Nghiên cứu góp phần xây dựng tiêu chuẩn palmatin clorid nguyên liệu - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

ĐÀO THANH TÙNG

NGHIÊN Cứu GÓP PHÂN XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN
PfiLMfiTIN CLORID NGUYÊN LIỆU
(KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP D ư ợc SỸ ĐẠI HỌC KHOÁ 1997 - 2002)

Ngưòi hướng dẫn
Nơi thực hiện
Thời gian thực hiện

: DS. NGUYỄN ĐÌNH HIỂN
: Bộ môn Hoá Dược
: 10/2001 đến 5/2002


mờ ^ qA / h ơ ì i

Ç)'rưởe tiên-, e/iữ phép tồi (tượe bàụ. tà lòttỊỊ. hiêí ơn. láu iắa ỉĩih thầy,
ạ iá o -(ĩ(ạuụễn. (Đ ình Uôiin. - níịitèứ thầụ. đ ã trựe tiê'ft hưânạ. d ẫ n tồ i râ't tận.
tìn h từ k h i tô i là. m ỗt iin h niên tàm. thưe nạhiêtn. kltỡ a hoe (‘h o đềit k h i
hơàn. th àn h Idiơá luận, tố t nựhiêft rDươe iụ

Phần 2: Thực nghiệm và kết quả
2.1- Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm
2.1.1- Nguyên vật liệu và máy móc
2.1.2- Phương pháp nghiên cứu
2 .2 -Kết quả thực nghiệm và nhận xét
2.2.1- Chiết xuất Palmatin clorid từ nguyên liệu
2.2.2- Nghiên cứu khảo sát các phép định.tính
2.2.3- Nghiên cứu khảo sát các phép thử tinh khiết

Phần 3: Kết luận và đề nghị

2
2
3
4
4
6
8
11
11

12

14
14
14
14
15
15

cho sản xuất.

1


PHẦN I: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NGUYÊN LIỆU.

Palmatin là alcaloid có trong nhiều loài thực vật khác nhau:
- Hoàng Liên chân gà:
Các loài

Coptis teeta;

Coptis chinensis;

Coptis japónica,

Họ Hoàng Liên: Ranunculaceae
- Thổ Hoàng Liên: Thalictrum foliosum, Họ Hoàng Liên: Ranunculaceae
- Hoàng bá: Phellodendron amurense,

Họ Cam: Rutaceae

- Hoàng Liên gai: Berberís wallichiana,
Họ Hoàng Liên gai: Berberidaceae
- Vàng đắng: Coscinium fenestratum,

Họ tiết dê: Menispermaceae.

+ Rbraurea tinctoria: Lá thuôn nhọn hơn. Hoa có 6 nhị, chỉ nhị dài hơn
chiều dài bao phấn.
b. Phân bố:
Cây Hoàng Đằng mọc tự nhiên ở nhiều khu rừng nước ta. Nhiều nhất ở
các khu rừng thuộc các tỉnh: Hoà Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La, Thanh
Hoá, Nghệ An, Bắc Giang, Quảng Ninh... [8 ]. Nguồn nguyên liệu mà tôi dùng
để khảo sát là Hoàng Đằng mọc hoang ở rừng Hoà bình thuộc loài Fibraurea
tinctoria Lour. [6 ] [2].

1.1.2. Thành phần hoá học của dược liệu Hoàng Đằng.
Trong thân và rễ Hoàng Đằng chứa hoạt chất là alcaloid có nhân
Isoquinolein. Trong đó alcaloid chính là Palmatin với tỉ lệ 1 - 3% (Tính theo
dược liệu khô) [2]. Các chất đi kèm:
Jatrorhizin (khoảngO,l%) và Columbamin (khoảng 0,01%). [2]. Ngoài
ra có một phần rất nhỏ Berberin.

