nghiên cứu thành phần sâu, nhện hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ rầy xanh (empoasca flavescens fabr.) hại chè vụ xuân hè 2009 tại quảng long hải hà quảng ninh - Pdf 31

Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học nông nghiệp hà nội
----------

----------

Vi Thị Hằng

Nghiên cứu thành phần sâu, nhện hại, Đặc điểm
sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ
rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.) hại chè vụ xuân
hè 2009 tại Quảng long - Hải Hà - Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: bảo vệ thực vật
Mã số: 60.62.10

Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. nguyễn thị kim oanh

Hà Nội - 2009


Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và cha đợc sử dụng để bảo vệ một học vị
nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn đã đợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận
văn đều đợc chỉ rõ nguồn gốc.

Mục lục
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

v

Danh mục hình

vii

1.

Mở đầu

1

1.1

Đặt vấn đề


23

3.1

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

23

3.2

Đối tợng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

23

3.3

Nội dung nghiên cứu

24

3.4

Phơng pháp nghiên cứu

25

4.

Kết quả và thảo luận


43


4.2.1

Đặc điểm hình thái và kích thớc các pha phát dục của rầy xanh
(E. flavescens)

43

4.2.2

Đặc tính sinh vật học của rầy xanh (E. flavescens)

45

4.2.3

Sức đẻ trứng của rầy xanh (E. flavescens)

46

4..2.4 Tỷ lệ nở của rầy xanh (E. flavescens)
4.3

47

Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hởng tới diễn biến số lợng của các
loài sâu, nhện hại chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà Quảng Ninh


74

4.4.2

Xác định hiệu lực của 3 loại thuốc BVTV trừ nhện đỏ (O. coffeae)

75

4.4.3

Xác định hiệu lực của 3 loại thuốc BVTV trừ bọ trĩ (P. setiventris)

76

5.

Kết luận và đề nghị

79

5.1

Kết luận

79

5.2

Đề nghị

40

4.3

Kích thớc các pha phát dục của rầy xanh (E. flavescens)

43

4.4

ảnh hởng của nhiệt ẩm độ đến thời gian phát dục các pha của
rầy xanh (E. flavescens)

4.5

45

Sức đẻ trứng của loài rầy xanh (E. flavescens) ở điều kiện nhiệt độ
trong phòng thí nghiệm

46

4.6

Tỷ lệ nở của trứng rầy xanh (E. flavescens) trong phòng thí nghiệm

47

4.7


4.12.

Diễn biến mật độ nhện đỏ (O. coffeae) trên một số giống chè vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảnh Ninh

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip v

61


4.13

ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ nhện đỏ
(O. coffeae) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà Quảng Ninh

4.14

Diễn biến mật độ bọ trĩ (P. setiventris) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.15

65

Diễn biến mật độ bọ trĩ (P. setiventris) trên một số giống chè vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.16

63

75

Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ bọ trĩ (P. setiventris) vụ xuân hè
2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip vi

77


Danh mục hình
STT

Tên hình

Trang

3.1.

Thí nghiệm nuôi cá thể rầy xanh

28

3. 2.

Cây chè làm thức ăn cho rầy xanh

28

3.3.

4.4.

Diễn biến mật độ rầy xanh (E. flavescens) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảnh Ninh

4.5.

Diễn biến mật độ rầy xanh (E. flavescens) trên một số giống chè
vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.6.

50
53

ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ rầy xanh
(E. flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà Quảnh Ninh

4.7.

55

ảnh hởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ rầy xanh
(E. flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà Quảnh Ninh

4.8.

Diễn biến mật độ nhện đỏ (O. coffeae) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảnh Ninh


4.13.

64

69

ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ bọ trĩ
(P. setiventris) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà Quảng Ninh.

4.14.

ảnh hởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ bọ trĩ (P. setiventris) hại
chè vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.15.

74

Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ nhện đỏ (O. coffeae) vụ xuân hè
2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.17.

