Đặt vấn đề
Trong đời sống sinh lý người phụ nữ, từ lúc sinh ra đến khi xế chiều,
thì sự thay đổi của hệ thống cơ thể đều diễn ra nhiều giai đoạn, từ tuổi ấu
thơ, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, tuổi mãn kinh và tuổi già. Tuổi mãn
kinh là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động
mạnh mẽ sang trạng thái thoái dần rồi kết thúc.
Mãn kinh là một sự kiện sinh lý bình thường mà mỗi phụ nữ đều
phải trải qua. Mãn kinh xảy ra với hiện tượng ngừng kinh nguyệt, không
phóng noãn, giảm nồng độ các hormon sinh dục nữ dẫn đến sự thay đổi về
đặc điểm sinh học cũng nh tâm lý ở người phụ nữ. Giai đoạn này buồng
trứng giảm sản xuất hai hormon sinh dục nữ là estrogen và progesteron.
Phụ nữ mãn kinh có nguy cơ cao đối với bệnh tật do tình trạng thiếu hụt
estrogen và gánh nặng của tuổi tác gây nên, trong đó trước mắt là các triệu
chứng của mãn kinh như cơn bốc hỏa, khô âm đạo, mất ngủ, toát mồ hôi
đêm và về lâu dài còn phải đối mặt với nguy cơ của bệnh tim mạch, bệnh
loãng xương, bệnh Alzheimer Tất cả các rối loạn này đã ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống của người phụ nữ.
Mỗi người phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh khác nhau. Ngay cả tuổi
bắt đầu mãn kinh cũng thay đổi. Một số người bắt đầu từ 30-40 tuổi, một số
khác có thể đến trên 60. Phổ biến nhất là khoảng 45 - 55 tuổi. Các triệu
chứng cũng rất thay đổi tùy mỗi người. Có thể chỉ có vài triệu chứng nhẹ
thoáng qua, hoặc mắc phải hàng loạt biến đổi tâm sinh lý. Phụ nữ mãn kinh
thường trải qua sự rối loạn vận mạch, các cơn bốc nóng mặt, vã mồ hôi ban
đêm, hồi hộp, khó chịu… Nguyên nhân là cơ thể đang tập quen dần với
tình trạng thiếu hụt estrogen - hormon sinh dục nữ.
1
Cùng với sự suy giảm nồng độ estrogen, nguy cơ mắc các bệnh lý tim
mạch cũng tăng cao. Rối loạn tim mạch ở phụ nữ tuổi mãn kinh không chỉ
gây tử vong mà còn làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống nhưng lại
cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa hiệu quả, trong đó lối sống có vai
trò chủ yếu trong việc gây ra các rối loạn tim mạch ở phụ nữ tuổi mãn kinh.
noón nhng khụng th tinh, l biu hin hot ng ni tit ca bung trng
ngi ph n. S bong ni mc t cung xy ra tun t trờn ton b mt ca
niờm mc, bong n õu thỡ ni mc t cung li c tỏi to ngay v vỡ th
khi bong xong ton b ni mc t cung cng l lỳc ni mc t cung c
tỏi to xong, thi gian kộo di 3-4 ngy. Di nh hng ca cỏc hormon
bung trng, ni mc t cung cú s bin i v cu trỳc v chc nng qua
cỏc giai on tng sinh, ch tit v thoỏi trin.
Kinh nguyt bỡnh thng l biu hin kt qu hot ng ca bung
trng v thn kinh ca ngi ph n.
1.1.2. Cỏc thi k hot ng sinh dc ca ngi ph n.
- Ngi ta ly mc chia cuc i hot ng sinh dc ca ngi
ph n thnh cỏc thi k khỏc nhau. (hỡnh 1.1)
3
10
19
Thời kỳ thơ ấu
Giai đoạn
dậy thì
15
Tiền mãn kinh
42
52
Thời kỳ hoạt động sinh sản
Thời kỳ mãn kinh
Tuổi
Tuổi trẻ
20
49
Hình 1.1: Các thời kỳ trong cuộc đời người phụ nữ
- Thời kỳ thơ Êu là thời kỳ phụ nữ lọt lòng mẹ đến trước khi có chu
5
1.2.2. Phân loại mãn kinh
- Mãn kinh tự nhiên là tình trạng vô kinh liên tục 12 tháng sau lần có
kinh cuối cùng mà không có bất kỳ nguyên nhân bệnh lý nào.
- Mãn kinh nhân tạo là tình trạng dừng kinh nguyệt sau khi cắt bỏ
buồng trứng (có hoặc không cắt bỏ tử cung) hoặc do điều trị hoá chất,
phóng xạ làm suy giảm chức năng buồng trứng.
