đánh giá kết quả điều trị hẹp phì đại môn vị bằng phẫu thuật nội so tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hẹp phì đại môn vị (HPĐMV) là một bệnh lý tắc nghẽn đường tiêu hóa
do cơ môn vị dầy, cản trở sự lưu thông thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng.
Là một cấp cứu ngoại nhi có trì hoãn khá thường gặp ở trẻ em. Bệnh
chiếm tỷ lệ khoảng 1-5/1000 trẻ sơ sinh sống và chủ yếu gặp ở con trai, tỷ lệ
trai/gái từ 4-6/1 [9], [15], [24].
Năm 1648, Fabricius Hildanus là người đầu tiên báo cáo bệnh nhân bị
HPĐMV. Năm 1887, Hirschprung báo cáo thêm 2 trường hợp, mô tả đầy đủ các
dấu hiệu lâm sàng và chính xác tổn thương của bệnh. Năm 1907 và sau đó năm
1912 Fredet và Ramsted đã giới thiệu kỹ thuật phẫu thuật mở cơ môn vị ngoài
niêm mạc để điều trị bệnh, kỹ thuật này ngày nay mang tên hai ông [15].
Nôn ra sữa có khoảng trống là triệu chứng cơ bản thường gặp và đặc
hiệu của bệnh. Nôn thường xảy ra sau khi trẻ sinh một khoảng thời gian, trung
bình từ 3-8 tuần [9], [11].
Chẩn đoán xác định HPĐMV dựa vào lâm sàng và hình ảnh học [9].
Chụp dạ dày tá tràng có thuốc cản quang (chụp transit) để chẩn đoán
HPĐMV, nay đang dần được thay thế bởi kỹ thuật siêu âm (SA) bởi tính ưu
việt hơn, ít biến chứng, bệnh nhân không phải ăn tia, độ nhạy và độ đặc hiệu
cao [5], [34], [69]. Siêu âm ổ bụng được chỉ định để chẩn đoán sớm trong
bệnh lý này.
Điều trị HPĐMV nội khoa bảo tồn cũng có những thành công nhất định,
xong tỷ lệ thất bại còn cao, biến chứng nhiều, thời gian nằm viện dài, nên
không được phổ biến [67].
Phẫu thuật mở cơ môn vị ngoài niêm mạc điều trị bệnh HPĐMV theo kỹ
thuật Fredet- Ramsted được xem là kỹ thuật điều trị chuẩn. Đến nay, kỹ thuật
này vẫn được sử dụng với những đường mổ khác nhau như đường trắng giữa
trên rốn, đường trắng bên, đường ngang dưới sườn phải, đường vòng cung sát




Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ BỆNH

Năm 1717: Blair là người đầu tiên mô tả khám nghiệm tử thi của một
trường hợp suy dinh dưỡng nặng, phát hiện hẹp phì đại môn vị [16].
Năm 1887: Hirschsprung báo cáo thêm 2 trường hợp và mô tả chính xác
tổn thương giải phẫu bệnh lý. Ông cho rằng đây là bệnh bẩm sinh.
Năm 1907 và sau đó năm 1912 Fredet và Ramsted đã giới thiệu kỹ thuật
mổ mở cơ môn vị ngoài niêm mạc để điều trị bệnh, kỹ thuật ngày nay mang
tên hai ông [15].
Từ năm 1987, mở cơ môn vị bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng đã được áp
dụng đem lại hiệu quả cao, an toàn và có giá trị thẩm mỹ [17], [52], [72].
Tại Việt Nam, trong 10 năm từ 1981 đến 1990, Bệnh Viện Nhi Trung
Ương đã có 93 bệnh nhi được phẫu thuật vì hẹp môn vị phì đại (Nguyễn Xuân
Thụ và Cộng sự, 1991) [10].
Năm 2008: Kỹ thuật mở cơ môn vị bằng phẫu thuật nội soi được áp dụng
tại BV Nhi Trung Ương, kết quả bước đầu có khả quan [4]. Đến nay kỹ thuật
này trở thành thường quy nhưng các nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít.
1.2. SƠ LƯỢC VỀ PHÔI THAI, PHÔI THAI SINH LÝ HỌC VÀ GIẢI PHẪU
CỦA DẠ DÀY