CH
OCH3
OCH3

0CH 3
OCH3
Palmatin

Berberin

HO
H ỷO

X


- Điểm chảy: 202 - 203°c
b. Tính chất hoá học: [8]
- Hoá tính, của Nitơ:
Nguyên tố N trong phân tử Palmatin có bậc 4 nên dễ dàng có sự chuyển
hoá giữa dạng muối và dạng base tuỳ theo pH môi trường.

4


OCH,

'O C H 3

Môi trường kiềm

Môi trường acid clohydric

Nếu thay cr bằng NO"3 được Palmatin nitrat tủa tinh thể màu vàng.
- Hoá tính của mạch kép.
Do ảnh hưởng của nguyên tử N trong phân tử nên các liên kết đôi ở giữa
có thể bị khử hoá để cho dl - Tetrahydro palmatin, không màu. Khi bị oxy hoá
trở lại Palmatin màu vàng:

\^ ( oh ) /
OCHí

OCH3

Palmatin

[ 5 ]. Dung dịch 0,3% trong nước ức chế sự sinh trưởng của một số chủng:
Staphyllococcus, Streptococcus, Bacillus, Sacrina, Micrococcus, và một số vi
khuẩn Gr(+) gây viêm màng tiếp hợp khác.
Riêng Bacillus pyocyareus, Bacillus proteus thì không có tác dụng.
Palmatin clorid ít hoặc không có tác dụng với các vi khuẩn Gr (-) như
E.coli, Salmonella, Shigella... [5]
b.V ới nấm:
Palmatin có tác dụng kháng nấm tốt. Ở đổng độ 0,3% Palmatin clorid có
khả năng ức chế hoàn toàn các loại nấm âm đạo, nhưng tác dụng kém đối với
nấm Candida albicans. [5]
c.

Với kí sình trùng.

ở nồng độ 0,6% trong nước, Palmatin clorid có khả năng ức chế hoàn
toàn trùng roi âm đạo: Trichomonas vaginalis sau 3 - 5 phút. [5]

6


1.2.2.2. Tác dụng trên lâm sàng.
a. Chữa nhiễm khuẩn mắt.
Dùng Palmatin clorid dưới dạng dung dịch 0,1%; 0,3%, thuốc mỡ 0,3%
để chữa viêm kết mạc, viêm màng tiếp hợp cấp tính, bán cấp, viêm mí mắt và
bệnh đau mắt hột [ 5 ].
b. Điều trị viêm cổ tử cung.
Điều chế Palmatin clorid dưới dạng viên đặt âm đạo để điều trị viêm cổ
tử cung do tạp khuẩn, trùng roi âm đạo cho kết quả tốt [ 5 ].
c. Điều trị bệnh phụ khoa.
Điều chế Palmatin clorid với nhiều dạng bào chế: viên trứng đặt âm đạo,

/

Các chế phẩm của Palmatin nói chung đều có nhược điểm lớn nhất là có
màu vàng dễ gây bẩn và không mỹ quan. Hiện nay, với sự xuất hiện của nhiều
dược phẩm có tác dụng tốt hơn, Palmatin clorid ít được quan tâm. Tuy nhiên
với nhiều ưu điểm Palmatin clorid vẫn được các cơ sở điều tiị đặc biệt ở tuyến
địa phương khó khăn về kinh tế và có sẩn nguồn nguyên liệu quan tâm, nhất là
các chế phẩm thuốc tra mắt và thuốc rửa phụ khoa.

1.2.3. Chiết xuất Palmatin clorid từ dược liệu Hoàng Đằng.
Trong dược liệu Palmatin tồn tại dưới dạng muối của các acid hữu cơ:
muối tartrat, citrat, oxalat... [8 ]. Các dạng muối này có khả năng tan chậm
trong nước, cồn.
Sau khi chiết bằng dung môi thích hợp, chuyển Palmatin thành dạng
muối clorid bằng cách kết tinh trong acid clohydric thu được Palmatin clorid.
Tinh chế thì thu được Palmatin clorid dược dụng.
Dựa vào dung môi sử dụng, có thể chia làm hai phương pháp chiết xuất
palmatin.
- Chiết xuất bằng dung môi nước.
- Chiết xuất bằng ethanol.

