nghiên cứu cơ sở khoa học phòng trừ rầy xanh empoasca flavescens fabr và bọ trĩ pphisothrips setriventris bagn hại chè vùng phú thọ - Pdf 13

1
2

Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè ở n-ớc ta có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế cũng nh- xã
hội và môi tr-ờng. Sản phẩm chè đảm bảo đủ nhu cầu tiêu dùng trong n-ớc và
là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị. kim ngạch xuất khẩu chè đạt 20 - 25
triệu USD mỗi năm [2,5]. Hiện nay cả n-ớc có khoảng 7 vạn ha chè, đ-ợc
trồng chủ yếu ở 14 tỉnh trung du miền núi. Phát triển cây chè ở các vùng đó
đã góp phần điều hoà sự phân bố dân c- giữa đồng bằng và miền núi. Đồng
thời góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môi tr-ờng sinh thái.
Theo kế hoạch phát triển đến năm 2000 [2,2], diện tích chè n-ớc ta sẽ
lên đến 7,5 vạn ha và năm 2010 là 9 vạn ha. Năng suất chè bình quân của cả
n-ớc ta hiện nay là 3,41 tấn búp t-ơi / ha / năm, thấp hơn nhiều so với các
n-ớc trong khu vực và châu á nh- Malaysia (10,3 tấn / ha), Indonesia (8,8
tấn / ha), ấn Độ (7,8 tấn / ha) và Sri Lanka (5,4 tấn / ha).
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho năng suất chè của
ta thấp là vì sâu bệnh phá hại. Do khí hậu thích hợp, cây chè sinh tr-ởng hầu
nh- quanh năm, nên sâu bệnh phát triển rất đa dạng và liên tục, gây khó khăn
cho công tác phòng trừ. Theo Đỗ Ngọc Qũy (1990) [35] hàng năm sâu bệnh
gây thiệt hại từ 20 - 30 % sản l-ợng chè. Trong số các loài sâu hại chè phổ
biến ở n-ớc ta thì rầy xanh (Empoasca flavescens), bọ trĩ (Physothrips
setiventris) là những loài hại búp quan trọng, chúng th-ờng phát sinh thành
dịch trên diện rộng và gây nhiều thiệt hại .
Rầy xanh hại làm cho những phần non bị tổn th-ơng, gặp điều kiện
khô nóng sẽ bị khô đầu lá và mép lá. Tác hại của chúng không những đã làm
giảm năng suất mà còn ảnh h-ởng đến phẩm chất búp chè. Theo Nguyễn

4

- Theo dõi và tổng kết đ-ợc tài liệu trong nhiều năm về biến động số
l-ợng và ảnh h-ởng của các yếu tố sinh thái đối với rầy xanh, bọ trĩ hại chè ở
vùng Phú Thọ, làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp phòng trừ rầy xanh
và bọ trĩ hại chè có hiệu quả.
- Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ
của sản xuất chè ở vùng Phú Thọ. Bằng việc nghiên cứu khả năng hạn chế số
l-ợng sâu hại của các biện pháp kỹ thuật canh tác và hoá học, đề ra hệ thống
các biện pháp phòng trừ sâu hại chè, góp phần nâng cao năng suất chè , đảm
bảo an toàn cho môi tr-ờng sinh thái và vệ sinh thực phẩm.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Nắm đ-ợc các đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của rầy xanh,
bọ trĩ hại chè.
- Nắm đ-ợc qui luật phát sinh phát triển của rầy xanh, bọ trĩ và các yếu
tố sinh thái ảnh h-ởng đến qui luật phát sinh phát triển đó.
- Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại chè, trong đó chủ yếu là rầy xanh
và bọ trĩ trên cơ sở phòng trừ tổng hợp.
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu rầy xanh, bọ trĩ trên chè sản xuất kinh doanh và chè
kiến thiết cơ bản. Các giống nghiên cứu là các giống đã đ-ợc mở rộng ở điều
kiện sản xuất và một số giống trong các thí nghiệm giám định. Cây che bóng
là muồng lá nhọn Indigofera teysmanni Miq. .
Trên cơ sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu về rầy xanh, bọ trĩ của
Trại thí nghiệm chè Phú Hộ, đề tài tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học, qui
luật phát sinh phát triển và một số yếu tố ảnh h-ởng đến rầy xanh, bọ trĩ,
trong đó có ảnh h-ởng của thuốc hoá học. Từ đó, đề ra hệ thống các biện
pháp phòng trừ thích hợp để áp dụng vào sản xuất.

