=0,312, gà mái: h2D= 0,394
- Dòng V3: Gà trống h2S+D=0,275, gà mái: h2D= 0,260
- Dòng V5: Gà trống h2S+D=0,309, gà mái: h2D= 0,363.
Theo Beskhlebnova và ctv (1972) [69], sự tồn tại của các gen hoặc
nhóm gen trong các dòng và giống gia súc, gia cầm rất khác nhau cho nên
dòng và giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng không giống nhau. Trong quá
trình chọn, tạo giống với mục đích kinh tế khác nhau thì khối lượng cơ thể
của chúng rất khác nhau. Ví dụ: gà hướng thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh
hơn gà kiêm dụng và gà hướng trứng. Kết quả nghiên cứu của các tác giả:
Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (1996) [5], Nguyễn Đăng Vang và cộng sự
của tổ hợp lai làm căn cứ cho việc chọn giống gia súc gia cầm (Lê Đình
Lương, Phan Cự Nhân, 1994, [19]). Khi lai các loài, chủng, giống hoặc các
dòng nội phối khác nhau thì con lai thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về
sinh trưởng, về khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, sức chống chịu bệnh tật
(Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân 1994 [19]). Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức
chịu đựng, năng suất đời con do giao phối không đồng huyết và nuôi trong
12
những điều kiện khác nhau.
Theo các tác giả Nguyễn Ân, và cộng sự (1983) [2]: trong chăn nuôi việc
lai tạo giữa các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng nói chung đã xuất hiện
ưu thế lai ở các tính trạng sản xuất. Ưu thế lai trong chăn nuôi thể hiện đa dạng,
khó xếp loại thật rành mạch, nhưng đều thể hiện rõ nhất là con lai F1 có ưu thế
lai cao hơn bất kỳ con nào khác ở các thế hệ tiếp theo là F2, F3…Fn.
Trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt là chăn nuôi gà thịt người ta đã sử
dụng triệt để ưu thế lai để làm tăng tốc độ sinh trưởng của gà con, tăng khối
lượng cơ thể gà của gà thịt. Theo tài liệu của tác giả Smetnev (1975) [71]:
Các giống gia cầm hướng thịt, trứng hoặc kiêm dụng được tạo ra và tồn tại
trên cơ sở cơ cấu giống là: các dòng và các gia đình. Từ các dòng và các gia
đình dựa vào khả năng phối hợp các nhà chuyên môn đã tìm ra các công thức
lai chéo dòng (lai đơn và lai kép) làm xuất hiện ưu thế lai ở thế hệ đầu tiên F1.
Bởi vậy trong chăn nuôi gà thịt, gà lai F1 (thương phẩm) bao giờ cũng có tốc
độ sinh trưởng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn
so với gà bố mẹ. Gà thịt Broiler của các giống: Plymouth-Rock; Hybro, Ross208,
2.2.2.3. Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh
trưởng và phát triển của gia cầm
Chúng ta đã biết các tính trạng số lượng trong đó có tốc độ sinh trưởng
và khối lượng cơ thể của gà thịt chịu ảnh hưởng rất lớn các tác động môi
trường E (Environment). Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998)
lại nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ
chậm lại. Tác giả đã dẫn thí nghiệm của V.I.Phedorop (1973) chứng minh
trong bất kỳ trường hợp nào thức ăn tốt cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển,
nhưng tính chất chu kỳ của sinh trưởng vẫn luôn luôn tồn tại. Rovimen (1994)
[65] qua nghiên cứu đã xác định ảnh hưởng của các mức protein và năng
lượng trong khẩu phần đến khả năng tăng khối lượng và chuyển hoá thức ăn
14
của gà Broiler Ross – 208. Theo Bùi Đức Lũng (1992) [16] để phát huy khả
năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng
được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với năng lượng.
Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần được bổ sung hàng loạt các chế phẩm
sinh học không mang theo ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh
trưởng làm tăng chất lượng thịt. Các tác giả Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng,
Phạm Quang Hoán (1995) [21] đã xác định được nhu cầu protein thích hợp
nuôi gà Broiler cho năng suất cao. Trần Công Xuân và công sự (1995) [50]
khi nghiên cứu chế độ dinh dưỡng nuôi gà Broiler AV-35 gồm 9 lô thí
nghiệm với 3 mức năng lượng và protein khác nhau cho thấy khối lượng gà ở
56 ngày tuổi khác nhau rõ rệt.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
(1995) [18]; Bùi Quang Tiến và cộng sự (1995) [37] đều đã khẳng định ảnh
hưởng rất lớn của thức ăn và dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng của gia
cầm. Hàm lượng các axit amin là rất quan trọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin
trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và hệ số chuyển hoá thức ăn. Trong
trường hợp sinh trưởng tối đa, việc bổ sung axit amin sẽ cải thiện hệ số
chuyển hoá thức ăn.
Như vậy thông qua cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu của nhiều
nhà chuyên môn đã chứng minh rõ ràng sự ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
của thức ăn đối với khả năng sinh trưởng của gà thịt.
Broiler nuôi trong môi trường mát mẻ và ôn hoà cho năng suất cao hơn môi
trường nóng. Ví dụ gà từ 4-8 tuần tuổi ở nhiệt độ 10 – 150C đạt khối lượng cơ
thể 1205 – 1249g và hệ số chuyển hoá thức ăn là 2,41 – 2,33, ở 21,10C đạt khối
lượng cơ thể 1225g, hệ số chuyển hoá thức ăn là 2,23. Nhưng ở 26,70C khối
lượng cơ thể đạt 1087g và hệ số chuyển hoá thức ăn là 2,30. Khi nhiệt độ môi
trường cao trên 26-270C sẽ gây stress nhiệt vì gà con không thể giải thoát được
nhiệt mà cơ thể sản sinh ra, do đó sẽ làm giảm quá trình trao đổi chất, giảm khả
16
năng sử dụng thức ăn, tăng tần số hô hấp dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng. Gà
con từ 7 tuần tuổi trở lên nhạy cảm với nhiệt độ cao hơn gà dưới 7 tuần tuổi.
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [18], gà Broiler nuôi
trong vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn nhu cầu vụ đông 10-15%.
Theo Salah và cộng sự (1946) [66] cho biết nhiệt độ trong ngày đầu tiên nên
từ 280C-350C sau đó giảm dần xuống 210C. Kết quả thí nghiệm cho thấy gà
Broiler 4-8 tuần tuổi tăng khối lượng đạt 1225g ở 210C nhưng chỉ đạt 1087g ở
260C. Theo tác giả sự giảm tăng khối lượng này chủ yếu là do giảm lượng
thức ăn ăn vào. Bùi Đức Lũng (1992) [16] cho biết tiêu chuẩn nhiệt độ trong
chuồng nuôi là 18-200C sau 4 tuần tuổi.
* Ảnh hưởng của ẩm độ không khí
Ẩm độ không khí quá cao có ảnh hưởng không tốt đến tốc độ sinh
trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn ẩm ướt, lượng khí độc sinh ra nhiều
và là môi trường thuận lợi để vi khuẩn gây bệnh phát triển. Trong mọi điều
kiện của thời tiết nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm;
bởi vì nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất
nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, ẩm độ cũng cao sẽ làm cho cơ
thể gia cầm thải nhiệt khó khăn dẫn đến cảm nóng, ở mọi môi trường gà con
đều sử dụng thức ăn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát dục.