1.2.3.1. Chiết xuất bằng dung môi nước.
a.Phương pháp dùng acid acetic hoặc dấm ăn:
Qua các giai đoạn: [7]

8


- Chiết xuất: Dược liệu khô đem làm nhỏ, chia làm nhiều phần. Dùng
dung môi là acid acetic 1 % hoặc nước pha với 1/3 dấm ăn để chiết dược liệu

tan. Thêm than hoạt. Đun sôi 10 phút, lọc nóng (qua phễu hút chân không) lấy

9


dịch. Để nguội dịch lọc rồi cho vào tủ lạnh 12-24h để kết tinh, lọc hút chân
không, rửa bằng cồn lạnh, đem sấy 40-60°C trong 4-5h.
Phương pháp này cho hiệu suất thấp. Palmatin clorid thu được khoảng
0,5 - 1,2% so với lượng dược liệu khô.

1.2.3.2. Phương pháp chiết xuất bằng ethanol 96 ° [7].- Chiết xuất: Dược liệu khô sau khi làm nhỏ đem ngâm nóng hoặc ngâm
bằng ethanol 90° ở nhiệt độ phòng trong 12 - 24h. Gạn, lọc, ép lấy dịch, bã có
thể đem chiết lại.
- Loại nhựa: Gộp dịch chiết đem bốc hơi cách thuỷ (có thể thu hồi cồn
nếu có điều kiện) sẽ thu được cắn Palmatin có lẫn nhựa. Thêm nước sôi khuấy
kỹ, để lắng 12h để loại nhựa. Lọc lấy dịch trong.
- Kết tinh Palmatin clorid: Cô đặc dịch cho đến khi mặt dịch có màu
vàng. Để nguội tới 40°c,thêm từ từ dung dịch HC1 10% vừa thêm vừa khuấy
cho đến khi dung dịch có pH: 1 - 2. Để nguội đến nhiệt độ thường, cho vào tủ
lạnh trong 12 - 24h thì có Palmatin clorid kết tinh.
- Tinh chế: Lọc lấy Palmatin clorid thô, hoà tan vào ethanol 96°, đun
cách thuỷ sôi. Thêm than hoạt, đun sôi tiếp 10 phút lấy ra lọc nóng qua phễu
chân không thu lấy dịch lọc. Để nguội dịch lọc rồi để yên trong tủ lạnh trong
12 - 24h có Palmatin clorid kết tinh. Lọc hút lấy Palmatin clorid, rửa nhanh
trên phễu bằng cồn lạnh.
Đem sấy khô ở nhiệt độ 40 - 60°c trong 4 - 5h. Phương pháp này cho
hiệu suất cao, Palmatin clorid thu được khá tinh khiết. Lượng Palmatin clorid
thu được khoảng 1 -3 % lượng dược liệu khô [7].
Trong các phương pháp chiết xuất Palmatin clorid từ dược liệu Hoàng
Đằng kể trên, mỗi phương pháp có ưu điểm riêng. Tuỳ vào điều kiện trang

80°c. Sấy đến khối lượng không đổi. Khối lượng mất đi không đuợc quá
13,5%.
- Tro sulfat: Làm với lg chế phẩm. Sau khi nung với acid sulfuric đậm
đặc, tro không được quá 0,1%

1.3.1.3. Các phép định lượng.
a.Phương pháp định lượng trong môi trường khan:
Palmatin là một base yếu, trong môi trường acid acetic khan có thể chuẩn
độ trực tiếp Palmatin clorid bằng chất chuẩn là dung dịch acid perclorric 0,1M
trong acid acetic băng. Để tránh sự ảnh hưởng của ion clorid trong chế phẩm
tới lượng chất chuẩn acid perclorric dùng khi chuẩn độ, dùng dung dịch thuỷ