5

14,4%. Các n-ớc ấn Độ, Trung Quốc và Kenya chiếm 71,4 % tổng sản l-ợng
chè. Sản xuất chè trên thế giới từ năm 1980 đến 1994 tăng 2,55 % hàng năm.
Từ năm 1963 đến 1995 diện tích chè tăng 95 %. (Năm 1995 diện tích chè thế
giới là 2,565 triệu ha), tổng sản l-ợng chè tăng 156 % (Năm 1995 tổng sản
l-ợng chè thế giới đạt 2,59 triệu tấn) .
ở Việt Nam, theo Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong (1997) [36,18
- 137], do điều kiện xã hội, quá trình sản xuất và phát triển cây chè ở Việt
Nam không đều đặn. Thời kỳ từ 1890 - 1945, sản xuất chè rất phát triển, năm
1939 sản l-ợng chè Việt Nam đứng hàng thứ 6 trên thế giới. Thời kỳ từ 1945
- 1954 diện tích và sản l-ợng đều giảm sút. Thời kỳ từ 1954 về sau, sản xuất
chè đ-ợc mở rộng và phát triển mạnh.
Hiện nay chè đ-ợc trồng nhiều ở 30 tỉnh, trong đó 14 tỉnh miền núi và
trung du phía Bắc là 42.273 ha, chiếm 63,4 %. Nền sản xuất chè của n-ớc ta
tăng dần cả về diện tích và sản l-ợng. Dự kiến đến năm 2000, diện tích chè sẽ
là 75.000 ha, năng suất trung bình là 4,5 tấn / ha. Đến năm 2010, diện tích
chè sẽ là 90.000 ha, năng suất trung bình 6,5 tấn / ha, sản l-ợng sẽ đạt
500.000 tấn búp t-ơi t-ơng đ-ơng 100.000 tấn chè khô [2, 2 - 8].
1.1.3. Tình hình sâu hại chè và tác hại của chúng đối với cây chè trên
thế giới và ở Việt Nam
Những nghiên cứu về sâu hại chè đã đ-ợc nhiều tác giả trên thế giới
quan tâm. Theo Rattan, 1992 [133, 331-352 ] có tới trên 200 loài côn trùng và
nhện đã đ-ợc biết trên chè ở Châu Phi, nh-ng chỉ có một số ít loài quan trọng.
Sâu hại lá là quan trọng nhất, tác hại của chúng làm suy yếu cây chè và trực
tiếp làm giảm năng suất. Trong số các loài hại lá, búp, có các loài quan trọng
nh- bọ xít muỗi (Helopeltis schoutedeni Rent. và H. orophila Ghesq.) , bọ trĩ
(Thrips spp.), rệp muội (Aphidae), một số loài sâu cánh vảy và nhện hại.
7

Theo Muraleedharan (1992) [112, 375 - 408] côn trùng, nhện và tuyến
trùng là những nhóm động vật hại chè chủ yếu ở Châu á. Cây chè là đối