1.2.1. Sơ lược về phôi thai và phôi thai sinh lý học
Dạ dày hình thành là do một phần của tiền tràng giãn thành hình thoi vào
tuần thứ 4. Những tuần lễ tiếp theo dạ dày tiếp tục tăng trưởng và thay đổi
hình dáng, tư thế, dạ dày quay 90 quanh trục dọc để cho thành sau nằm ngang
sang bên trái và thành trước nằm sang bên phải, cùng lúc đó thành sau tăng



5

mạch phía dưới bắt đầu từ rãnh giữa môn vị và tá tràng to, rõ đổ về tĩnh mạch
vị mạc nối phải gọi là tĩnh mạch Mayo. Thần kinh phó giao cảm chi phối dạ
dày là thần kinh X, thần kinh giao cảm từ hạch giao cảm ngực thứ 6 - 9.
Dạ dày cấu tạo có 4 lớp từ ngoài vào trong: lớp thanh mạc, lớp cơ trơn,
lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc. Lớp cơ dạ dày có 3 lớp, lớp ngoài hướng
dọc, lớp giữa hướng vòng, lớp trong hướng chéo.
Phần môn vị, lớp cơ dọc đã tập hợp lại và tiếp tục đi xuống, lớp cơ chéo
mỏng dần chỉ thấy rõ ở vùng hang môn vị, ngược lại lớp cơ vòng càng xuống
dưới càng dày lên, cuối ống môn vị thì dày đột ngột tạo nên một vòng cơ thắt
gọi là môn vị, cơ này kiểm soát sự lưu thông của dạ dày [6].
1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ SINH BỆNH

Hẹp phì đại môn vị theo nhiều tác giả là một bệnh bẩm sinh.
Trường hợp bệnh biểu hiện sớm nhất là ở một thai nhi 7 tháng được phát
hiện thấy trong khi mổ tử thi [73]. Nhiều trường hợp khác có biểu hiện bệnh
ngay từ sau khi sinh và phẫu thuật được tiến hành ngay ở tuổi sơ sinh cũng đã
được báo cáo [14], [24], [73].
Mặc dù cơ chế của bệnh chưa thật rõ ràng nhưng một số giả thuyết cũng
đã được đưa ra:
Một số tác giả cho rằng HPĐMV có liên quan tới các hormone kiểm soát
môn vị. Nồng độ gastrin cao làm tăng số lượng tế bào sinh trưởng trong cơ dạ
dày, đã được ghi nhận ở các bệnh nhân bị HPĐMV [41], [65]. Người ta cũng
gây được bệnh HPĐMV tương tự như ở người bằng cánh tiêm petagastrin cho
chó con [40].
Một số nghiên cứu khác đã nhận thấy có những bất thường trong chi
phối thần kinh ở môn vị. Số lượng hạch thần kinh ở môn vị đã bị giảm xuống
hoặc do những thay đổi thoái hóa có liên quan đến việc thần kinh phế vị bị

nhiễm kiềm chuyển hóa là rối loạn sinh hóa đặc thù trong bệnh HPĐMV [45].


7

Giảm thải Na+ và HCO3- đường tiểu để bù lại sự mất H+ và Cl- làm cho
nhiễm kiềm chuyển hóa. Khi nôn kéo dài gây thiếu hụt thể tích dịch ngoài tế
bào, tăng thải K và H nước tiểu để giữ duy trì hàm lượng Na+ và thể tích dịch.
Thời gian đầu kiềm hóa nước tiểu sau đó trở thành toan hóa nước tiểu (axit
niệu nghịch lý). Đây là dấu hiệu của sự mất nước kéo dài, lâm sàng mất thể
tích dịch nặng và thiếu hụt nặng tổng lượng K+ của cơ thể. Mức độ rối loạn
cân bằng điện giải phụ thuộc vào khoảng thời gian nôn trước khi hồi sức.
4.1.2. Tổn thương giải phẫu bệnh lý
* Đại thể
Dạ dày giãn to.
Môn vị có hình dáng của u cơ dài đường kính khoảng 20x12 mm, bề dày
lớp cơ môn vị dầy ≥ 4mm. Khối u chắc, bóng, ranh giới rõ [9], [57].
Các mạch máu của môn vị kéo dài và dát mỏng.
Khối u nhỏ dần về phía dạ dày, không có ranh giới rõ rệt giữa phần cơ
bệnh lý và phần cơ bình thường. Về phía tá tràng thì ngược lại, khối u dừng
lại đột ngột, ranh giới giữa u và tá tràng rõ rệt.
Niêm mạc của tá tràng lõm vào giữa lớp cơ của tá tràng và cơ của môn vị
tạo thành một túi cùng rất dễ bị thủng khi mở cơ môn vị về phía tá tràng.
Ranh giới của tá tràng và môn vị được đánh dấu bằng sự thay đổi mầu
sắc: mầu lóng lánh của u cơ môn vị và mầu hồng xám của tá tràng [22] hoặc
bởi tĩnh mạch môn vị [15].
* Vi thể.
Lớp thanh mạc môn vị bình thường. Lớp cơ vòng môn vị phì đại tăng cả
về số lượng và kích thước tế bào gây chèn ép vào lớp niêm mạc ống môn vị
bình thường làm chít hẹp một phần hoặc hoàn toàn ống môn vị [9].