11


ngân (II) acetat. Để phát hiện điểm kết thúc chuẩn độ dùng chỉ thị màu tím
tinh thể, tại điểm kết thúc chuẩn độ, chỉ thị chuyển màu từ đỏ tím sang xanh
lục bẩn [1]. Hoặc phát hiện bằng máy đo điện thế.
b. Phương pháp cân [9].
Palmatin clorid là một alcaloid có khả năng phản ứng với một số chất để
tạo ra kết tủa có khối lượng xác định. Sấy, cân lượng tủa tạo ra sẽ xác định
được lượng Palmatin tương ứng.
Xí nghiệp Dược phẩm Hoà bình dùng phương pháp tạo kết tủa giữa dung
dịch chế phẩm với acid picric: Cân, pha dung dịch chế phẩm, thêm acid picric
dư để lạnh qua. đêm thu được tủa tinh thể Palmatin picrat. Lọc hút lấy tủa tinh
thể đem cân. Từ lượng tủa tinh thể Palmatin picrat xác định được lượng
Palmatin clorid.
1.3.2. NHẬN XÉT VÀ LựA CHỌN Bổ SUNG TIÊU CHUAN

kỹ th u ậ t

- Phương pháp cân: Có thể dẫn đến nhiều sai số do điều kiện phản ứng
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất phản ứng tạo tủa, ngoài ra còn dễ gây sai số
do điều kiện kỹ thuật.
- Phương pháp định lượng trong môi trường khan: đòi hỏi cao về điều
kiện tiến hành: độ ẩm môi trường, dung dịch chuẩn độ, dung môi. Gây khó
khăn cho thực hiện đặc biệt là bước hoà tan chế phẩm vào dung môi.
- Phương pháp định lượng đo quang phổ hấp thụ tử ngoại khả kiến.
Phương pháp này có ưu điểm nổi bật do:
+ Bản thân dung dịch chế phẩm Palmatin clorid có màu vàng bền.
+ Tính tan của chế phẩm tốt, dung dịch ổn định ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ.
' + Thiết bị đo hầu hết có sẩn ở các cơ sở kiểm nghiệm.
+ Thao tác thuận tiện.

13


PHẦN 2: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THựC NGHIỆM.

2.1.1. Nguyên vật liệu và máy móc.
a. Hoá chất, nguyên liệu:
- Dược liệu: Thân và rễ cây Hoàng Đằng lấy tại rừng Hoà Bình.
- Chế phẩm Palmatin clorid nguyên liệu của xí nghiệp Dược phẩm Hoà K
Bình.
- Palmatin clorid chuẩn của bộ môn Dược liệu trường Đại học Dược Hà
Nội và xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội.
- Cồn ethylic các loại, dung dịch acid clohydric: đậm đặc, 10%..., dung
dịch acid sulffuric: đậm dặc, 2%, 1%, dung dịch amoniac 10%, đậm đặc,
n - Butanol, acid acetic băng, dung dịch acid perclorric 0,1% trong acid acetic

- So sánh các phương pháp
Các phương pháp chiết xuất khảo sát là:
- Chiết xuất bằng ethanol
- Chiết xuất bằng nước nóng
- Chiết xuất bằng nước acid.
' Mục đích chính của tôi là đi sâu nghiên cứu chiết xuất Palmatin clorid
bằng ethanol, do đó tôi chỉ chiết bằng nước nóng và bằng nước acid một số ít
lần để rút kinh nghiệm và so sánh.

2.2.1.1. Chiết xuất bằng nước nóng:
Phương pháp dùng là ngâm nóng (mục 1.2.3.1.b).
- Lượng nguyên liệu dùng: 500g bột Hoàng Đằng
- Số lần ngâm: 5 lần
- Thời giaủ mỗi lần ngâm: lh
- Lượng dung môi dùng: 500ml mỗi lần ngâm
- Lượng Palmatin clorid thu được: 5,5g
- Hiệu suất: 1,1%
Nhận xét: Phương pháp chiết bằng nước nóng có:
* Ưu điểm:

+ Dung môi rẻ tiền sẩn có (nước)
+ Điều kiện sản xuất an toàn, không độc hại.