(Zeuzera coffeae) , mọt đục cành (Xyleborus sp.), nhện hại có 5 loài, bọ trĩ có
Dendothrips bispinosus và Physothrips setiventris , rầy xanh (Empoasca
flavescens ), bọ xít muỗi (Helopeltis sp.), sâu cuốn búp (Homona coffearia).
Theo Othieno (1994) [123, 79 - 85] ở Kenya có những loài sâu nếu
không áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ trở thành sâu có tầm quan trọng
kinh tế nh- bọ trĩ (Scirtothrips kenyensis) và các loài nhện đỏ (Oligonychus
coffeae, Brevipalpus phoenicis, Calacarus carilatus).
Srivastava và Butani (1987) [143, 16-21] cho biết ở ấn Độ đã định
danh trên 200 loài sâu hại chè, chúng hại thân, lá, rễ và búp chè. Quan trọng
nhất là các sâu d-ới đất, sâu chích hút và các loại sâu ăn lá.
ở n-ớc ta, theo Đỗ Ngọc Quỹ (1990) [35] thì Du Pasquier (1931 -
1932) đã xác định 28 loài sâu bệnh hại chè, trong đó sâu hại có 25 loài. Các
tỉnh phía Bắc Việt Nam có các loài sâu quan trọng nh- : Sâu Chùm (Andraca
bipunctata Walk.); Bọ xít hoa (Poecilocoris latus); Rầy xanh (Empoasca
flavescens Fabr.); Nhện đỏ (Paratetranychus bioculatus Wood); Sâu đục thân
mình đỏ (Zeuzera coffeae Niet.).
Năm 1967 - 1968 sau cuộc tổng điều tra côn trùng ở các tỉnh phiá Bắc,
Viện Bảo vệ thực vật đã có danh mục sâu hại chè gồm 34 loài. Các loài
th-ờng xuất hiện nhiều nh- : Sâu chùm (Andraca bipunctata Walk.); Sâu
cuốn lá (Cacoecia micaceana Walk.); Rệp sáp xanh (Coccus viridis Green);
Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.) ; Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.); bọ xít
hoa (Poecilocoris latus); Mối (Termes sp.) [21,456 - 457].
Trạm nghiên cứu chè tiếp tục nghiên cứu thành phần sâu hại chè các
năm 1986 - 1987 đã cho biết : Các loài quan trọng và phổ biến có rầy xanh,
nhện đỏ và bọ trĩ, còn bọ xít muỗi chỉ hại cục bộ ở một số khu vực và một số
9

giống chè nhất định ở Phú Hộ [39, 11-12]. ở vùng Sông Cầu (Bắc Thái),
Phạm Thị V-ợng và Nguyễn Văn Hành (1989) [54, 16-22] cho biết rầy xanh,
bọ trĩ, nhện đỏ và mối là 4 loài sâu hại chè chủ yếu.

lạnh và đã áp dụng có hiệu quả trong phòng trừ bọ xít muỗi ở Malawi.
Tuy vậy, việc lạm dụng thuốc trừ sâu ở các loại cây trồng cũng nh- cây
chè đã gây ra những vấn đề bất lợi nh- ô nhiễm môi tr-ờng, hình thành các
loài gây hại có tính chống chịu, xuất hiện các loài sâu có ý nghĩa kinh tế mới,
phá vỡ các quần lạc sinh vật tự nhiên Để khắc phục những hiệu quả tiêu cực
đó thì việc tìm kiếm các biện pháp phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả mà an toàn
đã đ-ợc đặt ra. Fadeev [11,7-15] cho biết là những ph-ơng pháp bảo vệ thực
vật riêng lẻ, ngay cả những ph-ơng pháp có hiệu quả nhất cũng không thể
đảm bảo ức chế lâu dài số l-ợng sâu hại. Điều đó chỉ có thể thực hiện đ-ợc
khi sử dụng một cách có hệ thống và tổng hợp tất các các biện pháp phòng trừ
có thể có đ-ợc - Đó là ph-ơng pháp tổng hợp điều khiển quần thể sâu hại.
Đối với biện pháp hoá học, theo Novojilov K.V. và Sapiro V.A. [31,40-
52], để có thể xác định thời gian tiến hành các lần phun thuốc hoá học ít gây
hại nhất cho các loài có ích, cần nắm chắc hiện t-ợng học các loài gây hại và
thiên địch của chúng để xác định mức độ t-ơng ứng trong chu kỳ phát triển
theo mùa, hành vi gây hại và sự phân bố trên cây của chúng.
Theo đó, để xây dựng và áp dụng có hiệu quả hệ thống tổng hợp các
biện pháp phòng trừ sâu hại chè, cần thiết phải hiểu sâu sắc về sinh học, sinh
thái các loài gây hại, sinh tr-ởng của cây chè và các kỹ thuật trồng trọt nói
chung , với rầy xanh Empoasca flavescens Fabr., bọ trĩ Physothrips
setiventris Bagn. nói riêng.
11

