BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN NGÂN HÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH
DỤC KHÔNG AN TOÀN Ở NHÓM NAM BÁN DÂM
ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009-2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ ĐA KHOA
KHÓA 2006-2012
HÀ NỘI – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN NGÂN HÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH
DỤC KHÔNG AN TOÀN Ở NHÓM NAM BÁN DÂM
ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009- 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ ĐA KHOA
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng đào tạo trường Đại học Y Hà Nội
- Khoa y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội
- Bộ môn Dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan tất cả số liệu được sử dụng trong luận văn này là
hoàn toàn có thật, bản thân tôi đã phân tích và xử lý số liệu một cách trung
thực.
Nếu có sai sót tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Nguyễn Ngân Hà
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS:
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải(Acquired
Immunodeficiency Syndrome)
BCH:
Bộ câu hỏi
QHTD:
Quan hệ tình dục
QHTDĐG:
Quan hệ tình dục đồng giới
STIs:
Những nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
(Sexually transmitted infections)
TP HCM:
Thành phố Hồ Chí Minh
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
2.4.3. Cách chọn mẫu...................................................................................................................................23
2.5. Phương pháp thu thập thông tin................................................................................................................25
2.6. Biến số, chỉ số, phương pháp và công cụ thu thập số liệu..........................................................................25
2.7. Sai số và khống chế sai số...........................................................................................................................26
2.8. Xử lý số liệu.................................................................................................................................................27
2.9. Đạo đức nghiên cứu....................................................................................................................................27
CHƯƠNG 3.....................................................................................................29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................................29
3.1. Mô tả đặc điểm hành vi quan hệ tình dục..................................................................................................29
3.1.1. Yếu tố cá nhân.....................................................................................................................................29
3.1.2. Đặc điểm QHTD không vì mục đích trao đổi......................................................................................32
3.1.3. QHTD trong hoạt động bán dâm nam................................................................................................35
3.2. Mô tả các yếu tố liên quan tới QHTD không an toàn..................................................................................44
3.2.1. Sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện...........................................................................................44
3.2.2. Kiến thức về HIV/STIS.........................................................................................................................45
3.2.3. Sử dụng dịch vụ y tế............................................................................................................................46
3.2.4. Một số yếu tố liên quan của QHTD không an toàn trong lần bán dâm đầu tiên và lần gần đây nhất
.......................................................................................................................................................48
CHƯƠNG 4.....................................................................................................52
BÀN LUẬN....................................................................................................52
4.1. Đặc điểm chung về đối tượng tham gia nghiên cứu...................................................................................52
4.2. Đặc điểm hành vi QHTD..............................................................................................................................53
4.3. Một số yếu tố liên quan tới QHTD không an toàn......................................................................................58
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU..............................................................................................................................62
KẾT LUẬN.....................................................................................................64
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ đối tượng từng sử dụng dịch vụ y tế...........................................................46
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan hệ tình dục đồng giới (QHTDĐG) vẫn diễn ra tại tất cả các xã hội
và mọi lứa tuổi. Đây cũng là sự thật tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương
hay như ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Và nam có QHTDĐG đang được xem
là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV và các lây truyền qua đường tình dục
khác (STIs) bởi hành vi QHTD không an toàn. Do vậy, để có được những ứng
phó có hiệu quả với HIV/AIDS, cần có những hiểu biết sâu về vấn đề này
cũng như các hành vi tình dục vốn từng bị coi là cấm kỵ.
Những nghiên cứu Dịch tễ học và xã hội học về lây nhiễm HIV/AIDS, về
đối tượng nam có QHTDĐG đã dần phác thảo về một nhóm đối tượng có liên
quan chặt chẽ với nhóm nam có QHTDĐG và tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao lây
nhiễm HIV đó là nhóm nam bán dâm đồng giới (NBDĐG). Một số nghiên
cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy hiện tượng NBDĐG không phải là
hiện tượng hiếm. Theo Manop Uthaikom (Thailand), tại Bangkok, tỷ lệ
NBDĐG trong nhóm nam có QHTDĐG là 27% [6]. Tại Việt Nam, theo
nghiên cứu của Colby năm 2001, trong 219 nam có QHTDĐG thì có 22% đã
từng mua dâm và 31% đã từng bán dâm [8]. Theo kết quả điều tra kết hợp
hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs tại Việt Nam năm 2005 – 2006 ở
nhóm nam có QHTDĐG trả lời có bán dâm trong vòng một tháng trước thời
điểm điều tra là 22% ở Hà Nội và 41% ở TP HCM. Trong nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Anh Tuấn thì 65% trong số nam có QHTDĐT đã từng mua dâm
hoặc bán dâm [5].