1.2.3. Các giai đoạn của mãn kinh
- Giai đoạn tiền mãn kinh (Pre-menopause): là giai đoạn trước khi mãn
kinh, khi mà chu kỳ kinh nguyệt vẫn đều đặn ở phụ nữ sau độ tuổi 40, đôi khi
mất kinh nhưng không kéo dài quá 3 tháng.
- Giai đoạn quanh mãn kinh (Peri-menopause) : là giai đoạn ngay
trước khi mãn kinh thật sự, khi mà chu kỳ kinh nguyệt bất thường hoặc có
giai đoạn vô kinh kéo dài hơn 3 tháng nhưng không kéo dài hơn 12 tháng,
giai đoạn này bao gồm cả năm đầu sau khi mãn kinh.
- Giai đoạn hậu mãn kinh (Post-menopause) : là giai đoạn sau khi vô
kinh liên tục 12 tháng, giai đoạn này kéo dài cho tới khi chết.
Hình 1.3. Mối liên quan giữa các khoảng thời gian
xung quanh thời điểm mãn kinh
6
Quanh m·n kinh
M·n kinh
12 th¸ng
HËu m·n kinh
TiÒn m·n kinh
1.2.4 Cơ sở sinh lý học của mãn kinh
Giai đoạn tiền mãn kinh kéo dài khoảng 1-5 năm, có khi tới 10 năm
trước khi mãn kinh. Dấu hiệu sớm nhất là: (1) chu kỳ kinh nguyệt ngắn lại,
không đều từ 2 đến 3 ngày và (2) giảm khả năng thụ thai.
Sau khi sinh, số lượng các nang trứng sẽ giảm dần và đến tuổi dậy
thượng thận và 5% từ buồng trứng. Sau đó sự chuyển đổi estron ở mô
ngoại vi là nguồn gốc chính của estradiol trong thời kỳ mãn kinh.
Ở thập kỷ 70 thế kỷ XX, người ta đã biết đến hiện tượng tăng FSH
huyết tương trong giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh. Nồng độ FSH huyết
thanh tăng lên trên 40 mUI/ml là dấu hiệu cận lâm sàng đáng tin cậy nhất
để xác định mãn kinh.
Trong một nghiên cứu tiến cứu, Burger và cộng sự đã tiến hành định
lượng FSH và estradiol ở PNMK và thấy rằng nồng độ estrogen trung bình
giảm khoảng hai năm trước khi mãn kinh, giảm rất nhanh vào thời điểm
mãn kinh và có trạng thái cao nguyên ảo sau khi mãn kinh hai năm; trong
khi đó, nồng độ trung bình của FSH tăng nhanh trong hai năm trước khi
mãn kinh, tăng rất nhanh trong vòng 10 tháng trước khi mãn kinh và ở
trạng thái cao nguyên ảo khoảng hai năm sau mãn kinh.
Ngày nay vai trò của inhibin đã được làm sáng tỏ và các tác giả đã
chứng minh có mối liên quan chặt chẽ giữa sự tăng nồng độ FSH với sự
giảm nồng độ inhibin và nồng độ estrogen trong thời kỳ tiền mãn kinh.
Như vậy, là có mối tương quan nghịch giữa nồng độ inhibin với nồng độ
FSH trong thời kỳ mãn kinh.
Các hormon sinh dục được gắn với globulin (SHBG) là một protein
huyết thanh, chỉ có 1-3% ở trạng thái tự do và có hoạt tính sinh học. Nồng
8
độ globulin gắn hormon sinh dục có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi. Hút
thuốc lá làm tăng khả năng gắn của SHBG với estrogen và là nguyên nhân
chính làm giảm hoạt tính sinh học của estradiol.
1.2.6. Tuổi mãn kinh
Tuổi mãn kinh tự nhiên khoảng 40 - 55 tuổi, trước 40 tuổi được xem
là mãn kinh sớm, sau 55 tuổi được xem là mãn kinh muộn. Theo một số tác
giả khác thì mãn kinh ở giai đoạn từ 30-39 tuổi là mãn kinh tự nhiên sớm,
còn từ trên 55 tuổi là mãn kinh tự nhiên muộn. Theo công bố của WHO
năm 1996 thì tuổi mãn kinh trung bình ở các nước công nghiệp phát triển
tác dụng kích thích của FSH mặc dù nồng độ FSH lúc này rất cao. Trong
giai đoạn này có thể có những thay đổi về độ dài của chu kỳ kinh nguyệt,
hoặc thay đổi về số lượng máu kinh.
