Công tác kế toán bán hàng tại công ty cổ phần đầu tư và kinh tế Hồng Hà - Pdf 31

mục lục
Lời nói đầu
PHN I: KHI QUT CHUNG V HOT NG KINH DOANH
CA CễNG TY C PHN U T KINH T HNG H
I. Đặc điểm chung của công TY CP T KT Hồng Hà
1. Quá trình hình thành và phát triển
2. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý
kinh doanh ở Công ty CP T KT Hồng Hà
3. Đặc điểm chung về công tác kế toán của Công ty CP T KT
Hồng Hà
II. Tình hình thực tế về tổ chức kế toán bán hàng
1.Chng t s dng
2.Ti khon ỏp dng
3.H thng s sỏch ỏp dng
4.Trỡnh t luõn chuyn chng t v hch toỏn k toỏn bỏn hng ti
cụng ty Hng H..
PHN II : NI DUNG CễNG TC K TON BN HNG
TI CễNG TY Cễ PHN U T KINH T HNG H
I: Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng
II: Nhiệm vụ kế toán và Nội dung tổ chức kế toán bán hàng
A. Kế toán hàng hoá:
1. Đánh GIá hàng hoá:
2. Kế toán nhập xuất kho hàng hoá
B. Kế toán bán hàng và xác định kết quả
1. Các phơng thức bán hàng
2. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh
thu
C. Kế toán hàng hoá
1. Công tác tổ chức quản lý chung về hàng hoá
2. Các thủ tục nhập xuất kho và chứng từ kế toán
3. Kế toán chi tiết hàng hoá

kinh tế phát sinh trên góc độ tiền tệ, hạch toán kế toán trong quản lý hoạt động
của doanh nghiệp chỉ thực hiện tốt khi công tác kế toán đợc tổ chức khoa học
và hợp lý.
Để quản lý đợc tốt nghiệp vụ bán hàng thì kế toán với t cách là một công
cụ quản lý kinh tế cũng phải đợc thay đổi và hoàn thiện cho phù hợp với tình
hình mới. Trong thời gian học tập tại trờng và thực tập tại công ty CP T KT
Hồng Hà, qua tìm hiểu thực tế nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác bán
hàng, tôi chọn đề tài: Tổ chức kế toán bán hàng
Đề tài này đ ợc chia làm 3 phần
Phn I : ỏnh giỏ thc trng cụng tỏc ca n v
PHần II :Nội dung chính của công tác kế toán bán hàng tại công ty CP
ĐT KT Hồng Hà
Phần III :Kết Luận
Trong điều kiên nghiên cứu còng nhiều hạn chế về sự hiểu biết xong
với quyết tâm em đã hoàn thiện báo cao thực tập này nhưng không thể
tránh khỏi nhũng thiếu sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận
tình của các thầy cô giáo trong nhà trường cùng các cô chú trong công ty
Đầu Tư Kinh Tế Hồng Hà đã giúp em hoàn thành báo cáo này. H N i , ng y tháng .n mà ộ à … … ă
2009
Sinh viên
V Th Hi pũ ị ệ
Phần I : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
KẾ TOÁN BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY
-------0O0-------
(482 Minh Khai - Hai B Trà ng - H N i)ư à ộ
I. Tình hình thực tế của Công ty CP ĐẦU TƯ KINH TẾ HỒNG HÀ
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP Đầu Tư Kinh Tế Hồng

