Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Cần Thơ - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một ngày thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại và giáo dục không có
người thầy không thể vận động được. Ông cha ta đã nói “Không thầy đố mày
làm nên”, đó là đúc kết của bao đời về vai trò của người thầy trong giáo dục.
Xã hội luôn tôn kính người thầy nên nghề dạy học được xã hội trọng vọng, trở
thành niềm kiêu hãnh của không ít gia đình có người theo nghề.
Nói về tầm quan trọng của người giáo viên, đội ngũ giáo viên trong bối
cảnh giáo dục đi vào thế kỷ XXI, Tác giả Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi
tiếng ở Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm ở UNESCO khu vực châu Á –
Thái Bình Dương có một lời bình khá ấn tượng: “Giáo viên giữ vai trò quyết
định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo dục”.
Hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH&CĐ được tổ chức tại Hà Nội vào
tháng 5/2006, khi đánh giá về chất lượng giáo dục ĐH ở nước ta hiện nay, đa
số đại biểu lãnh đạo Nhà nước và Bộ GD&ĐT đều nhất trí cho rằng cùng với
những thành tựu quan trọng đã đạt được như phát triển về quy mô, cơ cấu cấp
học, ngành học, cơ sở vật chất…, giáo dục ĐH nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu
kém, bất cập. Báo cáo của lãnh đạo Bộ GD&ĐT tại Hội nghị này nêu rõ :
“Chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp, học chưa gắn chặt với hành, qui
mô và cơ cấu còn mất cân đối, mạng lưới và chức năng của các trường chưa
hợp lý, nguồn lực hạn hẹp, chương trình đào tạo thiếu linh hoạt, đặc biệt là về
đội ngũ còn yếu và thiếu… Cũng theo đánh giá của Bộ GD&ĐT, chất lượng
chuyên môn nói chung của giảng viên các trường ĐH hiện nay còn thấp so
với khu vực và quốc tế, thiếu kiến thức về kĩ năng hoạt động thực tiễn, yếu về
hợp tác quốc tế và trao đổi khoa học.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế


chí quan trọng trong đánh giá, kiểm định chất lượng trường đại học, cao đẳng.


3
Vì những lý do trên, việc đề xuất "Một số giải pháp nâng cao chất lượng
đội ngũ GV của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ " là cần thiết
và chắc chắn sẽ đóng góp một phần khiêm tốn vào việc nâng cao chất lượng
đào tạo và sự phát triển chung của nhà trường nói riêng cũng như ngành giáo
dục nói chung trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trường CĐ KT-KT Cần Thơ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trường
CĐ KT-KT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
GV Trường CĐ KT-KT Cần Thơ.
4. Giả thuyết khoa học
Thực trạng đội ngũ GV của Trường CĐ KT-KT Cần Thơ đang có những
hạn chế, bất cập. Nếu đề xuất được một số giải pháp thích hợp, có tính khả thi
và được áp dụng đồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV
nhà trường, đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố
Cần Thơ cũng như cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV
Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật.
5.2. Khảo sát thực trạng đội ngũ GV Trường CĐ KT-KT Cần Thơ.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trường CĐ
KT-KT Cần Thơ.
6. Phương pháp nghiên cứu

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ.


5
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trong nước
Quán triệt các Nghị quyết của Đảng, trong nhiều năm qua, đã có nhiều tác
phẩm và công trình nghiên cứu bàn về phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH. Có thể đề cập đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Phát triển nguồn nhân lực giáo dục ĐH Việt Nam, của Đỗ Minh Cương Nguyễn Thị Doan, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Nghiên cứu con người đối tượng và những hướng chủ yếu, do Phạm
Minh Hạc (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
- Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành CNH, HĐH, của Vũ Hy Chương,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
- Một số giải pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trường
Đại học Hải Phòng đến năm 2010 (Luận văn thạc sỹ QLGD của Nguyễn Sơn
Thành, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004).
- Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (Support to the Renovation of
Education Management - viết tắt là SREM) do Cộng đồng Châu Âu tài trợ.
- Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về GD & ĐT và phân tích nguồn
nhân lực, mã số VIE /89/ 022 ( gọi tắt là dự án tổng thể về giáo dục).
1.1.2. Ngoài nước
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ làm nền
tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là
quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước để bảo
vệ quyền lợi quốc gia. Do đó, hệ thống giáo dục luôn được các quốc gia quan

khác chưa có điều kiện làm rõ. Đó là những vấn đề của đội ngũ giảng viên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ với tư cách là một Trường Cao
đẳng đa ngành. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng


7
đội ngũ giảng viên của một Trường Cao đẳng trong quá trình xây dựng và
phát triển.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giảng viên, đội ngũ và đội ngũ giảng viên
1.2.1.1. Khái niệm giảng viên
- GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm :
Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, GV bộ môn...
Theo Từ điển Giáo dục học, giảng viên là “chức danh nghề nghiệp của
nhà giáo trong các cơ sở giáo dục Đại học và Sau đại học, dưới giáo sư, phó
giáo sư và giảng viên chính”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, giảng viên là “tên gọi chung những
người làm công tác giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng, ở các lớp tập
huấn cán bộ. Ở các trường Đại học và Cao đẳng, giảng viên là chức danh của
những người làm công tác giảng dạy thấp hơn phó giáo sư ”.
Ở Việt Nam, chúng ta vẫn thường nói giáo viên là Kỹ sư tâm hồn; là
những người trực tiếp tiếp xúc với những tâm hồn, xây dựng, giáo dục phát
triển nhân cách cho thế hệ trẻ.
Năm 1971, khi về thăm Trường Đại học sư phạm Hà Nội, cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong
những nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo. Vì nó sáng tạo
ra những con người sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội". Như vậy, theo
đồng chí Phạm Văn Đồng thì giáo viên là những người cao quý, được xã hội
tôn vinh vì họ đào tạo ra những con người làm ra của cải vật chất cho xã hội”.
Như vậy, khái niệm GV trình bày đã rõ, nhưng tập trung và đầy đủ hơn

sự ràng buộc của những quy tắc hành chính của ngành, của Nhà nước.
Đội ngũ GV là tập hợp những người làm nghề dạy học giáo dục, được tổ
chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu
giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn


9
bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui
định của pháp luật, thể chế xã hội.
Nói cách khác, theo nghĩa hẹp, đội ngũ GV là những thầy giáo, cô
giáo, những người làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo dục trong các
trường Đại học, Cao đẳng.
1.2.2. Chất lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên
Trong công tác xây dựng và nâng cao đội ngũ GV, yếu tố quan trọng
nhất mà nhà quản lý quan tâm đó là chất lượng đội ngũ. Vì thế, trước khi bàn
về chất lượng đội ngũ GV, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề cơ bản sau:
1.2.2.1. Một số khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm rất trừu tượng, đa chiều, đa nghĩa được xem
xét từ nhiều bình diện khác nhau:
- Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của người, sự vật hoặc sự
việc (Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ,1998);
- Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng
tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dự kiến, các thông số cơ bản (Oxford Pocket
Dictionary);
- Tự điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng chất lượng “là phạm trù triết
học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, phân biệt
nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật và được
biểu hiện ra bên ngoài thông qua các thuộc tính. Sự thay đổi chất lượng kéo
theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng
gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính

Chất lượng đội ngũ GV được thông qua các thuộc tính bản chất sau:


11
* Số lượng thành viên trong đội ngũ
* Cơ cấu đội ngũ
* Phẩm chất của đội ngũ
* Trình độ của đội ngũ (chuyên môn, nghiệp vụ...)
* Năng lực của đội ngũ
Ta có thể sắp xếp một cách hệ thống, chất lượng bao gồm:
- Số lượng
- Trình độ
+ Trình độ chuyên môn
+ Trình độ nghiệp vụ sư phạm
+ Đạo đức tư cách người thầy
- Cơ cấu.
Như vậy, chất lượng đội ngũ GV bao gồm các thuộc tính bản chất đó là phẩm
chất, năng lực, trình độ và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ như
số lượng, cơ cấu đội ngũ GV. Mỗi thuộc tính, yếu tố đó đều có tầm quan
trọng và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Đội ngũ giảng viên được
đánh giá là đảm bảo chất lượng khi: đủ về số lượng, mạnh về chất lượng,
đồng bộ về cơ cấu và có tính đồng thuận cao.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
1.2.3.1. Khái niệm giải pháp
Theo từ điển Tiếng Việt, giải pháp là “ phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể nào đó”. Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác
động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái
nhất định,… tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động.
1.2.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV là những cách thức tác động

học trong hiểu biết để giúp người học vượt qua những khó khăn, thách thức.
GV phải biết linh hoạt để cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo. Ngày nay, phương pháp dạy học một chiều không còn