1.2 Nghiên cứu về rầy xanh và bọ trĩ trên thế giới và trong n-ớc
1.2.1. Những nghiên cứu về rầy xanh hại chè
1.2.1.1. Phân bố, tác hại và phạm vi ký chủ
Rầy xanh Empoasca flavescens Fabr. rất phổ biến ở ấn Độ. Eden

flavescens (Castor jasiid).
Kết quả điều tra côn trùng của Viện Bảo vệ thực vật năm 1967 - 1968
đã cho biết loài rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens Fabr. là loài côn trùng
đa thực, chúng hại trên nhiều loại cây trồng nh- lúa, khoai lang, bông, đay,
mía, dâu, lạc, đậu t-ơng, vừng, chè, thuốc lá, đậu xanh, cà chua, rau muống,
cam , điền thanh. Loài này xuất hiện nhiều từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm
[21, 53 - 467].
Hồ Khắc Tín (1982) [51, 184-186] cũng cho rằng rầy xanh là loài sâu
hại búp chè quan trọng ở n-ớc ta và có nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, ấn
Độ. Ngoài chè, rầy xanh còn hại các cây trồng khác nh- lúa, khoai lang,
bông, cà, thuốc lá.
Nguyễn Khắc Tiến (1986) [50, 41] còn cho biết rầy xanh (Chlorita
flavescens Fabr.) phân bố ở hầu khắp các n-ớc trồng chè. ở n-ớc ta, các
vùng chè thấp, vùng chè trung bình và vùng cao Hà Tuyên, Mộc Châu,
Pleiku, Bảo Lộc đều có rầy xanh gây hại nghiêm trọng. Ngoài chè, rầy xanh
còn hại các cây lạc, đậu t-ơng, đậu xanh
1.2.1.2. Hình thái và đặc điểm sinh học
Muraleedharan (1991) [111, 45- 46] mô tả tr-ởng thành rầy xanh loài
Empoasca flavescens Fabr. có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài 2,5 - 2,75 mm.
Đẻ trứng rải rác từng quả trong lá. Giai đoạn trứng từ 6 - 13 ngày tuỳ theo
thời tiết. Rầy non trải qua 5 tuổi thành rầy tr-ởng thành. Giai đoạn rầy non
13

phụ thuộc thời tiết. ở nhiệt độ cao, rầy non phát dục 8 - 10 ngày, ở nhiệt độ
thấp giai đoạn rầy non có thể tới 15 ngày.
Du Pasquier (1932) [165,611- 614] cũng cho biết rầy xanh Empoasca
flavescens là loài sâu chích hút, màu xanh lá mạ, con tr-ởng thành dài 2 - 2,5
mm. Trứng có hình cong, dài 0,5 mm. Sâu non lột xác 4 lần thành sâu tr-ởng
thành. Vòng đời của rầy xanh từ 9 - 18 ngày.
1.2.1.3. Qui luật phát sinh phát triển và các yếu tố ảnh h-ởng