Các nghiên cứu cũng chỉ ra QHTD không an toàn với nhiều loại bạn tình
là nguyên nhân gây nên lây nhiễm HIV/STIs với tỉ lệ cao ở nhóm này. Nghiên
cứu tại Jakarta-Indonesia cũng đã cho biết, tỉ lệ không sử dụng BCS khi
không vì
mục đích
trao đổi
QHTD với bạn
tình nam vì mục
đích trao đổi
ĐẶC ĐIỂM
HÀNH VI QHTD
HÀNH VI TÌNH
DỤC KHÔNG AN
TOÀN Ở NHÓM
NBDĐG
Sử dụng rượu
bia và các chất
gây nghiện
Kiến thức
về
HIV/STIs
Sử dụng
dịch vụ
y tế
Một số yếu tố khác:
tình huống gặp khách
nam tính khác nhau, nhiều định dạng về giới và tình dục, nhiều cộng đồng,
mạng lưới và nhóm khác nhau cũng như những hành vi không liên quan đến
một nhóm, hoặc một cộng đồng nào. Nhóm nam có QHTDĐG không chỉ bao
4
5
gồm những người tự nhận là người đồng tính (gay) và người lưỡng tĩnh (bisexual), mà còn bao gồm cả những người đàn ông nhận là dị tính
(heterosexual) nhưng có QHTDĐG. Thuật ngữ này bao gồm cả những người
nam có ham muốn tình dục đồng giới và những người nam có quan hệ tình
dục đồng giới bị cưỡng ép [6].
Nhóm nam có QHTDĐG không phải là nhóm đồng nhất hoặc một
nhóm thiểu số bị cách biệt trong xã hội với duy nhất một sở thích tình dục mà
họ thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Nhóm này có thể là những người
vẫn duy trì các đặc điểm nam tính theo quy ước và không tự coi bản thân
mình là những đồng giới, gay hoặc thậm chí là người có xu hướng tình dục
lưỡng giới. Nhiều nam giới có QHTDĐG cũng vẫn có QHTD với phụ nữ [7].
1.1.2. Nam bán dâm đồng giới
Đầu những năm 1980, trên cơ sở lý luận của lý thuyết tương tác biểu
trưng, G. W. Levi Kamel đã chỉ ra một vài kiểu quan hệ bán dâm – mua dâm
có tác động tích cực, dựa trên cơ sở tuổi tác, những định hướng về giới tính,
những phong cách riêng do giới tính tạo ra, và những sở thích riêng về giới
tính. Ông đã đề cập đến 3 nhóm chính là:
- Những kẻ bán dâm còn trẻ tuổi, non tơ và là người đồng tính, và
những kẻ mua dâm “cáo già” không tìm được những chàng trai đủ trẻ để đáp
ứng nhu cầu của họ.
- Những kẻ bán dâm đầy nam tính và những kẻ mua dâm muốn “vượt
rào” vì luôn cảm thấy không hài lòng về sự nữ tính, ẻo lả của những người
đồng tính nam khác.
vật vào hậu môn của mình trong QHTD bằng đường hậu môn.
6
7
- QHTD bằng hậu môn cho: Là người đưa dương vật của mình vào
hậu môn bạn tình trong QHTD bằng đường hậu môn.
- Đa hệ: Là người có quan hệ tình dục đồng giới nam nhưng vừa có cả
quan hệ tình dục với nữ.
- Bạn tình nước ngoài: Là những bạn tình nam giới người nước ngoài
bao gồm cả Việt Kiều.
1.2. Thực trạng nam có quan hệ tình dục đồng giới/Nam bán dâm đồng
giới (MSM/NBDĐG)
1.2.1. Trên thế giới
Phần lớn các nghiên cứu đều ước tính số nam giới có quan hệ tình dục
đồng giới thấp hơn tỷ lệ thực. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
Thứ nhất, trong số các vấn đề nhạy cảm có liên quan tới giới, tình dục và
AIDS, vấn đề quan hệ tình dục đồng giới nam bị kỳ thị và không được thừa
nhận nhất. Chính vì vậy nhiều người thấy khó khăn khi thảo luận thẳng thắn
và cởi mở về nó. Một nguyên nhân nữa là sự đa dạng của những nhóm nam
giới có quan hệ tình dục đồng giới cũng như hoàn cảnh xã hội nơi tình dục
đồng giới diễn ra.