Căn cứ tờ trình của ban lãnh đạo Công ty Hồng Hà về việc thành lập Công ty, các
nội dung khoản mục mà Công ty Hồng Hà đã trình tới UBND huyện thành phố Hà
Nội.
Căn cứ vào tình hình của mặt hàng thép và thành tựu mà ngành thép Việt Nam
đã đạt được trong những năm qua cũng như khả năng nhu cầu phát triển mạnh mẽ
hơn nữa trong thời gian tới.
việc thành lập Công ty CP Đầu T Kinh Tế Hồng Hà.
Được sự giúp đỡ to lớn của Tổng Công ty thép Việt Nam, Công ty thép Việt úc, Công
ty CP Đầu T Kinh Tế Hồng Hà đã chính thức đi vào hoạt động. Mặt hàng chủ yếu là
kinh doanh thép xây dựng. Trụ sở chính khu công nghiệp Sài Đồng - Gia Lâm - Hà
Nội.
Mã số thuế : HH/33433876 - HN
Số đăng ký kinh doanh :
Tài khoản : 24107682 ĐT : 04.8765356 Fax : 04.8756357
Số vốn ban dầu 900.000.000VNĐ (Chín trăm triệu Việt Nam đồng) diện tích đất
đầu tư ban đầu là 2120m
2
.
Thị trường chủ yếu là thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận.
Biểu số 01: Một số chỉ tiêu cơ bản của Công Ty CPĐTKT Hồng Hà
Trong năm 2009
STT Chỉ tiêu Năm 2009
1 Doanh thu 85.996.961.954
2 Tổng lợi nhuận sau thuế 11.262.101.368
3 Tổng quỹ lương 2.720.000.000
4 Thu nhập BQ/tháng 1.300.000
(nguồn:Phòng kế toán)

1.2. Chức năng , Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty.
Trong nền kinh tế thị trường, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất đối với

thị trường thép Việt Nam.
Chính sự cạnh tranh gay gắt này là động lực thúc đẩy mạnh mẽ các doanh
nghiệp phải có nhiều khâu sản xuất kinh doanh phù hợp, luôn thay đổi thiết bị
công nghệ, nâng cao tay nghề để sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt.
Chính vì vậy, năm 2003 Công ty CP Đầu T Kinh Tế Hồng Hà đã họp bàn quyết
định xây dựng nhà máy gạch Hoàng Văn Thụ đến tháng 10 năm 2004 đi vào hoạt
động và mang lại hiệu quả đáng khả quan.
Tính đến đầu năm 2009, lực lượng lao động của Công ty số lao động là 338 người,
số lao động nữ là 96 người chiếm 28% lao động, số lao động nam là 242 người
chiếm 72% lao động. Qua số liệu trên ta thấy số lao động nam chiếm phần lớn
trong tổng số lao động của công ty.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý,tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty.
a. Cơ cấu bộ máy quản lý:
Mô hình tổ chức doanh nghiệp công ty Hồng Hà
(sơ đồ 1)
Đứng đầu công ty là hội động quản trị ( hội đồng thành viên), chủ tịch hội đồng
quản trị do hội đồng thành viên bầu ra.
- Ban giám đốc, các văn phòng, phòng ban. Mỗi bộ phận đều có chức năng nhiệm
vụ của mình để thực hiện có hiệu quả.
+ Giám đốc công ty phụ trách chung, chịu trách nhiệm về hoạt động và sản xuất kinh
doanh của công ty thực hiện hạch toán kinh doanh theo đúng quy định của luật tài
chính.
Phó giám đốc là người giúp Giám đốc điều hành mọi hoạt động kinh doanh
trong công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được
Giám đốc phân công và uỷ quyền.
• Phòng kinh doanh :
Phụ trách thương mại và các hoạt động kinh doanh của C.ty thực hiện việc
nghiên cứu chiến lược thị trờng và định hướng bán hàng. Chỉ đạo các hoạt động về
tài chính và hạch toán kế toán của C.ty. Lập kế hoạch định kỳ các báo về nhu cầu
mua hàng, tình hình cung ứng tiêu thụ hàng hóa. Quản lý các kho hàng và các hoạt

