Lựa chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho học sinh nữ đội tuyển bóng rổ trường trung học phổ thông 19 5, tỉnh hòa bình - Pdf 31

1

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền giáo dục xã hội ch ủ
nghĩa, nhằm góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn di ện có tri
thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chất cho mọi người. Thể dục thể
thao là một lĩnh vực quan trọng trong cuộc sống, có ý nghĩa to l ớn
trong xã hội. Ở bất cứ quốc gia nào trên th ế giới c ũng đều chú tr ọng
đến công tác phát triển thể dục thể thao. Thể dục thể thao là một b ộ
phận hữu cơ của đời sống con người. Người được đánh giá là phát
triển toàn diện thì người đó phải được phát triển cả về trí tuệ l ẫn
thể chất. Thể dục thể thao là phương tiện góp phần quan tr ọng phục
vụ đắc lực cho sự phát triển về thể chất và tinh thần đó. Vì v ậy ở
nhiều nước trên thế giới đã xem công tác thể dục th ể thao là m ột
trong những yếu tố quan trọng của phát triển xã h ội và đưa nền th ể
dục thể thao của nước mình phát triển đến đỉnh cao nhất.
Trong công tác ngoại giao thì thể dục thể thao đóng vào vị trí
hết sức quan trọng nó được xem là cầu nối giữa các dân tộc trên thế
giới. Qua đó tìm hiểu học tập và giúp đỡ lần nhau, đưa thế giới vào
cuộc sống hòa bình và hữu nghị.
Ngay sau ngày đất nước ta giành được chính quyền n ăm
1945 trong lúc đất nước còn gặp nhiều khó kh ăn, nh ưng Bác H ồ đã
kêu gọi toàn dân tích cực tham gia tập luyện TDTT và được nhân
dân tham gia hưởng ứng tập luyện rất tích c ực.
Ngày nay đất nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước với khẩu hiệu của Đảng “ Khỏe để xây
dựng bảo vệ tổ quốc ” hiểu được ý nghĩa và tác d ụng c ủa việc t ập
luyện TDTT đã đem lại sức khỏe cho con người. Có sức khỏe m ới có

Bóng rổ là môn thể thao thi đấu với sự chuyển động liên t ục
của người chơi. Hoạt động với cường độ tối đa ngày càng tăng lên
trong những năm gần đây. Vì vậy ngoài việc hoàn thiện k ỹ thu ật
thì yếu tố thể lực sức bền tốc độ trong thi đấu Bóng rổ luôn tr ở
thành một trong những yếu tố quyết định.

2


3

3

Sức bền tốc độ là một tố chất thể lực giúp cho các c ầu thủ hay
những người tập luyện thực hiện được các kỹ thuật hay chi ến thu ật
của cả đội được tốt. Nó đáp ứng một cách hiệu quả các tình huống
như phả công nhanh, tấn công khu vực cũng như quay v ề phòng th ủ
khi đội mình bị mất quyền khống chế bóng. Trong khái ni ệm rộng l ớn
về sức bền tốc độ ở Bóng rổ hay ở các môn khác, ta có th ể gặp các
cầu thủ có trình độ cao về thể lực và tốc độ thì khả năng ho ạt
động trong các pha phản công nhanh hay quay về phòng th ủ m ột
cách liên tục thì họ dễ dàng đặt hiệu quả cao hơn và t ạo đi ều kiện
thuận lợi cho đồng đội về mặt thể lực cũng như các mặt tâm lý thi
đấu được tốt hơn.
Trong những năm gần đây, môn học Bóng rổ luôn được tuy ển
sinh vào các khóa của trường Đại học TDTT, nhằm thúc đẩy phong
trào tập luyện và thi đấu bóng trong cả nước đạt hiệu qu ả cao h ơn.
Chính vì vậy điều quan trọng trong môn Bóng rổ là vi ệc hu ấn
luyện tố chất thể lực của học sinh chuyên sâu cần được tiến hành
trong suốt nhiều năm huấn luyện. Trong đó c ần chú tr ọng t ới công