Năm 1991 [99, 30-31], Lu- WenMing và các cộng tác viên, bằng
ph-ơng pháp thống kê đơn giản đã dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên
của rầy xanh Empoasca pirisuga. Các tác giả cho biết ở Trung quốc, rầy
xanh th-ờng có 2 cao điểm về số l-ợng trong năm. Trong một hệ thống điều
tra thực hiện từ năm 1982 - 1988, thời gian cao điểm đầu tiên đã đ-ợc xác
định là t-ơng quan với nhiệt độ trung bình (r = 0,7793) và nhiệt độ tối thiểu
(r = 0,8189) trong tháng 4. Kết quả số liệu 7 năm đã cho thấy ph-ơng pháp
này dự báo chính xác đ-ợc 85,7 % .
ở Nhật Bản, Mochizuki M. và cộng tác viên (1991) [108,29 - 36] dự
báo rầy xanh Empoasca onukii bằng bẫy dính, cho biết dùng bẫy màu vàng
bắt rầy xanh tr-ởng thành thích hợp hơn so với bẫy màu xanh nhạt, xanh lá
cây, đỏ và trắng. Trên cơ sở bắt rầy bằng bẫy dính đã cho thấy thời kỳ cao
điểm của rầy tr-ởng thành vào đầu tháng 6. Số l-ợng rầy xanh tr-ởng thành
bị bắt phản ánh mật độ rầy trên đồi chè.
Lê Thị Nhung (1996) [28,33 - 35], trên cơ sở của mật độ rầy, tỷ lệ búp
chè bị hại và biểu hiện triệu chứng tác hại đã đ-a ra ng-ỡng kinh tế đối với
rầy xanh là ở mật độ rầy v-ợt quá 5 con / khay.
1.2.1.5. Biện pháp phòng trừ
Về phòng trừ rầy xanh, các tác giả đã đề cập một số biện pháp đã đ-ợc
áp dụng gồm cả biện pháp hoá học và kỹ thuật canh tác. ở Đài Loan, Chen
và Tseng (1988) [67, 1-14] khảo nghiệm nhiều loại thuốc trừ nhện, rầy xanh
15

và sâu cuốn búp. Các tác giả đã chỉ ra rằng các loại thuốc nh- Applaud, Lavin
và Lannate có hiệu lực thấp, nh-ng Karate lại rất có hiệu quả đối với rầy
xanh Empoasca formosana.
Muraleedharan N. (1991) [111,46] cho rằng hái sẽ loại đ-ợc một phần
lớn trứng và rầy non. Các loại thuốc nh- Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu
này có hiệu quả.
ở Việt Nam, Du Pasquier (1932) [165] đã giới thiệu một số biện pháp

đồn điền trồng chè lớn ở n-ớc này đều bị bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis
gây thiệt hại nặng.
Khi nghiên cứu về loài bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis, Crowe T. J.
(1967) [76, 11-16] nhận xét loài bọ trĩ này đã gây nhiều thiệt hại cho chè ở
Meru (Kenya), ở vùng núi cao miền Nam Tanzania và miền Tây Uganda.
Ngoài ra, các vùng chè khác trên thế giới đều có. Phạm vi ký chủ của loài này
rất rộng.
Rao,G.N. (1974) [126, 18 - 32] khi thảo luận về tình trạng sâu hại chè
ở Nam ấn Độ đã nhấn mạnh bọ trĩ là một trong số các loài sâu gây thiệt hại
cho chè khá nghiêm trọng.
Ellis, R.T. và Rattan, P.S. [85, 7-10] điều tra ở Malawi trong tháng 12
năm 1976 trên 12990 ha chè, thấy 6785 ha bị bọ trĩ hại, chiếm 52 %. Đây là
nguyên nhân thất thu một số l-ợng lớn sản l-ợng chè, đặc biệt là chè đã đốn.
Đồng thời cũng gây ra tình trạng chết ở chè con.
Qua các cuộc điều tra sâu, bệnh hại chè ở Kenya năm 1978, Lima
C.P.F. [98, 20-25] và các cộng tác viên cho biết có các loài sâu hại chè chính
là rệp Toxoptera aurantii, bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis và nhện
Brevipalpus phoenicis.
Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [115, 447-448], khi nghiên cứu
17