Trong trường hợp điển hình thì ở giai đoạn sớm của tiền mãn kinh,
chu kỳ kinh nguyệt có thể ngắn lại và sau đó lại kéo dài ra. Một vài chu kỳ
hoàn toàn không có kinh. Những chu kỳ không phóng noãn có thể xuất
hiện đột ngột nên không có hoàng thể hoặc hoàng thể chóng tàn và chế tiết
progesteron kém. Điều này dẫn đến mất cân bằng giữa estrogen và
progesteron gây tăng sinh niêm mạc tử cung và hậu quả là rong kinh. Trong
những trường hợp này, bác sỹ Sản phụ khoa cần chẩn đoán phân biệt với
các bệnh lý thực thể khác của tử cung mà hay gặp nhất là u xơ tử cung.
Đến giai đoạn mãn kinh thật sự, do lượng estrogen tiết ra không đủ
để làm thay đổi niêm mạc tử cung đến mức gây được hiện tượng kinh
nguyệt nên xẩy ra hiện tượng thôi hành kinh vĩnh viễn. Như vậy, hiện
tượng ngừng kinh nguyệt đánh dấu sự xuất hiện của thời kỳ mãn kinh. Sau
10
khi loại trừ các nguyên nhân khác, người phụ nữ sẽ được chẩn đoán là mãn
kinh khi vô kinh trên một năm.
1.2.7.2. Hội chứng mãn kinh
Hội chứng mãn kinh bao gồm một số triệu chứng mà phụ nữ mắc
phải có liên quan tới thời kỳ mãn kinh.
Các triệu chứng liên quan tới thời kỳ mãn kinh ảnh hưởng rất nhiều
tới chất lượng sống của phụ nữ mãn kinh nên trên thế giới có nhiều nghiên
cứu liên quan tới lĩnh vực này. Các nghiên cứu chủ yếu là thống kê tỷ lệ
xuất hiện, lượng hóa mức độ của các triệu chứng và phân thành các nhóm.
Tuy nhiên cho đến nay các tác giả không thống nhất được với nhau ở số
lượng các triệu chứng cũng như số lượng của các nhóm triệu chứng. Theo
tìm hiểu của chúng tôi thì nhìn chung, các biểu hiện của phụ nữ thời kỳ này
thường gồm:
* Các rối loạn về vận mạch
hệ thống sinh dục - tiết niệu. Teo âm đạo thường xuất hiện muộn trong
khoảng 5 -10 năm sau mãn kinh, tuy nhiên những năm sau mãn kinh thì
estrogen vẫn có tác dụng lên các tế bào âm đạo. Một nghiên cứu về tế bào
âm đạo ở 148 phụ nữ tuổi từ 40-78 chỉ ra rằng chỉ có 20% số phụ nữ có
phiến đồ âm đạo teo hoàn toàn. Âm đạo - cổ tử cung có nhiều mạch máu
nên rất dễ tổn thương khi va chạm và gây chảy máu. Theo Larson B. và CS
thì tỷ lệ khô âm đạo là khoảng 37% ở phụ nữ MK Thụy Điển, theo Harvey
Chim thì tỷ lệ này là 20,7% ở phụ nữ Singapore. Ngoài triệu chứng khô âm
đạo, hết ham muốn tình dục cũng là một yếu tố giảm tần suất hoạt động
12
tình dục. Giảm ham muốn tình dục do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
đó có quan niệm cho rằng tình dục chỉ dành cho giới trẻ. Ở Việt Nam theo
Đặng Quang Vinh nghiên cứu ở phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Tô Minh
Hương, và ở phụ nữ thành phố Hà Nội, thì tỷ lệ giao hợp đau tương ứng là
50% và 71,6%.