2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở đánh giá th ực
trạng quá trình huấn luyện của cán bộ giáo viên và quá trình rèn
luyện về mặt thể lực và tìm hiểu nguyên nhân c ơ b ản tr ực ti ếp
hưởng đến sức bền tốc độ của học sinh nữ đội tuyển Bóng rổ
trường phổ thông trung học 19-5, Tỉnh Hòa Bình. T ừ đó nghiên c ứu
và lựa chọn ra các bài tập nhằm phát triển sức bền t ốc độ cho h ọc
sinh nữ đội tuyển bóng rổ trường phổ thông trung h ọc 19-5, T ỉnh Hòa
Bình để đạt hiệu quả cao trong quá trình tập luyện và thi đấu môn
bóng rổ.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nêu trên đề tài xác định gi ải quy ết 2
mục tiêu nghiên cứu sau:
- Mục tiêu 1: Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng
cao sức bền tốc độ cho đội tuyển bóng rổ nữ trường trung học ph ổ
thông 19-5, Tỉnh Hòa Bình.
4


5

5

- Mục tiêu 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các bài tập đã
lựa chọn.

3. Giả thuyết khoa học
Trong điều kiện thực tiễn của Trường THPT 19-5, tỉnh Hòa
Bình nếu sử dụng các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho V ĐV
đội tuyển bóng rổ nữ thì sức bền tốc độ của VĐV sẽ được nâng cao,

động tập luyện và là tiền đề quan trọng để người tập có thể hồi phục nhanh
chóng sau quá trình tập luyện và thi đấu.
Việc phân loại sức bền có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi một
trường phái khác nhau lại căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm khác nhau để phân
loại. Qua phân tích và nghiên cứu tài liệu chúng tôi thấy có một số cách phân
loại như sau:
- Sức bền cơ sở: Là một dạng sức bền, là năng lực của VĐV nhằm
chống lại mệt mỏi trong hoạt động vận động kéo dài, trong đó không có sự
tham gia của quá trình trao đổi chất yếm khí.
Cơ sở sinh lý của năng lực sức bền này là sự “tiết kiệm hoá” trong hoạt
động của các chức năng cơ thể (tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất) và sự thuần
thục kĩ thuật. Phát triển sức bền cơ sở trước hết phải nâng cao khả năng hấp
thụ oxy và các năng lực chuyển hoá có oxy cũng như phải phát triển các phẩm
chất tâm lý chuyên môn.
Phát triển tốt sức bền cơ sở sẽ tạo nên nền tảng chức năng vững chắc
cho tất cả các môn thể thao sức bền và các môn thể thao có yêu cầu sức bền
như một yếu tố xác định thành tích.
- Sức bền thi đấu chuyên môn: Là một dạng sức bền, là năng lực của
VĐV nhằm chống lại mệt mỏi khi thực hiện các yêu cầu chuyên môn của môn
thể thao hoặc kĩ thuật thể thao trong điều kiện thi đấu.

6


7

7

Dựa vào đặc điểm của từng môn thể thao, người ta phân sức bền
chuyên môn thành các loại như sau:


8

- Sức bền yếm khí: Là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong
điều kiện dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (các phản ứng giải
phóng năng lượng không có sự tham gia của oxy).
1.1.1.2. Phương pháp đánh giá sức bền
Để tiến hành kiểm tra sức bền người ta sử dụng 02 phương pháp trực
tiếp và gián tiếp:
- Phương pháp trực tiếp xác định khoảng thời gian mà con người duy
trì được với cường độ đinh trước. Ví dụ: Cho VĐV chạy với tốc độ nào đó và
sức bền được đánh giá bằng thời gian mà VĐV đó duy trì được. phương pháp
này không được dùng trong thực tiễn huấn luyện và sự quna sát bằng mắt khó
xác định chính xác tốc độ.
- Thông thường người ta sử dụng phương pháp gián tiếp: phương pháp
này yêu cầu vượt qua cự ly tương đối dài. và xác định thời gian đạt được ví
dụ: sức bền chung có thể được đánh giá bằng thời gian chạy trên cự ly 5000,
10.000m hoặc bằng quãng đường chạy trong 12phút (test Cuper).
- Các chỉ số trên đều là các chỉ số đánh giá sức bền tuyệt đối (không
tính đến ảnh hưởng của sức mạnh và sức nhanh) trong huấn luyện thể thao và
GDTC còn phải căn cứ vào các yếu tố khác (sức mạnh, sức nhanh) để đáp
ứng yêu cầu đó người ta áp dụng các chỉ số tương đối để đánh giá sức bền.
Dự trữ tốc độ được tính bằng hiệu số giữa thời gian trung bình để vượt
qua với phần cự ly (100m trong chạy, 50m trong bơi) với thời gian thấp nhất
trên đoạn cự ly (100m trong chạy, 50m trong bơi).
i=i1-i2
Trị số tuyệt đối của chỉ số này càng lớn thì sức bền càng kém.
j=