toán của công ty tại các đội. Chỉ có kế toán viên làm nhiệm vụ thu nhập chứng từ
hạch toán ban đầu kiểm tra chứng từ, lập bảng kê và gửi về phòng kế toán Công ty
để hạch toán và ghi sổ kế toán. Như vậy tại các đội, chỉ ghi sổ kế toán mà không
ghi sổ tổng hợp.phòng kế toán của cụng ty tiến hành nhận chứng từ của các đơn vị
phụ thuộc gửi về, ghi sổ kế toán và lập báo cáo.
Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty
(sơ đồ 2)
Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán:
- Mọi quyết định, mọi thông tin về kinh tế, kỹ thuật của công ty đều được bàn bạc
và thống nhất với kế toán trưởng và kế toán.
Đối với Công ty CP Đầu Tư Kinh Tế Hồng Hà thì Công ty tổ chức như sau:
* Kế toán trưởng:
- Chịu trách nhiệm điều hành chung mọi công việc văn phòng kế toán, có
trách nhiệm thực hiện chế độ thể lệ của nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty.
- Giúp TGĐ tổ chức chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán thống kê ,thông tin
kinh tế kiểm soát tình hình tai chính của công ty.
* Kế toán thanh toán, công nợ:
- Lp cỏc chng t thu chi tin mt, th tc vay tr hng ngy, qun lý kho
vt t lm th tc xut nhp kho vt t cn c vo cỏc lnh sn xut phiu, yờu cu
cỏc vt t thanh toỏn cỏc chi phớ phỏt sinh.
- Giỳp trng phũng k toỏn thc hin ton b cỏc nghip v thanh toỏn ca
n v lp phiu thu-chi, chng t thanh toỏn khỏc hng ngy. Theo dừi tng hp
v chi tit vic thanh toỏn theo mt hng theo nh cung cp v hp ng kinh t c
th .
- Theo dừi phỏt sinh, s d tc thi v s d cui k ca cỏc khon phi thanh
toỏn vi cỏc t chc tớn dng, thanh toỏn vi ngõn hng v cỏc khon bo him xó
hi y t
- Kim tra, i chiu cỏc s phỏt sinh trong ngy, thỏng, nm
* K toỏn vt t:

tiếp vào sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng cộng các sổ,thẻ kế toán chi tiết và căn cứ
vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết theo tong tài khoản để
đối chiếu với sổ cái.
Số liệu tổng cộng ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật ký – Chứng từ,
Bảng kê và các Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
Đặc trưng cơ bản của hình thức NKCT:
Đây là hình thức kế toán mới ra đời trên cơ sở vận dụng các uư nhựơc điểm
của các hình thức kế toán khác, hình thức kế toán NKCT đợc áp dụng có hiệu quả
tại các doanh nghiệp có quy mô lớn trên địa bàn hoạt động phân tán trình độ
nghiệp vụ cao chế độ quản lý tương đối ổn định. Vì thế hình thức này rất phù hợp
với công ty CP Đầu T Kinh Tế Hồng Hà.
Hạch toán theo hình thức này,số liệu ghi sổ cái phải được lấy từ các
NKCT,theo nguyên tắc ghi bên có tài khoản được lấy ở một NKCT duy nhất ,còn
bên nợ lấy ở nhiều NKCT liên quan khác.
II - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KT BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY
Kế toán doanh thu bán hàng là bộ phận kế toán quan trọng trong hệ
thống kế
toán của Công ty. Nó là yếu tố then chốt và làm căn cứđể các hoạt động
phân tích về
tình hình thực tế và thấy được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp trên
thương
trường cạnh tranh gay go ác liệt. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng là theo
dõi
doanh thu bán hàng của Công ty, theo dõi doanh thu của từng trung tâm,
từng bộ phận
bán hàng, từng nhân viên bán hàng, và từng nhóm khách hàng, từng nhóm
mặt hàng.
Kế toán doanh thu bán hàng cung cấp được thông tin một cách chính xác
cho các bộ phận để có biện pháp sử lý và thay đổi chiến lược kinh doanh,
cung cấp số liệu cho kế toán tổng hợp và kế toán khác để xác định được kết