72

Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ rầy xanh (E. flavescens) vụ xuân hè
2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh

4.16.


triệu USD, tăng 18,43% so với cùng kỳ năm 2007. Với chủ trơng phát triển kinh
tế toàn diện, ngày 10/3/1999 Thủ tớng chính phủ đ phê duyệt kế hoạch phát
triển diện tích chè đến năm 2000 là 100.000 ha và năm 2010 là 104.000 ha nhằm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc và giữ vững ổn định thị trờng xuất khẩu,
nâng cao kim ngạch xuất khẩu nên 200 triệu USD/ năm. [19]
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi có nhiều điệu kiện thuận lợi để phát
triển cây chè, 12/2003 UBND tỉnh Quảng Ninh đ phê duyệt dự án phát triển
cây chè gai đoạn 2004-2010 ở hai huyện Hải Hà và Đầm Hà. Hải Hà là nơi có
mùa hè nóng ẩm, ma nhiều, ban ngày có gió Nam từ biển thổi vào, ban đêm
d y núi Quảng Nam Châu thổi ngợc ra biển chính vì vậy mà có sự chênh lệch
biên độ giữa ngày và đêm lớn khoảng 100C, lợng ma trung bình năm trên
2000mm và chủ yếu tập trung vào tháng 5, 6, nhiệt độ trung bình năm 220C,
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 1


cao nhất vào tháng 7,8 và thấp nhất vào tháng 12. Chè ở đây đợc trồng trên
những quả đồi bát úp có độ cao khoảng 50-60m so với mực nớc biển. Đất ở
đây chủ yếu là đất Feralits vàng xám và vàng đỏ với độ sâu 0,6-0,8m rất thuận
lợi cho cây chè phát triển. Cho đến nay diện tích chè của tỉnh đ trồng đợc là
1475ha, giống chè đợc trồng chủ yếu ở đây là các giống chè lai và nhập nội
nh LDP1, LDP2, Thuý Ngọc, Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên..., những giống
này đều cho năng suất cao và chất lợng tốt hơn hẳn so với một số giống chè
của địa phơng nh. Trung Du...[29]
Việc đa cây chè về trồng ở một số huyện miền núi giáp biên của tỉnh
là việc làm thiết thực nó đ tạo việc làm ổn định và nâng cao đời sống cho các
đồng bào dân tộc và các hộ gia đình nông thôn nơi đây.
Bên cạnh những thuận lợi đó thì Quảng Long - Hải Hà còn có những
khó khăn riêng nh là vùng trồng chè mới, cha có kinh nghiệm nhiều trong
sản xuất cũng nh trong phòng trừ sâu bệnh hại vì vậy năng suất cũng nh
chất lợng chè ở đây cha cao so với các vùng trồng chè khác trong cả nớc.

Quốc, Nhật Bản, Bangladesh và cả Việt Nam. Có hai loài rầy phổ biến ở Nhật
Bản và Đài Loan đó là Empoasca onukii và Empoasca formosana, trong đó
loài E. onukii thấy chủ yếu ở Nhật Bản còn loài E. formosana chủ yếu ở Đài
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 4


Loan. ở ấn Độ phổ biến là loài Empoasca flavescens Fabr. Năm 1991
Muraleedharan [52] khi nghiên cứu về rầy xanh tác giả đ mô tả rầy trởng
thành loài Empoasca flavescens Fabr. có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài
khoảng 2,5-3 mm, con cái có ống đẻ trứng ở đốt bụng cuối cùng và đẻ trứng
rải rác từng quả trong lá. Vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục : pha
trứng - sâu non - pha trởng thành, rầy non có 5 tuổi, thời gian phát dục dài
hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao, trứng phát dục từ 6-7 ngày,
rầy non phát dục 7-9 ngày, ở nhiệt độ mùa đông giai đoạn rầy non có thể nên
tới 15 ngày.
Theo Lu-WeMing và CTV (1991) [46] bằng phơng pháp thống kê đ
dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên của rầy xanh Empoasca pirisug,
đồng thời các tác giả còn cho biết ở Trung Quốc, rầy xanh thờng có 2 cao
điểm về số lợng trong năm.
* Phòng trừ rầy xanh
Năm 1988 ở Đài Loan, sau khi tiến hành thí nghiệm phòng chống sâu
hại chè, tác giả Chen và Tseng [35] cho biết thuốc Karate có hiệu quả phòng
trừ cao đối với loài Empoasca formosana.
Theo Muraleedharan, N. (1991) [52] đ khuyến cáo kết hợp biện pháp
hái (làm giảm số lợng trứng và rầy non) và phun các loại thuốc nh:
Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này có hiệu quả rất tốt.
Qua kết quả khảo sát một số thuốc trừ sâu đối với rầy xanh, Haas
(1987) [41] cho biết một số thuốc có hiệu lực trừ rầy: Dimethoat, Acephate,
Phosphalon và hỗn hợp Trichlofon + Femitronthion. Còn ở Quảng Châu, tác
giả Lai (1993) [43] cho thấy thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ rầy xanh cao và

nh họ Tetranychidae, loài nhện B. californicus. chúng phân bố rất rộng và có
tới 43 loài cây ký chủ.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 6