Mặc dù các triệu chứng của hẹp phì đại cơ môn vị có thể xuất hiện sớm
ngay sau khi sinh hoặc rất muộn, có khi sau 5 tháng mới biểu hiện, thậm chí


9

có trường hợp phát hiện bệnh khi trẻ 8 tuổi theo báo cáo của Trần Ngọc Bích
năm 1999 [1], nhưng nói chung ở đa số bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng
sau khi sinh một khoảng trống từ 3 đến 6 tuần [5], [15].
1.6.2. Nôn ra sữa
Nôn có các biểu hiện rất đặc hiệu:
Nôn xuất hiện muộn sau bữa ăn.
Nôn vọt, nôn thành tia, nôn dễ dàng, số lượng nhiều.
Nôn ra sữa và cặn sữa không có dịch mật.
Nôn xuất hiện trên một trẻ rất đói và thèm ăn và ăn tốt.
Có thể nôn liên tiếp sau đó ngừng lại rồi lại bắt đầu nôn.
Lúc đầu nôn sau ăn, về sau nôn muộn sau vài lần ăn. Trẻ thường nôn
trong khoảng từ 30 - 60 phút sau khi ăn.
Đôi khi chất nôn có màu nâu do các mao mạch của dạ dày, thực quản bị
giãn, vỡ do viêm sau nhiều lần nôn. Nôn nhiều làm cho bệnh nhân mất nước,
sụt cân, tao bón, đái ít. Bệnh nhân có biểu hiện kiềm do mất nhiều Clo.
Bệnh cảnh nôn đặc biệt: nôn sớm ngay sau khi sinh khi có sự kết hợp
HPĐMV và luồng trào ngược dạ dày thực quản, do thoát vị một phần dạ dày
qua khe thực quản. Trong trường hợp này tỷ lệ nôn có máu cao gấp 6 lần
trong HPĐMV đơn thuần [11].
1.6.3. Khám toàn trạng
Do trẻ nôn nhiều dẫn đến các rối loạn trên lâm sàng khi thăm khám.
Khi thăm khám trẻ nên được tiến hành trong môi trường ấm và trẻ không
quấy khóc hoặc khi trẻ ngủ.
Tình trạng mất nước là rất quan trọng nên được đánh giá đầu tiên và

muộn gầy, bụng xẹp [11].


11

1.6.5. Hẹp phì đại môn vị ở trẻ sơ sinh
Trẻ có biểu hiện ngay ở thời kỳ sơ sinh, các triệu chứng không điển
hình (khoảng 5%) đặc biệt ở trẻ đẻ non và thấp cân, các dấu hiệu lâm sàng là
nôn nhưng không nôn vọt, bụng chướng, nhu động dạ dày không rõ, khám
bụng khó thấy được u cơ môn vị, dấu hiệu thèm bú không rõ như trẻ lớn hơn.
Chẩn đoán HPĐMV ở trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào siêu âm và hình ảnh
Xquang. Trong trường hợp này thường kết hợp với các dị tật bẩm sinh khác ở
đường tiêu hóa như teo thực quản, rò khí thực quản, thoát vị hoành, bất
thường quay của ruột nên thường phải can thiệp phẫu thuật sớm [73].
1.6.6. Hẹp phì đại môn vị ở trẻ lớn
Rất hiếm gặp và có triệu chứng lâm sàng không điển hình. Triệu chứng
nôn và đau bụng vùng trên rốn âm ỉ từng đợt, nắn có u vùng trên rốn dễ nhầm
với bệnh viêm loét dạ dày tá tràng và u dạ dày, hẹp môn vị thứ phát. Chẩn
đoán dựa vào chụp dạ dày có cản quang, nội soi dạ dày, siêu âm ổ bụng
nhưng có khi chỉ chẩn đoán được trong khi mổ [11].
1.6.7. Các dị tật bẩm sinh phối hợp
Các bệnh nhân bị HPĐMV thường có các dị tật kèm theo như: sứt môi,
rối loạn quay của ruột, dị tật về tim mạch, đường tiết niệu sinh dục và tiêu hóa
tỷ lệ từ 7%-20% [11].
1.7. CẬN LÂM SÀNG