15


+ Thiết bị đơn giản, dễ tiến hành.
* Nhược điểm:+ Khó lọc, khó loại nhựa do tạp chiết ra nhiều
(dung môi chiết không chọn lọc)
+ Khó kết tinh, chế phẩm xấu.


2.2.I.3.

Chiết xuất bằng ethanol.

Các giai đoạn theo quy trình ở mục 1.2.3.2.
Dùng phương pháp chiết bằng ethanol, để khảo sát các thông số, chúng
tôi đề ra nhiệm vụ là giải quyết các vấn đề sau:
- Chọn phương pháp đun nóng cách thuỷ hay ngâm lạnh.
- Chọn thời gian cần thiết để ngâm hay đun nóng cách thuỷ.
- Xác định thời gian cần thiết để kết tinh, nhiệt độ kết tinh khi tủa
Palmatin clorid và khi tinh chế.
- Tỉ lệ than hoạt cần thiết dùng khi tinh chế.
Để xác định các thông số trên chúng tôi làm nhiều mẻ với các thông số
khác nhau trong cùng điều kiện:
a.

Đ ể xác định lựa chọn phương pháp chiết bằng đun nóng cách thuỷ hay

ngâm lạnh và thời gian chiết.
Chúng tôi làm 4 mẫu sau:
Mẫu 1: Đun sôi cách thuỷ với sinh hàn ngược trong 0,5h.
Mẫu 2: Đun sôi cách thuỷ với sinh hàn ngược trong lh.
Mẫu 3: Ngâm nhiệt độ phòng trong 16h.
Mẫu 4: Ngâm ở nhiệt độ phòng trong 24h.
Các mẫu trên có cùng:
- Lượng bột dược liệu Hoàng Đằng: 300g
- Lượng dung môi cồn ethanol 90° đem dùng là 1.200ml
- Cùng thời gian kết tinh Palmatin clorid: 24h.
- Cùng nhiệt độ kết tinh (4°C).


5,82

5,83

1,40

1,44

1,94

1,94

Số liệu
Lượng Palmatin clorid thô thu
được (g)
Lượng Palmatin clorid sau khi
tinh chế 1 lần (g)
Hiệu suất (%)

So sánh mẫu 1 và mẫu 2 thấy: Khi thời gian đun sôi cách thuỷ tăng lên
hiệu suất chiết tăng. Điều này do mẫu 1 đun chỉ 30 phút không đủ để chiêt hêt
Palmatin clorid ra hết. So sánh mẫu 3 và mẫu 4 cho thấy: mặc đù thời gian
ngâm tăng lên nhưng lượng Palmatin clorid thu được không tăng. So sánh 4
mẫu thấy: lượng Palmatin clorid thu được ở mẫu 3 và 4 nhiều hơn mẫu 1 và 2,
hiệu xuất chiết và hiệu suất của quá trình tinh chế cũng cao hơn. Điều đó
chứng tỏ là khi ngâm lạnh thì cho hiệu suất cao hơn tinh chế dễ hơn so với khi
đun nóng cách thuỷ. Do đó chúng tôi chọn phương pháp ngâm ở nhiệt độ
phòng trong 16h làm phương pháp chiết.
b. Đ ể xác định nhiệt độ và thời gian thích hợp cho quá trình kết tinh


20,1

20,4

5,05

5,81

5,81

5,84

1,68

1,94

1,94

1,95

Số liệu
Lượng Palmatin clorid thô thu
được (g)
Lượng Palmatin clorid sau khi
tinh chế 1 lần (g)
Hiệu suất (%)

So sánh mẫu 1 và 2, 3 và 4 thấy rằng: khi thời gian kết tinh tăng lên thì
hiệu suất tăng. So sánh mẫu 2 và 4 thấy rằng khi tinh chế cùng thời gian 24h,