3. Họ Tarsonemidae có nhện vàng (Hemitasonenus latus Bakes). Loài
này cũng có phạm vi ký chủ rộng gồm: Cà chua, cam chanh, nho, cao su và
cây cảnh.
4. Họ Eriophyidae đại diện cho nhóm nhện đỏ tía (Calacarus carinatus
Green), họ này gồm rất nhiều loài, tuỳ theo tập quán sinh sống mà có các tên
gọi khác nhau nh nhện gỉ sắt... Nhện đỏ tía này ngời ta tìm thấy ở ấn Độ,
Ceylen và Đông Nam á. Đồng thời khi nghiên cứu đặc tính sinh học của loài
nhện tác giả cho thấy 4 loài nhện trên đều có sự phân bố rộng r i và do chè là
cây độc canh trên diện tích lớn trong khi đó nhện lại có tiềm năng sinh sản
chính vì vậy mà khả năng phát sinh thành dịch là rất lớn.
Tác giả Banerjee B. và Cs (1985) [31] cho biết nhện đỏ Oligonychus
coffeae là loài bùng phát số lợng một cách thờng xuyên ở vùng phía Bắc ấn
Độ hơn là vùng Nam ấn Độ và Srilanka, chúng hại trên rất nhiều loại cây
trồng ở các nớc Đông Nam Châu á, Châu Phi và vùng Trung Đông. ở trên
chè loài nhện đỏ Oligonychus coffeae xuất hiện ở mặt trên lá, con trởng
thành sinh trởng và phát triển quanh năm không có giai đoạn diapause, mặc
dù mùa đông cây chè ở trạng thái ngủ nghỉ (ở vùng Đông Bắc ấn Độ).
* Phòng trừ nhện đỏ
Đ có rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và đa ra những biện
pháp phòng trừ đối với loài dịch hại này. Theo tác giả Banerjee (1985) [31]
tiến hành thí nghiệm đối với một số loại thuốc trừ nhện: Ethion, lu huỳnh
vôi, Dicofol, Dimethoat và Thiometon, tác giả cho biết sau một thời gian dài
cha thấy loài nhện Oligonychus coffeae có tính kháng thuốc, tuy nhiên đối
với nhện T.kanzawai có tính kháng thuốc đối với Dicofol, Organophophates
và các hợp chất tơng tự Dicofol. Ngoài ra còn một số thuốc có thể dùng để

lợng một số loài nh A. herbicolus, A. ovalis..., đồng thời lựa chọn các dòng
chè có tính chống chịu nhện góp phần làm giảm mật độ nhện hại trên nơng

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 8


chè. Còn Greathead [40] đa ra biện pháp kết hợp thuốc và thiên địch dựa trên
một số lựa chọn : Sử dụng thuốc trừ dịch hại có tính chọn lọc cao, có phổ tác
dụng rộng và thả thêm thiên địch có tính kháng thuốc vào.
Hiện nay thì hớng đi này đang đợc các nhà sinh thái côn trùng và
côn trùng học quan tâm, muốn có sự kết hợp giữa các phơng pháp này có
hiệu quả, cần phải hiểu rõ về hệ thống hệ sinh thái, mối quan hệ giữa dịch
hại và thiên địch.
2.1.4 Nghiên cứu về bọ trĩ
Bọ trĩ hay còn gọi là bộ cánh tơ là loài sâu hại phổ biến ở các vùng chè
trên thế giới. Tác hại của chúng là làm cho búp chè chùn lại, lá non bị biến
dạng, thô cứng và không phát triển đợc dẫn đến năng suất cũng nh chất lợng
chè bị giảm đáng kể. Sự phân bố của một số loài bọ trĩ cũng rất khác nhau.
Theo Muraleedharan (1992) [53] cho biết ở các vùng chè thuộc Châu á
thì họ Thripidae có đến 9 loài, chúng phân bố ở Nhật Bản, Bangladesh, ấn
Độ, Srilanka và Indonesia. Còn ở Châu Phi, tác giả Rattan (1992) [56] cho biết
loài Scirthrips aurantii gây hại ít ở Nam Phi nhng chúng lại là loài gây hại
chủ yếu ở Malawi và Zimbawe. Loài Scirthrips kenyensis Mound gây hại
nhiều ở Đông Phi. Loài Scirthrips sp cũng thấy xuất hiện ở Cameroon,
Madagascar và Burundi. Loài bọ trĩ đen H.haemorrhoidalis gây hại nặng ở
một vài nơi của Uganda, Kenya và Tanzania.
Năm 1976 ở Malawi Ellis, R.T. và Rattan, P.S. (1977) [39] đ tiến
hành điều tra trên 12990 ha chè kết quả cho thấy 6785 ha chè bị bọ trĩ hại
chiếm 52% và đây chính là nguyên nhân gây thất thu sản lợng lớn chè ở đây,
đồng thời gây ra tình trạng chè con bị chết.