Ước tính số nam giới có quan hệ tình dục với nam giới chiếm 2% - 5%
tổng số nam giới trên toàn thế giới (Caceres và cộng sự - 2006). Tình dục
đồng giới nam diễn ra ở mọi nền văn hóa. Các tác phẩm từ cổ xưa bằng tiếng
Phạn đã mô tả mối quan hệ đồng giới, các tác phẩm cổ đại bằng tiếng Trung
Hoa và Triều Tiên cũng mô tả những mối quan hệ này. Ở Đông Á, các nghiên
cứu đã ước tính rằng 3% - 5% nam giới đã từng có quan hệ tình dục với nam
MSM ở Hà Nội có thể được chia làm 2 nhóm bóng kín và bóng lộ. Bóng kín
là những MSM luôn giấu kín ham muốn tình dục đồng giới và các mối quan hệ
với người đồng giới. Bóng lộ lại thường công khai về bản sắc tính dục đồng giới
của mình. Nhiều người bóng lộ ăn mặc và cư xử giống như phụ nữ. Do bóng kín
8
9
khó nhận dạng nên những nỗ lực can thiệp sẽ khó tiếp cận tới nhóm này hơn. Kỳ
thị liên quan đến bóng lộ có thể là rào cản cho các nỗ lực tạo lòng tin của các
thành viên trong nhóm và vận động sự hỗ trợ từ cộng đồng.
Thế giới của cộng đồng MSM tại Hà Nội có thể được mô tả bằng
những hình thức gặp gỡ và mở rộng mạng lưới rất sinh động thông qua các
hoạt động giải trí của các thành viên thuộc cộng đồng này. Internet ngày càng
trở thành một phương tiện quan trọng giúp các MSM trẻ tuổi kết nối và tạo
mạng lưới với nhau.
Xét về bản sắc tính dục, cộng đồng MSM ở Hà Nội bao gồm ba nhóm
chính: nhóm đồng tính, nhóm lưỡng tính và nhóm khác giới. Hầu hết những
người trong nhóm đồng tính hoàn toàn chỉ có quan hệ tình dục với nam giới,
một vài trong số họ thử quan hệ tình dục với phụ nữ để khẳng định bản sắc
tính dục của mình. Những người lưỡng tính và khác giới trong nghiên cứu
này có quan hệ tình dục với cả nam giới và phụ nữ. Cả bóng lộ và bóng kín
thích quan hệ tình dục với đàn ông “ xịn”. Bóng kín rất hiếm khi muốn có liên
hệ với bóng lộ và ngược lại nếu bóng lộ biết được bản sắc tính dục thật sự của
bóng kín.
Thị trường mại dâm nam-nam ở Hà Nội hiện nay đang rất sôi động.
Bên cạnh người dân bản địa, nam di dân trở thành một nguồn cung quan trọng
cho thị trường này. Tham gia hoạt động mại dâm nam không chỉ gồm người
đồng tính, mà còn có cả những người nam không đồng tính di cư đến Hà Nội
Mặc dù MSM/NBDĐG biết về HIV/ STIs cũng như giang mai và lậu,
nhiều người cũng nhận thức được những nguy cơ lây nhiễm của các bệnh này,
nhưng vẫn còn tồn tại nhiều nhận thức và tưởng tượng sai lầm xung quanh
tình dục giữa nam với nam. Nhiều người trong số họ tin rằng tình dục namnam an toàn hơn tình dục nam- nữ, và phụ nữ mới là nguồn lây các bệnh qua
đường tình dục. Có một quan niệm cho rằng tình dục hậu môn và tình dục
đường miệng có thể an toàn nếu người cho xuất tinh ra ngoài. Một số người
10
11
tự tin cho rằng họ có thể nhận biết được bạn tình của mình có phải là người
khỏe mạnh không qua vẻ bề ngoài của người đó.
Rất ít MSM/NBDĐG biết đến và sử dụng dịch vụ tư vấn và xét nghiệm
tự nguyện. Nhiều người khi mắc STIs thích tự mua thuốc để điều trị do muốn
tránh bị kỳ thị. MSM/NBDĐG thường tìm đến điều trị tại các cơ sở y tế tư nhân
để tránh bị phát hiện. Một số nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể chưa nhận thức
được sự tồn tại của các vấn đề sức khỏe tính dục của MSM. Điểu này có thể hạn
chế khả năng xác định được nhu cầu đặc thù của khách hàng MSM và từ đó hạn
chế khả năng đưa ra những lời khuyên và hướng điều trị thích hợp [2].
Bên cạnh đó, sự chồng chéo giữa tình dục khác giới và tình dục đồng
giới nam chính là vấn đề nảy sinh trong cuộc đấu tranh phòng chống AIDS.