1.7.1. Chụp bụng không chuẩn bị tư thế đứng
* Năm 1971 Rggs và Long L đã mô tả dấu hiệu cơ bản sau:
- Dạ dày dãn, bóng hơi dạ dày ở phía trên ngang với bờ dưới đốt sống L2.
- Kích thước bóng hơi dạ dày > 7 cm.

- Ống môn vị kéo dài khoảng 2cm, nhỏ như sợi chỉ, dấu hiệu “sợi dây”.
- Dấu hiệu “hai đường day” tạo nên bởi hai hoặc ba đường song song
nhỏ như sợi chỉ do baryt chảy qua lòng ống môn vị hẹp.
Các hình ảnh gián tiếp.
- Dạ dày, hang vị giãn.
- Tăng co bóp.
- Thuốc qua môn vị chậm, thuốc ít đọng ở dạ dày trên 1 giờ.
Khi chụp x quang nên quan sát theo dõi trên màn chiếu rồi mới chụp thì
tỷ lệ thấy được các hình ảnh trực tiếp sẽ cao.
Chụp dạ dày có cản quang có ưu thế là có thể cho phép phát hiện các
bệnh phối hợp như hội chứng trào ngược dạ dày thực quản, tắc tá tràng.
Phương pháp này có độ nhạy tới 95%, tuy vậy còn phụ thuộc vào kinh
nghiệm của người đọc [11], [35].
Nhược điểm của x quang là trẻ bị tia x, có thể hít phải thuốc cản quang
do hội chứng trào ngược nên hiện nay ít áp dụng, tùy vào từng bệnh cảnh.

Hình 1.2. Dấu hiệu “sợi dây” trên phim chụp transit ở bệnh nhân HPĐMV
trích dẫn từ “Pyloromyotomy” trong Operative pediatric surgery 7th [49].


14

1.7.3. Nội soi dạ dày
Hình ảnh nội soi của HPĐMV là ống môn vị hẹp, kéo dài, không đưa
ống soi qua môn vị được, lớp cơ của môn vị phì đại lồi vào trong lòng của
hang vị trông giống như hình ảnh cổ tử cung.
Các dấu hiệu gián tiếp khác như hang vị giãn, dạ dày tăng co bóp.
Qua nội soi còn phát hiện tình trạng viêm loét niêm mạc dạ dày thực
quản nếu có hoặc các bệnh lý phối hợp khác như: túi thừa dạ dày, luồng trào
ngược dạ dày thực quản.

+ Chiều dầy lớp cơ ≥ 4mm (3 ÷ 5mm).
+ Chiều dài của ống môn vị ≥ 16mm (14 ÷ 20mm).
+ Đường kính ngang của ống môn vị ≥ 14 mm (12 ÷ 16mm).
Có sự khác nhau này là do có sự khác nhau về tuổi và thể trạng của trẻ
và chưa có sự thống nhất giữa các tác giả [20], [35]. Nhưng các tác giả đều
thống nhất với giá trị bình thường của trẻ dưới 3 tháng tuổi là:
- Chiều dầy lớp cơ = 1 ± 0,3mm.(dấu cộng)
- Chiều dài ống môn vị = 10 ± 2mm.
- Đường kính ngang ống môn vị = 8 ± 2mm.
+ Quan sát đánh giá sự suy năng của ống môn vị cũng là rất quan trọng
cho thấy sự lưu thông qua ống môn vị rất hạn chế.
Ngoài ra còn có thể thấy các dấu hiệu phụ khác như:
- Dạ dày giãn, tăng nhu động dạ dày.
Hai dấu hiệu được coi là hai tiêu chuẩn cơ bản để chẩn đoán HPĐMV
trên siêu âm [3], [68] là:


16

+ Chiều dầy cơ môn vị ≥ 4mm.
+ Chiều dài cơ môn vị ≥ 16mm.
Các hình ảnh dương tính và âm tính giả hay gặp trong siêu âm.
- Dương tính giả: khi mặt cắt ngang và dọc qua môn vị đang co thắt,
hoặc mặt cắt đi không chính giữa, không vuông góc bị xiên, chếch.
- Âm tính giả: Hình ảnh giả giầu âm ở các vị trí 3-6-9-12 giờ, đặc biệt
trên mặt cắt dọc, nên khó đo được bề dày cơ môn vị dễ cho kết quả âm tính giả.
Do vậy trong các phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng trong chẩn
đoán HPĐMV thì siêu âm tỏ ra là ưu việt hơn cả nhanh, đơn giản, chính xác,
an toàn. Trong trường hợp nghi ngờ là HPĐMV thì có thể siêu âm lại nhiều
lần để theo dõi và chẩn đoán. Siêu âm còn có thể thăm khám các cơ quan

Teo môn vị: trẻ nôn sữa sớm chẩn đoán dựa vào siêu âm, chụp lưu thông
dạ dày.
Thoát vị qua khe thực quản: nôn sớm sau đẻ, chụp lưu thông dạ dày giúp
chẩn đoán.
Xuất huyết não - màng não: do chấn thương, do giảm yếu tố đông máu
prothrombin. Thường gặp ở trẻ đẻ non, thiếu tháng suy hô hấp, thiếu oxi não, triệu
chứng nôn không theo các lần bú, khám không có u cơ môn vị, siêu âm âm tính,
có các triệu chứng gợi ý của bệnh chính, chụp CT sọ giúp chẩn đoán xác định.
Bệnh nhiếm khuẩn nặng: nôn, triêu chảy, chướng bụng, cần khám đánh
giá một cách cẩn thận tỷ mỷ.
Do chế độ ăn gây rối loạn tiêu hóa: thay đổi chế độ ăn sẽ hết.
Hội chứng sinh dục thượng thận thể mất muối: nôn và ỉa chảy, trẻ gái có
biểu hiện ái nam, ái nữ, trẻ trai có dương vật to.
1.9. ĐIỀU TRỊ

Dù điều trị HPĐMV bằng bất kỳ phương pháp nào cũng cần bắt đầu
bằng điều chỉnh các rối loạn nước và điện giải và thăng bằng kiềm toan. Khi


18

chẩn đoán được xác định cần ngừng cho ăn bằng đường miệng, đặt sonde hút
dịch dạ dày và bắt đầu truyền dịch.
1.9.1. Điều trị nội khoa bảo tồn
Áp dụng đầu tiên ở Châu Âu: ăn nhiều bữa với số lượng ít sữa hoặc
đường dextro, tư thế chống nôn phải mất hàng tháng và tỷ lệ thành công thấp.
Theo báo cáo của các Bác sĩ Thụy Điển điều trị bằng nuôi dưỡng qua đường
tĩnh mạch đơn thuần cũng thất bại.
Điều trị bằng các thuốc chống co thắt là một phương pháp vẫn còn được
sử dụng cho đến ngày nay, tuy nhiên đây là phương pháp đòi hỏi thời gian

Cách thức tiến hành phẫu thuật.
Đường rạch da vào ổ bụng, có thể theo một trong các đường: đường
trắng giữa trên rốn, đường cổ điển theo Fredet năm 1908. Đường chéo góc
trên bên phải theo Robertson năm 1940. Đường cạnh cơ thẳng to bên phải.
Đường ngang dưới sườn phải theo Richkham năm 1940. Tại Bệnh Viện Nhi
trước khi có phẫu thuật nội soi cũng dùng đường rạch da ngang dưới sườn
phải để vào ổ bụng vì cho phép tiêp cận trực tiếp với môn vị và sẹo mổ chấp
nhận được [8]. Đường mổ vòng cung sát trên rốn theo Tan và Bianchi năm
1986, báo cáo của Trần Ngọc Bích năm 2000, cho kết quả khá thẩm mỹ [2].

Hình 1.4. Minh họa đường rạch da vòng cung sát trên rốn (phẫu thuật mở),
trích từ “Pyloromyotomy” trong Operative pediatric surgery 7th [49].