Phương pháp tính hệ số sức bền:

phương pháp kéo dài thời gian có 3 phương thức thực hiện dưới đây:
- Phương pháp liên tục: Phương pháp này có đặc điểm hoạt động trong
thời gian dài với tốc độ ổn định. Cường độ được xác định dễ dàng thông qua
tần số mạch đập. Tuỳ theo đặc điểm của môn thể thao và trình độ của người
tập giá trị này ở trong khoảng 140 - 170 lần/phút.
- Phương pháp biến đổi: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện
một lượng vận động kéo dài có sự biến đổi tốc độ theo một kế hoạch chặt chẽ.
Theo phương pháp này khi tăng tốc độ vận động sẽ làm cho cơ quan cơ thể
hoạt động căng thẳng và tạm thời phải làm việc trong điều kiện không có oxy.
Mạch đập có thể giao động trong khoảng 140 -150 lần/phút và 155 -170
lần/phút.
9


10

10

- Phương pháp Pharơlếch: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện
một lượng vận động kéo dài có sự thay đổi tốc độ theo hứng thú của người
tập, có thể thay đổi tốc độ chạy, thay đổi địa hình chạy, thay đổi cự ly với
từng vùng tốc độ...
- Phương pháp giãn cách: Đặc điểm của phương pháp giãn cách là luân
chuyển một cách hệ thống các giai đoạn vận động ngắn, trung bình và dài với
các quãng nghỉ ngắn không đủ để cơ thể hồi phục hoàn toàn. Tuỳ thuộc vào
mục đích tập luyện có thể thay đổi tốc độ, thời gian vận động vả thời gian
nghỉ giữa các giai đoạn vận động.
- Phương pháp lặp lại: Đặc điểm của phương pháp này là lặp lại một
hoặc một số yêu cầu của lượng vận động thi đấu chuyên môn thông qua việc
điều chỉnh cường độ hoặc thời gian vận động.

mất đi các nguồn dự trữ trong điều kiện hoạt động yếm khí cũng như do quá
trình ức chế phát triển trong các trung khu thần kinh vì phải hoạt động một
cách căng thẳng để đạt dược tốc độ tối đa. Vì vậy giáo dục sức bền tốc độ
phải chú ý đến việc hoàn thiện các nhiệm vụ sau:
Khả năng yếm khí là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa
vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí.
Nâng cao khả năng ưa khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả
năng yếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động yếm
khí. Bởi vì, quá trình trả nợ oxy được diễn ra một phần ngay trong lúc vận
động, và nếu có khả năng ưa khí cao thì phần trả nợ oxy trong lúc vận động
đó sẽ lớn hơn và hiệu quả hoạt động của cơ thể sẽ tăng lên.
Nâng cao khả năng yếm khí (với mức đồng đều cả cơ chế phốtpho
creatin cũng như cơ chế glucô phân). Vì cơ thể hoạt động cường độ cao tới
mức nhu cầu ôxy của cơ thể không đáp ứng thường xuyên trong quá trình vận
động và một phần năng lượng phải tạo thành thông qua quá trình yếm khí.Khi
tốc độ càng cao thì tỷ lệ huy động yếm khí càng lớn. Theo các tài liệu y học
thể thao thì tỷ lệ này trong thời gian thi đấu 2 phút khoảng 60% và trong thời
gian thi đấu 10 phút đã lên tới 120%. Tuy vậy khả năng ưa khí cũng có ý
nghĩa quyết định trong thời gian thi đấu trung bình vì sự tạo thành năng lượng
ưa khí "kinh tế" hơn so với sự tạo thành năng lượng yếm khí.