mại cho
nên hoạt động chủ yếu là mua hàng, bán hàng và đặc biệt mỗi loại chứng
từđều
phải có 3 liên trong đó 1 liên là do kế toán giữ, 1 liên được lưu giữ tại quyển
gốc,
còn lại 1 liên do thủ kho giữ (đối với phiếu nhập, phiếu xuất ) hoặc do khách
hàng
giữ ( đối với phiếu thu phiếu chi, hoá đơn GTGT)
2- Hệ thống tài khoản áp dụng :
Hệ thống tài khoản của công ty áp dụng thống nhất hệ thống tài khoản kế toán
doanh
nghiệp ban hành theo quyết định 1141TC -QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ
Tài Chính . Khi quá trình bán hàng diễn ra , đối với công tác kế toán sẽ phát
sinh các
nghiệp vụ cần phải được phản ánh như : Doanh thu bán hàng thanh toán
tiền hàng,hàng bán bị trả lại hay giảm giá hàng bán ...Thông qua các tài
khoản kế toán các nghiệp vụ đó được phản ánh vào các sổ kế toán tổng hợp
liên quan . Để phản ánh giám sát tình hình tiêu thụ thành phẩm xác định kết
quả tiêu thụ kế toán sử dụng các tài khoản sau :
+ TK 511 - Doanh thu bán hàng . Công ty áp dụng chế độ Thuế GTGT và
Thuế tiêu thụ đặc biệt, tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Các
sản phẩm hàng hoá bán ra, Công ty thực hiện hiện, bán hàng quá hạn hoặc
chất lượng kém được trả lại
Do vậy TK 511 có kết cấu như sau :
Bên Nợ ghi:
+ Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm doanh thu bán hàng, hàng bị trả lại
+ Thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụđặc biệt .
+ Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu thuần sang TK 911
Bên Có ghi :
+ Doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ theo hoá đơn .

giá trị.
- Hiện vật đợc cụ thể bởi khối lợng hay số lợng và chất lợng.
- Giá trị chính là giá thành của hàng hoá nhập kho hay gía vốn của hàng
hoá đem bán.
b. Bán hàng:
Là việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ cho
khách hàng, doanh nghiệp thu tiền hay đợc quyền thu tiền. Đó chính là quá
trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn thành phẩm hàng hoá sang vốn
bằng tiền và xác định kết quả.
Bán hàng là một chức năng chủ yếu của doanh nghiệp, bên cạnh đó nó
còn nhiều chức năng khác nh mua hàng, dự trữ hàng... Bất kỳ một doanh
nghiệp thơng mại nào cũng phải thực hiện hai chức năng mua và bán. Hai
chức năng này có sự liên hệ với nhau mua tốt sẽ tạo điều kiện cho bán tốt. Để
thực hiện tốt các nghiệp vụ trên đòi hỏi phải có sự tổ chức hợp lý các hoạt
động, đồng thời tổ chức nghiên cứu thị trờng, nghiên cứu nhu cầu ngời tiêu
dùng. Nh vậy tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức và
nắm bắt nhu cầu của thị trờng.
Chỉ có thông qua việc bán hàng - giá trị sản phẩm dịch vụ mới đợc thực
hiện do đó mới có điều kiện để thực hiện mục đích của nền sản xuất hàng
hoá và tái sản xuất kinh doanh không ngừng đợc mở rộng. Doanh thu bán
hàng sẽ bù đắp đợc các chi phí bỏ ra, đồng thời kết quả bán hàng sẽ quyết
định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Bán hàng tự thân nó không phải là một quá trình của sản xuất kinh
doanh nhng nó lại là một khâu cần thiết của tái sản xuất xã hội. Vì vậy bán
hàng góp phần nâng cao năng suất lao động, phục vụ sản xuất tiêu dùng và
đời sống xã hội. Nhờ có hoạt động bán hàng, hàng hoá sẽ đợc đa đến tay ngời
tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng về số lợng cơ cấu và chất
lợng hàng hóa, việc tiêu thụ hàng hoá góp phần cân đối giữa sản xuất và tiêu
dùng.
Kết quả cuối cùng của thơng mại tính bằng mức lu chuyển hàng hoá mà