Nhiều người đàn ông có quan hệ tình dục đồng giới vẫn có quan hệ tình dục
cả với phụ nữ. Nhiều người đàn ông đã lập gia đình nhưng vẫn có quan hệ
tình dục đồng giới với bạn tình nam khác. 42% những người tham gia trả lời
trong cuộc khảo sát về Nam quan hệ tình dục đồng giới ở Andhra Pradesh, Ấn
Độ đã lập gia đình ( Dandona và cộng sự,2005). Một khảo sát được tiến hành
với 482 người nam có quan hệ tình dục đồng giới ở Bắc Kinh (Gibson và
cộng sự, 2004) cho thấy gần 2/3 trong số những người tham gia phỏng vấn đã
có quan hệ tình dục với phụ nữ. 28% trong số họ có quan hệ tình dục với phụ
cứu hành vi trên 276 nam giới có QHTDĐG tại TP HCM năm 1997 cho thấy
64% đã từng có QHTD qua đường hậu môn và 42% có QHTD qua đường hậu
môn trong lần QHTD lần gần nhất [17]. Một nghiên cứu hành vi tiến hành
trên 219 nam giới có QHTDĐG cũng tại TP Hồ Chí Minh trong năm 2001
cho thấy phần lớn những người này (81%) có QHTD với bạn tình bất chợt và
một nửa có QHTD qua đường hậu môn với bạn tình bất chợt [9].
.
Nhận thức được hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs trong hình
thức QHTD qua đường hậu môn nên các nghiên cứu trên nhóm này đều đề
12
13
cập đến các chỉ số này như là một thông tin gián tiếp cho tình trạng nhiễm
HIV và các bệnh STIs khác.
* Sử dụng Bao cao su và chất bôi trơn
Nếu QHTD qua đường hậu môn có sử dụng BCS và dùng thêm chất
bôi trơn hòa tan với nước cho mọi lần quan hệ thì nguy cơ lây truyền HIV
giảm đi rất nhiều.
Nguy cơ lây truyền HIV qua đường QHTD bằng đường hậu môn cũng
có thể giữa nam giới với nữ giới là đặc biệt cao nếu không dùng BCS.
Một nghiên cứu điều tra trên 206 nam giới có QHTDĐG tại Phnôm
Pênh về hành vi QHTD và xét nghiệm nhiễm HIV và các bệnh STIs cho thấy
81% trong số họ báo cáo có QHTD với bạn tình nam giới khác trong 6 tháng
trước khi điều tra và có 61,2% báo cáo có QHTD qua đường âm đạo với phụ
nữ. Tỷ lệ sử dụng BCS của nhóm này với các loại bạn tình khác nhau là rất
khác nhau, hơn 48% NQHTDĐG có QHTD không an toàn trong QHTD qua
Tại Việt Nam, một nghiên cứu đã khẳng định có trên 5 bạn tình nam
giới có QHTD qua đường hậu môn trong tháng qua là một trong những yếu tố
nguy cơ gây nhiễm HIV (OR=2,43) [5].
b. Nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs ở nhóm NBDĐG
* QHTD đường hậu môn không an toàn
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chuyên sâu về NBDĐG cho thấy tỉ lệ
QHTD đường hậu môn, đặc biệt là QHTD không an toàn đều rất cao và cao
hơn đáng kể so với nhóm không bán dâm. Nghiên cứu tại Jakarta-Indonesia
cũng đã cho biết, tỉ lệ không sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn trong
nhóm NBDĐG lên tới 64,8%, cao nhất trong các nhóm đối tượng nam QHTD
đồng giới khác [13]. Thượng Hải là thành phố có hoạt động mại dâm nam
14
15
hoạt động khá mạnh với khoảng 60 địa điểm đồng tính hoạt động, một vài
trang web đồng tính được ưa chuộng và một số tổ chức đồng tính phi chính
phủ nhưng có tới 29,1% không dùng biện pháp bảo vệ khi QHTD với khách
hàng Hồng Kông [16]. Theo một nghiên cứu tại Ấn Độ trên 75 đối tượng
NBDĐG, 100% số người được hỏi báo cáo có QHTD đường hậu môn, tuy
nhiên chỉ có 33% sử dụng BCS thường xuyên và có tới 13% chưa bao giờ sử
dụng BCS [14].
* QHTD với nhiều bạn tình thuộc cả hai giới
Nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs, thể hiện qua số bạn tình cũng như sự
đa dạng của các loại bạn tình trên nhóm NBDĐG cũng đã được nhiều nghiên
cứu đề cập. Kết quả nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy nhóm NBDĐG có trung
bình 2,5 khách nam giới mua dâm trong 1 tuần. Số liệu một nghiên cứu tại
Nga trên 434 nam giới có QHTDĐG cho thấy, trong 96 đối tượng có bán dâm
thì trung bình mỗi đối tượng có 74 bạn tình nam trong đời và có 4,1 bạn tình