20

Tìm và đưa u cơ môn vị ra ngoài ổ bụng. Môn vị được giữ bởi ngón các
và ngón trỏ của phẫu thuật viên dọc theo hình dáng u cơ. Dùng dao rạch một
đường dọc theo chiều dài u cơ, qua thanh mạc –cơ. Tách dần đường rạch nhẹ
nhàng từng phần bằng dụng cụ cho tới khi lộ rõ lớp niêm mạc, lớp này phồng
lên ngang mức với thanh mạc, cầm máu mép đường rạch, đưa môn vị trở lại ổ
bụng và đóng bụng theo giải phẫu.
Theo Hight DW năm 1981, thì cuối đường rạch môn vị về phía tá tràng,
rạch theo hình chữ V để tránh biến chứng thủng niêm mạc [37].

Hình 1.5. Minh họa phẫu thuật mở cơ môn vị ngoài niêm mạc (phẫu thuật mở)
(Trích “Pyloromyotomy” trong Operative pediatric surgery 7th [49])
Hậu phẫu.
Kháng sinh dự phòng được sử dụng tùy từng tác giả. Trong trường hợp
có thủng niêm mạc thì các tác giả đều khuyên dùng.


Hình 1.6. Minh họa vị trí các cổng làm việc trong PTNS mở cơ môn vị,
(Trích từ “Pyloromyotomy” trong Operative pediatric surgery 7th [49])


22

Việc sử dụng dao chuyên dụng để rạch một đường nông lên u cơ môn vị
được thực hiện một cách thường quy. Một số nghiên cứu mới đây cho thấy
dùng móc nội soi đốt điện tạo một đường rạch lên cơ môn vị cũng cho kết quả
tốt, không thấy sự khác biệt có ý nghĩa. Dùng móc đốt điện tạo ra một trường
mổ không chảy máu theo báo cáo của Jain V và cộng sự (2012) [38]. Việc
tách cơ môn vị thường được thực hiện bởi một banh thường mũi nhỏ hoặc sử
dụng banh nội soi tùy thuộc vào từng tác giả.

Hình 1.7. Minh họa thao tác phẫu thuật nội soi mở cơ môn vị
(Trích từ “Pyloromyotomy” trong Operative pediatric surgery 7 th [49].)
Đa số các nghiên cứu đã tiến hành cho thấy thời gian tiến hành phẫu
thuật nội soi thường lâu hơn phẫu thuật mở, nhưng các báo cáo gần đây thì có
rất ít sự khác biệt này và phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ của phẫu
thuật viên [56], [63]. Một số báo cáo mới đây cho thấy thời gian tiến hành
phẫu thuật nội soi còn nhanh hơn phẫu thuật mở [43].
Thủng niêm mạc môn vị, mở không hết cơ môn vị, là các tai biến thường
gặp nhất trong khi tiến hành phẫu thuật nội soi giống như trong phẫu thuật mở
[43], [63]. Thủng niêm mạc thường xuất hiện ở phía tá tràng. Chảy máu và
nhiễm trùng sau mổ ít xảy ra với phẫu thuật này.
Kháng sinh dự phòng sau mổ được sử dụng theo từng tác giả, đặc biệt là
các trường hợp có biến chứng như thủng niêm mạc tá tràng.




24

chứng trào ngược dạ dày thực quản, trong khi dấu hiệu x quang của hẹp môn
vị còn kéo dài vài tháng, sau khi phẫu thuật đã mở hết hoàn toàn cơ môn vị
[39], [64].
Tỷ lệ thất bại của PTNS so với phẫu thuật mở là tương đương nhau, tùy
từng tác giả [43]. Một số nghiên cứu cho thấy PTNS có tổng tỷ lệ biến chứng
còn thấp hơn phẫu thuật mở [63]. Phẫu thuật nội soi có ngày nằm viện sau
phẫu thuật ngắn hơn, dùng ít thuốc giảm đau hơn, thời gian nằm viện ngắn
hơn và có tính thẩm mỹ hơn [31], [43], [56], [63]. Tại Việt Nam, chưa có
nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về PTNS mở cơ môn vị điều trị HPĐMV.
1.10. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

Năm 1983 Saurerei EE, dùng siêu âm theo dõi u cơ môn vị sau phẫu
thuật thì thấy u cơ môn vị nhỏ dần: bề dầy u cơ môn vị dần trở về bình thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status