khả năng đẻ tới 50 trứng đồng thời tác giả còn cho biết yếu tố môi trờng có
ảnh hởng trực tiếp đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ.
Năm 1985 ở Kenya tác giả V.Sudoi [59] đ nghiên cứu sự ảnh hởng
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 10


của lợng ma và cây che bóng đối với bọ trĩ kết quả cho thấy bọ trĩ xuất hiện
quanh năm trên đồng ruộng, nhng vào mùa khô bọ trĩ nhiều hơn. Số lợng
của bọ trĩ liên quan tỷ lệ nghịch với lợng ma của 2 tháng trớc đó, ma to
đ rửa trôi bọ trĩ nên mật độ bọ trĩ đ giảm xuống. Còn đối với những nơng
chè không đợc trồng cây che bóng thì thấy bị hại nhiều hơn ở những nơng
chè đợc trồng cây che bóng bằng cây Grevillea và điều này cũng phù hợp với
kết luận của Mkwaila B. (1982) [48] sự phá hại nghiêm trọng của loài bọ trĩ
Scirthrips aurantii ở Nam Phi nguyên nhân là do sự phá bỏ cây che bóng trên
nơng chè.
Cũng nghiên cứu về sự ảnh hởng của cây che bóng Muraleedharan
(1992) [54] cho rằng cờng độ cây che bóng có vai trò quyết định tới mật độ
của bọ trĩ, rệp muội, bọ xít muỗi và nhện, đặc biệt trên những nơng chè
không có cây che bóng thì luôn bị thiệt hại nhiều do bọ trĩ và nhện gây ra, còn
ở những nơng chè có cây che bóng nhng mật độ dày và ẩm thì bị bọ xít
muỗi gây hại nhiều.
* Phòng trừ bọ trĩ
Trên thế giới có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và tìm ra các biện
pháp phòng trừ đối với loài sâu hại này. Theo Muraleedharan và Kandaswamy
(1980) [50] phòng trừ bọ trĩ nên kết hợp giữa biện pháp sinh học với biện pháp
hoá học và cho rằng trong tự nhiên, bọ trĩ bị điều chỉnh bởi nhiều loài ký sinh
và ăn thịt. Tuy vậy để phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả tác giả cho rằng việc phòng
trừ bọ trĩ không thể không dùng thuốc hoá học.
Năm 1988, Rattan [57] đ thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ Scirthrips
aurantii bằng biện pháp đốn kết hợp với phun thuốc hoá học, kết quả cho thấy

sâu hại. Chính vì thế mà có nhiều tác giả trong và ngoài nớc đ và đang
nghiên cứu, sử dụng chúng vào việc phòng trừ sâu, bệnh hại chè nhằm giảm
bớt lợng thuốc hoá học dùng trên chè.
Theo Chen H.T (1988) [34] cho biết ở Đài Loan ngời ta đ nuôi loài
nhện Ambliseus longispinosus để phòng trừ nhện hại Oligonychus coffeae và
Tetranychus kanzawai trên cây đậu Hà Lan.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 12