về bọ trĩ đã cho biết phổ ký chủ và sự phân bố của một số loài nh- sau :
(1) Scirtothrips dorsalis Hood: Hại trên một số cây có tầm quan trọng
kinh tế bao gồm cả cây chè và đ-ợc gọi tên phổ biến là Chillies thrips, hoặc
bọ trĩ Assam, nó gây nhiều thiệt hại cho chè ở Đông Bắc ấn Độ.
(2) Scirtothrips bispinosus Bagn. : Phân bố rộng, với số l-ợng lớn, có
ở hầu hết các vùng chè Nam ấn Độ. Chúng th-ờng đ-ợc gọi là bọ trĩ cà phê.
(3) Heliothrips haemorrhoidalis Bouche : Có tính ăn tạp cao và phân
bố tự do, hại nhiều loại cây trồng nông nghiệp. Nó đ-ợc ghi nhận nh- một
loài sâu hại cà phê, loài này thấy có ít trên chè.

Indonesia, Bangladesh và Nhật Bản. Họ Phlaeothripidae có 1 loài ở ấn Độ,
đó là loài Haplothrips tenuipennis Bagn Bọ trĩ hại búp và lá non làm cho lá,
búp có những vết sẹo sần sùi, mặt lá cong lại. Rất dễ nhận thấy thiệt hại của
bọ trĩ trên n-ơng chè đang hồi phục sau đốn.Chúng làm chậm lại giai đoạn
bấm búp định hình và hậu quả là thiệt hại đến sản l-ợng chè.
Rattan (1992) [133, 331-341] đã giới thiệu về sự phân bố của một số
loài bọ trĩ hại chè, thời gian phát sinh của chúng ở châu Phi nh- sau : Loài
Scirtothrips aurantii hại chè ít hơn so với hại cây có múi ở Nam phi, nh-ng
chúng lại là sâu hại chè chủ yếu ở Malawi và Zimbabwe. Loài Scirtothrips
kenyensis Mound hại nhiều ở Đông Phi. Loài Scirtothrips sp. cũng có mặt ở
Burundi, Cameroon và Madagascar. Loài bọ trĩ đen H. haemorrhoidalis gây
hại nghiêm trọng ở vài nơi của Kenya, Tanzania và Uganda.
Khi tìm hiểu về các loài cây bị hại do bọ trĩ, Viggiani và Bernardo
(1996) [153,73-75] cũng cho biết loài bọ trĩ H. haemorrhoidalis gây thiệt hại
cả cho cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát ở thành phố và cả ở cây hoang dại.
19

ở Việt Nam, nghiên cứu về bọ trĩ hại chè đ-ợc bắt đầu t-ơng đối sớm,
ngay trong thời Pháp thuộc do Du Pasquier (1932) , nh-ng còn dừng lại ở
mức rất hạn chế. Sau năm 1960, một số tác giả khác nh- Nguyễn Khắc Tiến
(1963), Vũ Khắc Nh-ợng (1973), Nguyễn Văn Hành và Phạm Thị V-ợng
(1990), Nguyễn Văn Hành (1992), Lê Thị Nhung (1996) đã đề cập tới bọ trĩ
nh-ng ch-a có dịp đi sâu.
Du Pasquier (1932) [166, 696 - 699 ] đã tìm hiểu các loài bọ trĩ hại chè
và cà phê và sự phân bố, tập tính sinh sống và triệu chứng, tác hại. Ông cho
biết có 4 loài bọ trĩ hại chè là những loài nguy hiểm thực sự :
- Physothrips setiventris hại rải rác ở ấn Độ, th-ờng có nhiều ở
Darjeeling và Java.
- Heliothrips haemorrhoidalis hại cây canh-ki-na ở Java, hại cả chè, cà
phê, ngô nh-ng sự phá hại ở mức độ nhẹ.