11


12

12

Ngoài ra sự tập trung axit lactic xuất hiện trong hoạt động sẵn sàng sử
dụng năng lượng yếm khí. Năng lượng yếm khí càng cao thì khả năng ưa khí


13

* Tăng khả năng hoạt động của các cơ chế điều hoà trong những điều
kiện hoạt động đặc biệt với cường độ cao nhất.
Có nghĩa là cho tập luyện quá cự ly thi đấu với tốc độ tới hạn - Song để
phát triển tốt sức bền tốc độ đã đạt được phải thay đổi độ dài cự ly và giữ tốc
độ vượt cự ly. Cụ thể là cự ly tập phải dài hơn cự ly thi đấu.
Khi giáo dục sức bền tốc độ trong hoạt động với cường độ lớn và cường
độ gần tối đa, ngoài ra hoạt động kéo dài cần phải sử dụng rộng rãi phương pháp
lặp lại nhiều lần các đoạn cự ly dài với tốc độ cao hơn tốc độ ban đầu có thể vượt
qua cự ly ngắn chỉ có tác dụng rất nhỏ lên cơ thể, nên để đạt được hiệu quả tập
luyện trong những buổi tập thì phải lặp lại chúng nhiều lần.
Ngoài phương pháp trên để phát triển sức bền tốc độ còn cần phải sử
dụng phương pháp nâng cao khả năng ưa khí thông qua các bài tập yếm khí.
Trong quá trình hoạt động yếm khí thực hiện dưới hình thức lặp lại nhiều lần
trong thời gian ngắn và nghỉ giữa quảng không dài cũng có hiệu quả trong
việc phát triển tốt khả năng ưa khí. Mặc dù điều này thoạt đầu có sự mâu
thuẫn, các sản phẩm phân hoá yếm khí tạo nên khi thực hiện hoạt động căng
thẳng với thời gian ngắn được sử dụng để kích thích phát triển các qua trình
hô hấp trong lúc nghỉ giữa quãng hoặc trong lúc thực hiện các bài tập cường
độ thấp. Qua thực nghiệm người ta nhận thấy trong khoảng 10 - 90 giây sau
mỗi lần lặp lại bài tập yếm khí thì thông khí phổi và thể tích tâm thu đều tăng
lên và do đó mức hấp thụ oxy cũng tăng lên.
Khi có mối tương quan hợp lý giữa các hoạt động nghỉ ngơi có thể xuất
hiện nhu cầu oxy của cơ thể và mức hấp thụ oxy trong hoạt động. Trong
trường hợp này hoạt động lặp lại có thể tiếp tục trong thời gian dài. Trong
những lần lặp lại mức hấp thụ oxy thường xuyên giao động lúc thì đạt mức tới
hạn, lúc thì giảm đi đôi chút, có lúc vượt khả năng hấp thụ tối đa đặc trưng
cho VĐV. Hiện tượng này kích thích rất mạnh để nâng cao khả năng hô hấp.

ngắn. Việc đánh giá cự ly chạy toàn bộ không đủ cho chúng ta đánh giá sức
bền của cầu thủ, mà cần phải tính đến khả năng duy trì tốc độ khi đánh giá
sức bền của cầu thủ (tố chất sức bền tốc độ).

14


15

15

Sức bền tốc độ là chỉ tình huống cơ thể cung cấp không đủ dưỡng khí
do khả năng phân giải CP và ATP, nó là cơ sở vật chất về sức bền chuyên môn
cho vận động viên Bóng rổ.
Trình độ về sức bền yếm khí của vận động viên quyết định bởi năng lực
trao đổi yếm khí và năng lực phân giải đường trong điều kiện yếm khí và
năng lực đề kháng axit của các tổ chức cơ thể, năng lực tồn trữ năng lượng,
gìn giữ công năng của cơ quan trong cơ thể.
- Sức bền yếm khí không có axit.
Cường độ vận động tương đối lớn, thời gian hoạt động từ 8 - 10 giây,
năng lượng sử dụng là do sự phân giải ATP và CP. Sau khi phân giải không
sản sinh ra axit nên gọi là sức bền yếm khí không có axit. Cự ly chạy của vận
động viên Bóng rổ từ 5 - 15m với tốc độ đạt từ 80 - 90%, được gọi là sức bền
yếm khí không có axit tốt.
Phát triển sức bền yếm khí không có axit bằng huấn luyện giãn cách phương
pháp huấn luyện chủ yếu. Nói chung, sử dụng trong vòng từ 5 - 10 giây, tổ chức
thành nhiều tổ huấn luyện với cường độ từ 90 - 100%. Thời gian nghỉ giữa mỗi lần
tập từ 2 - 3 phút, còn thời gian nghỉ giữa các tổ tập luyện là 7 - 10 phút.
- Sức bền yếm khí có axit.
Sau khi hoạt động vượt quá 10 giây với cường độ cực đại, hàm lượng