- Về hiệu suất: càng dùng nhiều than hoạt càng hao hụt nhiều dược chất,
hiệu suất càng giảm. Mẫu 1 và 2 tương đương nhau.
- Về cảm quan của chế phẩm thu được sau tinh chế: Dùng càng nhiều
than hoạt chế phẩm có màu càng vàng sáng, tinh thể dài, đẹp. Mẫu 1: Chế
phẩm màu xấu, hình dạng tinh thể không đều, đẹp. Mẫu 2 và 3 đẹp gần như
nhau.
Từ các phân tích trên chúng tôi chọn tỉ lệ than hoạt dùng là 3% so với
lượng Palmatin clorid thô.
Như vậy qua khảo sát tôi xác định được các thông số thích hợp sau:
- Phương pháp chiết là ngâm lạnh trong cồn ethylic ở nhiệt độ phòng
trong Ỉ6h.
- Kết tinh Palmatin clorid ở 4°c trong 24h.
- Tỷ lệ thân hoạt dùng là 3% so với lượng Palmatin clorid thô.

2.2.2. Nghiên cứu khảo sát các phép định tính.
Sau khi chiết xuất bằng phương pháp và qui trình đã được xác định,
lượng Palmatin clorid thu được chúng tôi đem dùng làm chế phẩm để khảo sát
các phép định tính.
Các phép định tính tôi khảo sát là:
- Các phản ứng hoá học
- Sắc kỷ lớp mỏng
- Đo phổ hấp thụ tử ngoại - khả kiến
- Xác định phổ hấp thụ hồng ngoại.
- Xác định nhiệt độ nóng chảy.

20


Trong đó đi sâu nghiên cứu về phương pháp định tính bằng sắc ký lớp
mỏng và đo phổ hấp thụ tử ngoại, khả kiến.

- Tim hệ sắc ký để tách được các tạp chính đi kèm palmatin.

21


Trong các alcaloid của dược liệu Hoàng Đằng, ngoài Palmatin là alcaloid
chính còn có sự có măt của các alcaloid khác bao gồm: Jatrorhizin (khoảng
0,1%), Columbamin (khoảng 0,01%) và vết Berberin [8].
Để tiến hành sắc ký cần có các chất chuẩn:
- Palmatin clorid chuẩn
- Berberin clorid chuẩn
Do không có Jatrorhizin và Columbamin chuẩn, nên chúng phải dùng sắc
ký điều chế với hệ dung môi là hệ tách các tạp từ Alcaloid toàn phần Hoàng Ịj_ ý Đằng lấy Jatrorhizin và Columbamin.
a.Tìm hệ dung môi đ ể tách Palmatin và Berberin:
Căn cứ vào các hệ dung môi dùng để sắc ký đối với các alcaloid có nhân
isoquinolein kiểu protoberberic chúng tôi tiến hành khảo sát với các hệ dung
môi sau:
Hệ 1: Amoniac 10%: Ethanol tuyệt đối [1 :2 ]
Hệ 2: Cloroform: methanol: amoniac đậm đặc [14: 7: 1]
Hệ 3: n - Butanol: acid acetic băng: nước [7: 1: 2]
Hệ 4: Methanol: amoniac đậm đặc: nước [ 8 : 1 : 1 ]
Với mỗi hê dung môi khi sắc ký với mỗi bản sắc ký, chúng tôi chấm 3 vết
riêng biệt:
- Vết 1: Palmatin clorid chuẩn
- Vết 2: Berberin clorid chuẩn
- Vết 3: Chấm Palmatin clorid chuẩn và Berberin clorid chuẩn.
Các chất chuẩn được pha trong ethanol với nồng độ 0,1%, lượng dung
dịch chấm là 3ụ.l.
Bản mỏng sắc ký là bản mỏng tráng sẵn Silicagen GF 254 của hãng
Merck (kích thước 5 X 12cm).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status