(1) Scirtothirips dorsalis Hood : Vòng đời hoàn thành trong 13 - 17
ngày tuỳ theo mùa. Chúng làm nhộng trong địa y trên thân cây chè . Loài này
có cả hai hình thức sinh sản đơn tính (parthenogenesis) và hữu tính (sexual
reproduction) .
(2) Scirtothrips bispinosus Bagn.: Vòng đời hoàn thành trong 19 ngày
và có trên 12 lứa mỗi năm. Chúng sinh sản theo cả hai hình thức đơn tính và
hữu tính.
(3) Heliothrips haemorrhoidalis Bouche : Chỉ có hình thức sinh sản
đơn tính. Vòng đời từ 20 - 40 ngày tuỳ điều kiện thời tiết.
(4) Physothrips setiventris Bagn. : Vòng đời hoàn thành trong 3 tuần.
Loài này ch-a đ-ợc nghiên cứu chi tiết.
Khi viết về kết quả nghiên cứu của mình Mkwaila (1981) [102,11- 14]
cho biết Bọ trĩ sinh sản, ăn và sống trong và xung quanh búp chè, đặc biệt có
21

nhiều ở những búp nhô lên trên mặt tán. Tác giả cho biết vòng đời của bọ trĩ
Scirtothrips aurantii trong thời kỳ tháng 10 đến tháng 12 ở Malawi nh- sau :
Trứng phát dục 6 ngày; Tuổi 1 là 2 ngày; Tuổi 2 là 2,5 ngày; Tiền nhộng, 1
ngày; Nhộng, 2 ngày. Tr-ởng thành con cái sau vũ hoá 24 giờ bắt đầu đẻ
trứng và đẻ trong vòng 3 ngày. Con tr-ởng thành có thể sống trong 6 tuần và
có thể đẻ tới 50 trứng.
Đối với loài bọ trĩ Scirtothrips bispinosus Muraleedharan (1991) [111,
47 - 48] cho biết thời gian phát dục của trứng là 6 - 8 ngày, của tuổi 1 từ 2 - 3
ngày, của tuổi 2 từ 3 - 4 ngày. Cuối tuổi 2 chúng rơi xuống đất và chuyển vào
giai đoạn tiền nhộng, sau đó là nhộng, giai đoạn này từ 3 - 5 ngày. Đồng thời
Muraleedharan (1992) [112, 375 - 412] còn cho biết loài bọ trĩ Scirtothrips
dorsalis -a thích đẻ trứng ở những nơi che bóng và ẩm. Hầu hết chúng hoá
nhộng ở những nơi dễ ẩn nấp nh- lá già, kẽ nứt của cây, rêu, rác r-ởi.
Theo Du Pasquier (1932) [166, 696-699], bọ trĩ Physothrips setiventris
Bagn. là loài sâu nhỏ, cơ thể dài 1 - 1,5 mm, qua 4 lần lột xác thành sâu

Nguyễn Khắc Tiến (1963) [45, 11-12] cho biết loài bọ trĩ (Physothrips
setiventris Bagn.) hại chè phát triển rải rác quanh năm, tập trung nhiều vào
tháng 3-4 và tháng 7-8. Chè con kém chăm sóc cũng nh- chè ở gần đai rừng
chắn gió th-ờng bị hại nặng.
Về ảnh h-ởng của cây che bóng đối với bọ trĩ và sâu bệnh hại chè đã
đ-ợc nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Cây che bóng không
những ảnh h-ởng có lợi cho năng suất và chất l-ợng chè mà nhiều tr-ờng hợp
còn ảnh h-ởnglàm giảm sâu bệnh hại cho cây chè.
Theo Eden (1958) [84, 88- 91], đặc tr-ng nổi bật của vùng chè assam
là có cây che bóng lâu dài. Giống cây Albizzia đ-ợc sử dụng rộng rãi nhất ở
vùng này. Những loài thích hợp là A. stipulata, A. procera, A. lebbek, A.
odoratissima. Những cây này với mật độ trồng 40 x 40 ft. (1 ft = 0,305 m)
23