Tiến hành huấn luyện sức bền yếm khí có axít thường sử dụng cách
huấn luyện giãn cách với cường độ lớn cực đại, trong đó phương pháp huấn
luyện là duy trì lượng axít máu của VĐV ở mức cao 12ml, khiến cho cơ thể
trong quá trình huấn luyện chịu đựng được sự kích thích với thời gian dài. Từ
đó thích ứng và nâng cao năng lực chịu đựng. Trong khi tiến hành huấn luyện,
cần sử dụng cường độ lớn nhất của bản thân và duy trì chúng từ 1 - 2 phút.
Thời gian giãn cách nên từ 2 - 3 lần thời gian luyện tập.
1.1.3. Đặc điểm sức bền tốc độ trong Bóng rổ và các yếu t ố
lượng vận động trong huấn luyện.
1.1.3.1. Đặc điểm tố chất sức bền tốc độ trong Bóng rổ
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi nghiên c ứu m ột số bài t ập
phát triển sức bền tốc độ. Không phải để phát tri ển s ức b ền t ốc độ
của các môn thể thao khác như Điền kinh, bơi lội, Bóng r ổ...mà là
sức bền tốc độ cho chuyên môn của mình. Có nghĩa là khi phát
16


17

17

triển sức bền tốc độ còn phải hoàn thiện các yêu cầu về kỹ chi ến
thuật. Việc phát huy các yêu cầu này phải được v ận d ụng chúng có
hiệu quả trong thi đấu Bóng rổ. Thành tích thi đấu Bóng r ổ ph ụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố mà cụ thể là sự tổng hòa các thành
tích của các cá nhân, trong đó mỗi đấu thủ của đội phải chịu tác
động từ nhiều phía, nhiều mặt. Phát triển sức bền tốc độ cũng là
một yếu tố cụ thể để phát triển hay thúc đẩy thành tích thi đấu của
mỗi cá nhân hay nói cách khác chính là sự phát triển thành tích của
mỗi cá nhân trong cả đội sẽ đưa thành tích đồng đội lên cao.

đấu không chỉ diễn ra một trận, một ngày mà nó còn có th ể di ễn ra
nhiều ngày nhiều tuần liên tiếp. Do đó để tránh được trình độ gi ảm
sút về thể lực cũng như sức bền tốc độ cho học sinh chuyên sâu
bóng rổ là hết sức quan trọng. Lứa tuổi này về đặc điểm sinh lý c ơ
thể đang dần hoàn thiện. Nó đã phát triển khá đầy đủ trong quá
trình sinh trưởng và phát triển của cả cuộc đời. Vì đặc đi ểm nh ận
thức mọi kỹ thuật..., mọi tri thức trong thể thao c ũng nh ư trong cu ộc
sống. Còn về mặt thể chất đây là thời kỳ phát triển cao trong quá
trình tập luyện thể thao. Nó có thể đạt thành tích cao nh ất khi mà
huấn luyện một cách đầy đủ cũng như tập luyện một cách nghiêm
túc môn thể thao chuyên môn hóa sâu.
Do đó, để có một thể lực tốt cho học sinh chuyên sâu Bóng r ổ
thì nhất thiết phải có các phương pháp, các bài t ập để phát tri ển t ối
ưu trình độ thể lực, để hoàn thiện kỹ chiến thuật. Có như vậy thì
mới có kết quả cao trong quá trình học tập và thi đấu Bóng r ổ.
Nhiều nước trên thế giới có nền Bóng rổ phát cao nh ư Pháp,
Đức, Nam Tư, Thụy điển....và đặc biệt là Mỹ. Họ đã có đội Bóng rổ
nhà nghề và đạt được thứ hạng cao trên thế giới. Trong lĩnh v ực
huấn luyện của các nước luôn tìm kiếm những ph ương pháp tốt nh ất,
tiên tiến nhất, nhằm nâng cao thể lực nói chung và phát tri ển s ức
bền tốc độ nói riêng. Từ đó tạo cơ sở nâng cao kỹ thuật và hiệu qu ả
vận dụng kỹ chiến thuật trong thi đấu. Ngày nay nh ờ có khoa h ọc k ỹ
thuật phát triển mạnh và cùng với sự thu hút thành t ựu c ủa các môn
khoa học phụ cận như: Giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, lý lu ận y h ọc....
18