Khi nghiên cứu và điều tra thành phần thiên địch của nhện kanzawai
trên chè ở Đài Loan tác giả Lo (1989) [45] cho biết có 2 loài quan trọng là
Ambliseu womersleyi và Stethorus loi, trong đó loài S.loi có sức ăn mồi lớn
tuy nhiên loài này thờng xuất hiện muộn hơn so với nhện hại nên không có
vai trò trong việc hạn chế đợc nhện hại, còn loài A.womersleyi chúng xuất
hiện sớm kể cả lúc mật độ nhện hại thấp nên có khả năng điều chỉnh đợc mật
độ nhện tuy nhiên loài này lại hay bị một số hợp chất khác tiêu diệt nh:
Pyrethroid, Carbofuran, Carbaryl và permethrin.
Năm 1985 khi nghiên cứu thiên địch của nhện đỏ Oligonychus coffeae,
tác giả Banerjee [31] thấy rằng có rất nhiều loài nhện thuộc họ Phytoseiidae,
Stigmaeidae, các loài côn trùng thuộc họ bọ rùa nh Stethoous gilviron, các
loài thuộc họ Chrysopidae, Staphylinidae là thiên địch của nhện đỏ và các loài
nhện khác hại chè tuy vậy các loài này không thể hạn chế đợc sự bùng phát
thành dịch của nhện đỏ ở đầu vụ xuân.
Theo Somhoudhury, Shaha (1995) [58] điều tra nghiên cứu và phòng
trừ nhện đỏ Oligonychus coffeae trên nhiều đồn điền chè ở Bắc Bengal và
Đông Bắc ấn Độ, tác giả đ kết luận rằng trong số các loài ăn thịt thì nhóm
Phytoseiid chúng chiếm u thế nhất và có vai trò lớn trong việc điều hoà số
lợng nhện hại, đồng thời tác giả cũng thu thập đợc 39 loài nhện ăn thịt
thuộc nhóm Phytoseiid, thuộc các họ Phytoseiidae, Stiymaeidae, Bdellidae,
Tydeidae, Anystidae, Cunaxidae, Erythriadae và Acidae.

triển kinh tế của đất nớc nhu cầu sử dụng chè của ngời dân ngày càng tăng.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng chè trong nớc cũng nh ngoài nớc, các nhà
nghiên cứu đ lai tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất cao, chất lợng tốt
tuy nhiên những giống này thờng cũng là nguồn thức ăn a thích của các loài
sâu, nhện hại, chính vì vậy mà những năm gần đây sự xuất hiện sâu, bệnh trên
nơng chè ngày một nhiều vì thế mà có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về
thành phần sâu, nhện hại chè. Theo Đỗ Ngọc Quỹ [18] sau khi đi quan trắc
trên chè Du Pasquier (1932) đ xác định có 24 loài sâu, nhện hại chè trong đó
các loài thờng xuyên gây hại là rầy xanh, nhện đỏ, nhện tím, nhện trắng, sâu
chùm, bọ xít hoa và dế.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 14


Sau cuộc điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam năm 1967-1968 Viện
Bảo vệ thực vật [31] đ xác định đợc 34 loài sâu, nhện hại chè thuộc 6 bộ
1. Bộ Lepidoptera có 17 loài
2. Bộ Orthoptera có 3 loài
3. Bộ Homoptera có 3 loài
4. Bộ Hemiptera có 7 loài
5. Bộ Coleoptera có 2 loài
6. Bộ Isoptera có 2 loài
Trong đó có 7 loài thờng xuyên xuất hiện đó là: Sâu chùm (Andraca
bipunctata Walk.), sâu cuốn lá (Cacoecia micaceana Walk.), rệp sáp (Coscus
viridis Green), rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), bọ xít muỗi (Helopeltis
sp.), bọ xít hoa (Poecilocoris latus) và mối (Odontotermes sp.) [6]
Theo Hồ Khắc Tín 1982 [27] đ nhận xét sâu, nhện hại chè vùng Bắc
Bộ thờng có rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ và một số sâu ăn lá.
Bọ xít muỗi đ trở thành dịch hại nguy hiểm đối với vùng chè Trung Du.
Kết quả nghiên cứu về thành phần nhện hại tác giả Nguyễn Khắc Tiến
và CTV (1994) [26] cho biết đ xác định có 5 loài nhện hại chè đó là: Nhện

nảy mầm của hạt.
Từ những kết quả nghiên cứu trên về thành phần sâu, nhện hại chè cho
ta thấy các loài sâu hại đó đều phát sinh ở tất cả các vùng trồng chè tuy nhiên
chúng phát sinh và gây hại ở các mức độ khác nhau, những vùng chè lâu năm
chúng thờng phát sinh nhiều hơn so với các vùng chè mới.
Các tác giả trên còn nhận định rằng thành phần sâu, nhện hại chủ yếu ở
Việt Nam cũng có những loài giống sâu hại chính ở một số nớc lân cận.
2.2.2 Nghiên cứu về rầy xanh
Theo Nguyễn Khắc Tiến (1986) [25] cho rằng rầy xanh Empoasca
flavescens Fabr. là loài sâu hại búp chè chủ yếu ở nớc ta, chúng dùng vòi hút
nhựa búp non theo đờng gân của lá non gây ra những nốt chấm nhỏ nh kim
châm làm cho những mầm lá non cong queo lại và khô đi.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status