đ-ợc xén tỉa hoặc cắt ngọn, đến lúc tr-ởng thành chúng có tác dụng làm
giảm c-ờng độ ánh sáng xuống còn 50 %. Loài cây Grevillea robusta đ-ợc sử
dụng rộng rãi và rất phù hợp ở Sri Lanka, Nam ấn Độ, Đông Phi và
Nyasaland, nh-ng nó lại không phù hợp ở assam.
ở Sri Lanka, T.Visser (1961)[154, 69-79] đã cho biết sản l-ợng chè
trong 10 năm theo dõi d-ới tán cây trẩu (Aleuristis montana) và cây họ đậu
(Albizzia stipulata) trong điều kiện không bón phân. Năng suất ở n-ơng chè
không có cây che bóng là 970 lb / acre, n-ơng chè che bóng bằng cây trẩu là
1000 lb / acre và n-ơng chè có cây che bóng họ đậu là 1170 lb / acre (1 lb =
0,454 kg; 1 acre = 0,405 ha). Bằng phân tích thống kê, Viser đã chỉ ra rằng
năng suất chè giữa che bóng bằng cây trẩu và không che bóng t-ơng đ-ơng
nhau ( sai khác không có ý nghĩa ). Còn năng suất chè giữa che bóng bằng
cây trẩu và cây họ đậu cũng nh- giữa che bóng bằng cây họ đậu và không che
bóng khác nhau trong tất cả các năm nghiên cứu. Đối với sâu bệnh hại chè,
cây che bóng ảnh h-ởng gián tiếp đến bệnh phồng lá. Mùa m-a năm 1958 ở
St. Coom, nơi không có cây che bóng, tỷ lệ nhiễm bệnh là 14 %, còn ở nơi

một năm đã có thể che bóng.
- Cây trẩu (Aleuristis montana).
- Cây bồ kết tây (Albizzia lebbek).
Đối với chè, Trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã nghiên cứu tập đoàn cây
phân xanh làm cây che phủ cho chè. Các báo cáo khoa học các năm 1974 -
1976 [3] [38] đề cập tới một tập đoàn cây che phủ gồm 26 loài cây thuộc bộ
đậu, đó là các loại cây vừa thân gỗ, vừa thân thảo. Những nghiên cứu này chủ
yếu giải quyết các vấn đề chống xói mòn và cải tạo đất. Các vấn đề về đặc
điểm thực vật và kỹ thuật trồng trọt của các loài cây này cũng đã đ-ợc nghiên
cứu, nh-ng ch-a có những nghiên cứu về sự ảnh h-ởng của cây che bóng tới
tình hình sâu bệnh và năng suất, chất l-ợng chè.
25

1.2.2.4. Dự tính dự báo
Về dự báo thời gian phát sinh các cao điểm của bọ trĩ ít đ-ợc đề cập.
Còn về dự báo số l-ợng để phòng trừ, theo Nguyễn Văn Hành (1992) [12, 44
- 46] cho rằng khi bọ trĩ có mật độ từ 3 - 4 con / búp thì tiến hành các biện
pháp phòng trừ. Theo Lê Thị Nhung (1996) [28, 33- 35], phải phun thuốc
phòng trừ khi bọ trĩ có từ 1 - 2 con / búp .
1.2.2.5. Biện pháp phòng trừ
G.Fr

o
hlich và W.Rodewald (1970) [167, 129] đã quan tâm tới 2 loài
bọ trĩ hại chè vùng nhiệt đới là Physothrips setiventris Bagn. và Dendothrips
bispinosus Bagn. Ông đã cho biết phòng trừ các loài sâu này bằng Metyl
Parathion rất hiệu quả.
Rao và Padmanaban (1975) [127, 19-39] cho rằng biện pháp phòng trừ
bọ trĩ là rất cần thiết để giảm thiệt hại. Thuốc trừ sâu Malathion và Ethion trừ
bọ trĩ không có hiệu quả trong khi các thuốc nội hấp nh- azodrin, Nuvacron,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status