19

19



20

20

cung cấp và sử dụng oxy, trước hết là hệ tuần hoàn và hô hấp. Còn thời gian
của bài tập với tốc độ trên tới hạn đòi hỏi khả năng nợ oxy của cơ thể.
- Thời gian nghỉ giữa quãng: trong các bài tập lặp lại có vai trò quan
trọng đối với tính chất và phương hướng hoạt động của bài tập đối với cơ thể.
Trong những bài tập có tốc độ tới hạn, nếu thời gian nghỉ giữa quãng đủ dài
cho các hoạt động sinh lý trở lại mức tương đối bình thường thì ở mỗi lần lặp
lại các bài tập tiếp theo, các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra gần giống như lần
thực hiện bài tập trước đó. Tức là lúc đầu cơ thể giải phóng năng lượng từ
phốtpho creatin tiếp đến là quá trình gluco phân (ở 1 đến 2 phút tiếp theo) sau
đó là các quá trình hô hấp (quá trình ưa khí mới phát huy tác dụng ở phút thứ
3 đến thứ 4).
Trong các bài tập lặp lại với tộc độ dưới tới hạn và tới hạn thì thời gian
bài tập ngắn (dưới 2 phút) các quá trình hô hấp chưa kịp phát huy ở mức đấy
đủ và diễn ra trong điêu kiện thiếu oxy. Trong trường hợp này nếu thời gian
nghỉ giữa quãng ngắn thì lần thực hiện bài tập tiếp theo sẽ diễn ra trên nền hô
hấp chưa giảm đi dáng kể và năng lượng cho hoạt động cần được đảm bảo
bằng cơ chế ưa khí.
Trong các bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn và quãng nghỉ không
đầy đủ để thanh toán nợ oxy thì các lần lặp tiếp theo sẽ diễn ra trên nền nợ
oxy chưa được thanh toán, lượng oxy sẽ tích luỹ và tăng lên nhanh chóng sau
mỗi lần lặp lại bài tập. Hoạt động ngày càng mang tính chất yếm khí. Các loại
bài tập này tuy với số lần lặp lại không lớn nhưng thuộc loại những bài tập
nặng tác động rất mạnh tới cơ thể.
- Tính chất nghỉ ngơi: nghỉ ngơi giữa quãng có thể là thụ động không

1.1.4. Đặc điểm cơ sở lý luận và ý nghĩa của luyện sức bền t ốc
độ cho nữ học sinh trường phổ thông trung học
1.1.4.1. Sức bền tốc độ của nữ học sinh trường phổ thông trung học
Chúng ta thấy rằng sức bền tốc độ là một tố chất. Trong quá
trình hoạt động thể hiện hai mặt đó là sức bền và tốc độ. Để có t ố
chất này là kết quả của sự phối hợp chúng. Trong các môn th ể thao
vai trò của yếu tố sức bền tốc độ chiếm vị trí quan trọng, sức bền
tốc độ là hai yếu tố quyết đinh đến thành tích c ủa VĐV. Nó được
thể hiện ở các môn thể thao như bơi, chạy.... Đối với các môn th ể
21