học để thuận tiện cho việc nhập - xuất tồn kho đợc dễ dàng.
- Hệ thống kho tàng đầy đủ, phải đợc trang bị các phơng tiện bảo quản,
cân đong đo đếm cần thiết để hạn chế việc hao hụt mất mát hàng hoá trong
toàn doanh nghiệp.
- Phải quy định chế độ trách nhiệm vật chất cho việc quản lý hàng hoá
toàn doanh nghiệp.
Kế toán nói chung và kế toán hàng hoá nói riêng là công cụ đắc lực để
quản lý tài chính và quản lý hàng hoá. Kế toán hàng hoá cung cấp kịp thời
chính xác thông tin về tình hình mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng hàng hoá.
3. Sự cần thiết quản lý bán hàng và yêu cầu quản lý:
Bán hàng là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị hàng hoá, tức là
chuyển hàng hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật (hàng) sang hình
thái tiền tệ (tiền).
Hàng đợc đem bán có thể là thành phẩm, hàng hoá vật t hay lao vụ, dịch
vụ cung cấp cho khách hàng. Việc bán hàng có thể để thoả mãn nhu cầu của
cá nhân đơn vị ngoài doanh nghiệp gọi là bán hàng ra ngoài. Cũng có thể đợc
cung cấp giữa các ca nhân đơn vị cùng công ty, một tập đoàn... gọi là bán
hàng nội bộ.
Quá trình bán hàng đợc coi là hoàn thành khi có đủ hai điều kiện:
- Gửi hàng cho ngời mua.
- Ngời mua trả tiền hay chấp nhận trả tiền.
Tức là ngiệp vụ bán hàng chỉ xảy ra khi giao hàng xong, nhận đợc tiền
hay giấy chấp nhận thanh toán của ngời mua. Hai công việc này diễn ra đồng
thời cùng một lúc với các đơn vị giao hàng trực tiếp. Phần lớn việc giao tiền
và nhận hàng tách rời nhau: Hàng có thể giao trớc, tiền nhận sau hoặc tiền
nhận trớc hàng giao sau. Từ đó dẫn đên doanh thu bán hàng và tiền bán hàng
nhập quỹ không đồng thời.
Khi thực hiện việc trao đổi hàng tiền, doanh nghiệp phải bỏ ra những
khoản chi gọi là chi phí bán hàng.Tiền bán hàng gọi là doanh thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng bao gồm doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu

trên cả hai mặt hiện vật và giá trị.
- Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình bán hàng, ghi chép
kịp thời, đầy đủ các khoản chi phí, thu nhập bán hàng, xác định kết quả kinh
doanh thông qua doanh thu bán hàng một cách chính xác.
- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan,
đồng thời định kỳ có tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng
và xác định kết quả.
II. Nhiệm vụ kế toán và Nội dung tổ chức kế toán bán hàng
t i CT CP T KT Hng H
A. Kế toán hàng hoá:
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các đơn vị mua bán hàng
hoá trong nớc phải bám sát thị trờng, tiến hành hoạt động mua bán hàng hoá
theo cơ chế tự hạch toán kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh, các đơn vị
phải thờng xuyên tìm hiểu thị trờng, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu của dân c để
có tác động tới phát triển sản xuất, nâng cao chất lợng hàng hoá.
Hàng hoá của doanh nghiệp gồm nhiều loại, nhiều thứ phẩm cấp nhiều
thứ hàng cho nên yêu cầu quản lý chúng về mặt kế toán không giống nhau.
Vậy nhiệm vụ chủ yếu của kế toán hàng hoá là:
- Phản ánh giám đốc tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản và dự trữ
hàng hoá, tình hình nhập xuất vật t hàng hoá. Tính giá thực tế mua vào của
hàng hoá đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu
mua, dự trữ và bán hàng nhắm thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá.
- Tổ chức tốt kế toán chi tiết vật t hàng hoá theo từng loại từng thứ theo
đúng số lợng và chất lợng hàng hoá. Kết hợp chặt chẽ giữa kế toán chi tiết
với hạch toán nghiệp vụ ở kho, ở quầy hàng, thực hiện đầy đủ chế độ kiểm kê
hàng hoá ở kho, ở quầy hàng đảm bảo sự phù hợp số hiện có thực tế với số
ghi trong sổ kế toán.
- Xác định đúng đắn doanh thu bán hàng, thu đầy đủ thu kịp thời tiền
bán hàng, phản ánh kịp thời kết quả mua bán hàng hoá. Tham gia kiểm kê và
đánh giá lại vật t, hàng hoá.