Rối loạn về tiết niệu là biểu hiện thường thấy ở phụ nữ có tuổi,
thường xảy ra vào giai đoạn quanh mãn kinh. Triệu chứng này cũng gặp ở
nam nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Các triệu chứng về đường tiết niệu gồm có:
bí đái, khó đái, tiểu không tự chủ thường gặp ở khoảng 25-50% số phụ nữ
sau mãn kinh. Ở Việt Nam theo Nguyễn Thị Tân Sinh thì tỷ lệ này là
37,5% .* Dấu hiệu về cơ xương khớp
Tỷ lệ phụ nữ mãn kinh phàn nàn về các triệu chứng cơ xương khớp
là rất cao, đặc biệt là đau lưng, đau khớp Theo nghiên cứu tại Trung
Quốc của Ho S.C. và cộng sự, thì triệu chứng cơ xương khớp chiếm tỷ lệ
cao nhất, sau đó mới đến các triệu chứng đau đầu và các triệu chứng tâm
lý, cuối cùng là các triệu chứng rối loạn vận mạch. Tại Việt Nam theo
Nguyễn Thị Ngọc Phượng thì triệu chứng về cơ xương khớp chiếm tỷ lệ
cao nhất là 67%, sau đó là triệu chứng bốc hoả (44,1%), triệu chứng tiết
niệu (32,2%) và cuối cùng là rối loạn tình dục (28,4%). Trần Thị Tô Châu
nghiên cứu trên phụ nữ mãn kinh thành phố Hà Nội cho thấy tỷ lệ đau cơ
lệ rối loạn tâm lý như đau đầu, hay quên, căng thẳng thần kinh của phụ nữ
mãn kinh Trung Quốc là 12,27%, trong khi đó ở Mỹ tỷ lệ này là 25%.
1.2.7.3. Một số biểu hiện về mạch, huyết áp trong thời kỳ mãn kinh
Theo thống kê của WHO thì bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nguy cơ về bệnh tim mạch ở nữ
14
thấp hơn nam, nhưng khi tuổi cao thì nguy cơ tăng đối với cả hai giới. Ở độ
tuổi 45-55 nguy cơ bệnh tim mạch của nam cao gấp ba lần nữ; sau tuổi 65
thì sự khác biệt giảm đi, còn đến tuổi 75 trở đi thì nguy cơ ở cả hai giới xấp
xỉ nhau.
Theo các nghiên cứu thì bản thân tuổi tác không đóng vai trò quan
trọng trong việc gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Những yếu tố như tiền sử
gia đình, hút thuốc lá, cholesterol cao, cao huyết áp, đái tháo đường đóng
vai trò then chốt trong việc xác định nguy cơ ở mỗi cá thể. Estrogen vẫn
được xem là yếu tố chống lại sự thành lập và phát triển mảng xơ vữa, nên
nguy cơ bệnh tim mạch sẽ tăng lên ở phụ nữ mãn kinh do giảm estrogen, vì
estrogen có tác dụng:
- Giảm cholesterol toàn phần và LDL - cholesterol, tăng HDL -
cholesterol.
- Ức chế sự vận chuyển cholesterol vào lớp áo trong của mạch máu.
- Tác dụng làm giảm fibrinogen và yếu tố VII, hoạt hoá plasminogen
nên có tác dụng chống đông máu và làm tan cục máu đông.
- Cải thiện tưới máu nhờ tăng giãn mạch.
Một nghiên cứu trên phụ nữ mãn kinh tại Malaysia thấy rằng nồng
độ cholesterol và lipid ở phụ nữ sau mãn kinh tăng cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với ở phụ nữ tiền mãn kinh. Như vậy, sự giảm estrogen theo
thời gian, nhất là nồng độ estrogen sau mãn kinh rất thấp là một yếu tố làm
tăng nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ nữ mãn kinh.
Mạch bị xơ vữa làm giảm tính đàn hồi của thành mạch và do đó làm
tăng sức cản ngoại vi, khi đó tim phải tăng hoạt động để chống lại sự tăng
tác giả đã nghiên cứu một số khía cạnh về sức khỏe sinh sản phụ nữ mãn
kinh như:
- Nghiên cứu tần suất loãng xương ở phụ nữ mãn kinh của Vũ Đình
Chính thuộc một số xã ở Hải Dương.
- Nghiờn cứu mụt số chỉ số Lipid máu và biến đổi Estradiol ở phụ nữ
độ tuổi quanh mãn kinh (49+-3 tuổi)của Lê Quang Toàn
- Nghiên cứu chỉ số sinh học của phụ nữ tuổi mãn kinh ở nữ Hà Nội,
Cần Thơ của Nguyễn Huy Bình, Nguyễn Trung Kiên
Nhìn chung các công trình còn dừng lại ở việc nghiên cứu một số
khía cạnh của sức khỏe sinh sản, một số rối Ýt loạn chức năng thời kỳ mãn
17
kinh chứ chưa thấy có nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến biến đổi tim mạch
ở phụ nữ quanh tuổi mãn kinh
1.3. Đại cương về tăng huyết áp
1.3.1. Định nghĩa tăng huyết áp.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization – WHO),
Hội Tăng huyết áp châu Âu (European Society of Hypertension – ESH) và
Liên ủy ban quốc gia về phòng ngừa, phát hiện, lượng giá và điều trị bệnh
THA Hoa Kỳ (The Sixth Report of the Joint National Committee on
Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of Hight Blood Pressure -
JNC VII) đã thống nhất, với người lớn ≥ 18 tuổi:
- Chẩn đoán là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg
và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg.
- Gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn độc (Isolate Systolic Hypertension
-ISH) khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và huyết áp tâm trương < 90 mmHg.
- Gọi là tăng huyết áp tâm trương đơn độc (Isolate Diastolic
Hypertension - IDH) khi huyết áp tâm thu < 140 mmHg và huyết áp tâm
trương ≥ 90 mmHg.
1.3.2. Phân loại tăng huyết áp.
Năm 1997, JNC VI trình bày bảng phân loại THA và chiến lược điều
THA tâm thu đơn độc
140 - 159
160 - 179
≥ 180
≥ 140
và / hoặc
và / hoặc
và / hoặc
và
90 - 99
100 - 109
≥ 110
< 90
Năm 2003, JNC VII bổ sung thêm một số vấn đề mới về điều trị
THA trên cơ sở JNC VI và đưa ra cách phân loại THA mới.
Bảng 1.2. Phân loại THA theo JNC VII (2003)
Loại THA HA tâm thu
(mmHg)
HA tâm trương
(mmHg)
Bình thường
Tiền THA
THA giai đoạn I
THA giai đoạn II
< 120
120 - 129
140 - 159
≥ 160
và
hoặc
- Mắt: Xuất huyết võng mạc và xuất tiết kèm theo hoặc không
kèm phù gai thị biểu hiện của THA ác tính hoặc THA tiến
triển nhanh)
- Thận: Creatinin huyết tương > 133 mcmol/l.
Suy thận.
- Mạch máu:
21
Phình tách động mạch.
Tắc động mạch có biểu hiện cơ năng.
1.3.3. Nguyên nhân gây THA.
1.3.3.1. Tăng huyết áp tiên phát.
Đại đa số THA ở người lớn (>95%) là không tìm thấy nguyên nhân
(hay THA vô căn), cơ chế gây bệnh THA chưa thật rõ ràng.
1.3.3.2. Tăng huyết áp thứ phát.
Một số nhỏ bệnh nhân trẻ tuổi bị THA (thường < 5-10%) có thể phát
hiện được nguyên nhân đặc biệt gây THA (gọi là tăng huyết áp thứ phát).
Các biện pháp áp dụng để tìm kiếm thường là khai thác tiền sử,
khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thường quy. Một số nguyên
nhân gây tăng huyết áp thứ phát được tìm thấy gồm:
- Tăng huyết áp do nhu mô thận (viêm cầu thận, thận đa nang), bệnh
mạch máu thận (hẹp ĐM thận do xơ vữa hoặc dị dạng)…
- Các bệnh nội tiết: U tuỷ thượng thận, Cushing, cường aldosteron…
- Các bệnh hệ tim mạch: hẹp quai ĐM chủ (HA chi trên cao hơn,
HA chi dưới thấp hoặc không đo được)
- Do dùng một số thuốc: viên tránh thai uống, steroid, kháng viêm
không steroid, cocain, amphetamine, …
- Một số nguyên nhân khác: ngộ độc thai nghén, ngưng thở khi ngủ…
1.3.4. Chẩn đoán tăng huyết áp:
Tại phòng khám: Khi bệnh nhân có trị số HA ≥ 140/90 mmHg, sau
khám lọc lâm sàng Ýt nhất 2 lần khác nhau, mỗi lần khám HA được đo Ýt
- Z
2
1-
α
/2
bằng 1,96 với độ tin cậy 95%.
- p là tỷ lệ tăng huyết áp ở phụ nữ quanh mãn kinh.
Ước lượng p = 0,5; q = 1-p = 0,5 (theo nghiên cứu HERS)
23
- d: chớnh xỏc tng i (khong sai lch mong mun gia t l
thu c t mu v t l quan sỏt). Ly d = 0,08.
Thay vo cụng thc ta cú:
n = (1,96
2
x 0,5 x 0,5)/ 0,08
2
= 150
2.2.3. Quy trỡnh nghiờn cu:
Tt c bnh nhõn tham gia nghiờn cu c hi, khỏm lõm sng v
xột nghim theo mu bnh ỏn sn cú (Ph lc 1)
2.2.4. S nghiờn cu
24
Bệnh nhân nghiên cứu
Hỏi bệnh theo mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1)
Khám lâm sàng
Đo chiều cao, cân nặng, tính BMI
Đo huyết áp, nghe tim
Xét nghiệm cận lâm sàng
Điện tâm đồ: nếu có rối loạn nhịp -> holter ĐTĐ
Holter huyết áp