22

22

thao khác nhau thì tố chất này biểu hiện và đòi h ỏi khác nhau. Môn
Bóng rổ là một môn thể thao mà hoạt động về kỹ chiến thuật đòi
hỏi sự phối hợp khi thực hiện hai yếu tố bền - nhanh. Có nh ư vậy m ới
mang lại hiệu quả cao trong thi đấu.
Trong hoạt động thể dục thể thao bên cạnh các yếu tố hiểu biết
về tri thức chuyên môn như đạo đức, ý trí, tâm lý, sinh lý, k ỹ chi ến
thuật thì yếu tố thể lực là một yếu tố vô cùng quan tr ọng nó quy ết
định đến hiệu quả của quá trình hoạt động luyện tập và thi đấu.
Hơn nữa việc rèn luyện và phát triển thể lực là m ột khâu then ch ốt
trong quá trình huấn luyện thể thao. B ởi vậy các nhà s ư ph ạm v ề
thể dục thể thao rất cần thiết có những hiểu biết về bản chất sự phân
loại, cũng như tri thức chuyên môn, các quy luật và ph ương pháp rèn
luyện chúng.
Sức bền tốc độ (hay sức bền nhanh) là khả năng có thể chống

thường xuyên trong quá trình vận động và một phần n ăng l ượng
phải tạo thành thông qua quá trình yếm khí. Khi t ốc độ càng cao
thì tỷ lệ huy động yếm khí càng lớn. Theo các công bố trong các
tài liệu y học thể thao thì tỷ lệ này trong th ời gian thi đấu 2 phút
khoảng 60% và trong thời gian thi đấu trong 10 phút đã lên t ới 120%.
Tuy vậy khả năng ưa khí cũng có ý nghĩa quyết định trong th ời gian
thi đấu trung bình vì sự tạo thành năng l ượng ưa khí “kinh t ế” h ơn
so với sự tạo thành năng lương yếm khí.
Ngoài ra sự tập trung axitlactic xuất hiện trong ho ạt động s ẵn
sàng sử dụng năng lượng yếm khí. Năng lượng yếm khí càng cao
thì khả năng ưa khí tối đa càng thấp.
Do đó để nâng cao khả năng yếm khí người ta thường sử dụng
các bài tập có chu kỳ.

23

-

Cường độ hoạt động gần mức tới hạn (95% tốc độ tối đa)

-

Thời giam mỗi lần hoạt động xấp xỉ bằng 10” -12”

-

Khoảng cách nghỉ ngơi xấp xỉ 2 -3 phút.

-


đầu có thể vượt trên toàn cự ly. Vì mỗi lần vượt qua c ự ly ng ắn ch ỉ
tác dụng rất nhỏ lên cơ thể, nên để đạt được hiệu quả luyện t ập
trong những buổi tập thì phải lặp lại chúng nhiều lần.
Ngoài phương pháp trên để phát triển sức bền tốc độ chúng ta
còn cần sử dụng phương pháp nâng cao khả năng ưa khí thông qua
các bài tập yếm khí. Trong quá trình hoạt động yếm khí th ực hi ện
dưới hình thức lặp lại nhiều lần trong th ời gian ng ắn và ngh ỉ gi ữa
quãng không dài cũng có hiệu quả trong việc phát tri ển t ốt kh ả n ăng
ưa khí. Mặc dù điều này thoạt đầu hình nh ư có mâu thuẫn, s ản
24


25

25

phẩm phân hóa yếm khí tạo nên khi thực hiện hoạt động c ăng th ẳng
với thời gian ngắn là “chất kích thích” rất mạnh đối với quá trình hô
hấp. Chính vì thế trong khoảng 10” -90 ” đầu tiên sau ho ạt động
mức hấp thụ oxy tăng lên. Một số chỉ số tim mạch tăng lên dung
lượng tâm thu lớn hơn. Nếu hoạt động lặp lại vào th ời đi ểm khi các
chỉ số trên còn cao, thì từ lần lặp lại này đến lần l ặp l ại khác m ức
hấp thụ oxy sẽ tăng lên mức tối đa.
Khi có mối tương quan hợp lý giữa các hoạt động ngh ỉ ng ơi có
thể xuất hiện nhu cầu oxy của cơ thể và mức hấp thụ oxy trong ho ạt
động. Trong trường hợp này hoạt động lặp lại có th ể ti ếp tục trong
một thời gian dài. Trong những lần lặp lại mức hấp thụ oxy th ường
xuyên dao động lúc thì đạt mức giới hạn, lúc thì giảm đi đôi chút các
sóng hấp thụ được nâng cao do hoạt động lặp lại gây lên, có lúc v ượt
khả năng hấp thụ tối đa đặc trưng cho VĐV. Hiện tượng này kích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status