Theo cách này giả thiết những lô hàng nào nhập kho sau đợc tính giá
mua vào của nó cho lô hàng nào xuất trớc, nhập trớc thì tính sau:
Theo phơng pháp này kế toán phải ghi sổ kế toán chi tiết mở cho từng
thứ hàng cả về số lợng, đơn giá và số tiền của từng lần nhập, xuất kho hàng
hoá.
* Phơng pháp tính giá thực tế đích danh:
Khi ta nhận biết giá thực tế của từng thứ hoặc loại hàng hoá theo từng
lần nhập kho thì có thể định giá cho nó theo giá thực tế đích danh.
* Phơng pháp giá thực tế tồn đầu kỳ:
Căn cứ vào giá trị thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ để tính giá thực tế bình
quân, sau đó căn cứ vào số lợng xuất kho và đơn giá bình quân đầu kỳ để tính
ra giá thực tế xuất kho.
1.2. Đánh giá theo giá hạch toán:
Doanh nghiệp có thể sử dụng giá hạch toán để ghi chép kịp thời tình
hình biến động hàng ngày của hàng hoá một cách ổn định. Giá có thể chọn
hoặc làm cơ sở xây dựng giá hạch toán là giá kế hoạch hay là giá nhập kho,
hệ số giữa giá thực tế với giá hạch toán làm cơ sở tính giá thực tế hàng hoá
xuất kho trong kỳ.
Hệ số giá đợc tính cho từng loại, từng nhóm, từng thứ hàng hoá tuỳ
thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
2. Kế toán nhập xuất kho hàng hoá:
2.1. Kế toán chi tiết hàng hoá:
* Chứng từ sử dụng:
Mọi nghiệp vụ biến động của hàng hoá đều phải đợc phản ánh, ghi chép
vào chứng từ ban đầu phù hợp theo đúng nội dung quy định.
Các chứng từ chủ yếu: Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, hoá đơn bán hàng,
phiếu nhập kho, biên bản kiểm kê...
Trên cơ sở chứng từ kế toán về sự biến động của hàng hoá để phân loại
tổng hợp và ghi sổ kế toán cho thích hợp.
* Hạch toán chi tiết hàng hoá là công việc khá phức tạp, đỏi hỏi phải

ợng nghiệp vụ ít không thờng xuyên.
- Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển có u điểm là khối lợng ghi chép
ít vì chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Tuy nhiên vẫn có sự theo dõi trùng lặp
giữa kho và phòng kế toán, hơn nữa công việc kiểm tra đối chiếu chỉ tiến
hành vào cuối tháng nên hạn chế chức năng của kế toán. Vì vậy phơng pháp
này chỉ áp dụng thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khối lợng, chủng
loại hàng hoá nhập xuất không nhiều, không có điều kiện ghi chép, theo dõi
hàng ngày.
Còn phơng pháp ghi sổ số d lại có u điểm là khối lợng công việc giảm
bớt và đợc tiến hành đều đặn trong tháng. Nhng do kế toán chỉ ghi theo giá
trị nên qua số liệu kế toán không thể biết trớc số hiện có và tình hình nhập
xuất của từng loại hàng hoá mà muốn biết phải xem số liệu trên thẻ kho. Bên
cạnh đó, việc kiểm tra phát hiện sai sót nhầm lẫn sẽ khó khăn. Phơng pháp
này áp dụng thích hợp trong doanh nghiệp có chủng loại hàng hoá nhiều, việc
xuất kho hàng hoá diễn ra thờng xuyên, doanh nghiệp đã xây dựng đợc hệ
thống giá hạch toán và trình độ của cán bộ kế toán tơng đối cao
2.2. Kế toán tổng hợp hàng hoá:
Hàng hoá là tài sản lu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh
nghiệp.Việc mở tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán hàng tồn kho, xác
định giá trị hàng hoá xuất kho,tồn kho tuỳ thuộc vào doanh nghiệp áp dụng
phơng pháp kế toán tổng hợp hàng hoá theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
hay phơng pháp kiểm kê định kỳ.
- Phơng phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp phản ánh ghi
chép thờng xuyên liên tục các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp. Phơng pháp
này đảm bảo tính chính xác tình hình biến động của hàng hoá.
- Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp kế toán không phải theo
dõi thờng xuyên liên tục tình hình nhập xuất, tồn kho trên các tài khoản hàng
tồn kho, mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Cuối tháng kế toán tiến hành kiểm kê và xác định số thực tế của hàng hoá để
ghi vào tài khoản hàng tồn kho.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status