13
phù hợp. GV không còn đóng vai trò chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà là
người gợi mở, tổ chức các hoạt động tư duy, tranh luận của người học.
Với vai trò là nhà khoa học, người GV phải hướng vào nghiên cứu và dự
báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà con người và khoa học chưa giải
thích được, tìm kiếm và chuyển giao các qui trình ứng dụng khoa học và công
nghệ. Giảng viên - nhà khoa học có chức năng thực hiện vai trò đó theo hai xu hướng
phổ biến hiện nay: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Kết quả nghiên cứu
được công bố trên tạp chí chuyên ngành, hoặc đưa vào sử dụng sẽ là thước đo chất
lượng , và đánh giá hiệu quả làm việc của giảng viên [7, tr.32].
Vai trò, vị trí của GV ngày nay còn bao gồm những yêu cầu như một
chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn của mình; người thiết kế chương trình
đào tạo và nội dung môn học, người tư vấn cho SV cũng như kiểm tra đánh
giá hiệu quả giảng dạy. Vì thế, GV không chỉ là người có kiến thức sâu, rộng
trong lĩnh vực chuyên môn mà còn hiểu biết những quy luật nhận thức diễn ra
trong quá trình học tập của SV để từ đó giúp đỡ SV từng bước nắm vững môn
học cũng như giúp SV vượt qua những khó khăn của môn học. Bên cạnh đó,
GV phải dựa vào đặc điểm của SV để đưa ra tài liệu, bài giảng kích thích sự
tìm tòi ham học hỏi của SV, từ đó giúp SV từng bước phát huy khả năng tự
học, tự nghiên cứu.
Tóm lại, trong bối cảnh hiện nay, vị trí và vai trò của người GV có sự
thay đổi mạnh mẽ; và việc đổi mới phương pháp dạy học là một cuộc cách
mạng trong cách dạy. Tuy nhiên, một số GV cũng gặp không ít khó khăn vì
quán tính của phương pháp cũ không dễ gì điều chỉnh. Nhưng nếu mỗi GV
ai cũng thấm nhuần, lấy lời dạy của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Dạy

điều hệ trọng này vào Điều lệ Đảng Cộng sản Trung quốc.
Đối với thực tiễn nước nước ta, trong không gian giáo dục hội nhập, từ
nhu cầu cấp thiết của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, người GV phải đáp ứng
những tiêu chuẩn do XH đặt ra và do nhu cầu đổi mới của GDĐH. Trước hết,


15
người GV phải là người lao động sáng tạo, năng động, có tay nghề, có tâm
hồn cao đẹp, có nhân cách, và là người công dân mẫu mực. Công cụ chủ yếu
của giáo dục là nhân cách của người thầy, cho nên nghề giáo đòi hỏi thầy giáo
về những phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn rất cao. Nó bao gồm
kiến thức chuyên môn vững chắc và cuộc sống chân chính, nghiêm túc và
phải luôn có ý thức nâng cao kiến thức và kỹ năng sống cho bản thân mình.
1.3.3. Phẩm chất và năng lực của người GV trường Cao đẳng trong bối
cảnh hội nhập
Từ xưa nay, không ai phủ nhận vai trò của nhà giáo trong XH. Tuy
nhiên, cơ chế thị trường tác động mạnh đến các mối quan hệ có tính chất XH
ở nhà trường. Đó là mối quan hệ giữa sinh viên và giảng viên; sinh viên và
sinh viên; giảng viên và giảng viên... Trong đó, mối quan hệ thầy - trò được
coi là quan trọng trong giáo dục, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về
phẩm chất và năng lực ở mỗi người thầy.
Nghề dạy học đòi hỏi rất cao về phẩm chất và năng lực của nhà giáo vì
người thầy phải dạy học và giáo dục bằng chính nhân cách của mình. Phẩm
chất và năng lực là yếu tố vô cùng quan trọng giúp thầy giáo hoạt động có
hiệu quả trong giảng dạy và trong giáo dục. Người thầy giáo có phẩm chất và
năng lực luôn được đồng nghiệp tín nhiệm, SV kính trọng. Họ là người có uy
tín và ảnh hưởng mạnh đến người khác. Có thể nói, uy tín là toàn bộ cuộc
sống của nhà giáo.
Nhiều năm nay, cả nước đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh thì năng lực và phẩm chất của người thầy trong nhà trường hiện

phạm trong quá trình giảng dạy. Kết hợp được giữa nội dung và
phương pháp sẽ làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh động, hấp
dẫn và có hiệu quả cao, làm cho người học hứng thú, say mê, tránh nhàm
chán, từ đó chủ động, tích cực nghiên cứu, tìm hiểu trong học tập. Để thỏa
mãn các điều đó, người thầy phải hội tụ đủ các năng lực chủ yếu sau đây:


17
- Có năng lực về tri thức và tầm hiểu biết
Đây là năng lực trụ cột của năng lực sư phạm, là điều kiện để giảng dạy,
“biết mười dạy một”. Ngày nay, người học không nhất nhất cái gì cũng tuân
thủ, phục tùng thầy vô điều kiện. Họ được tiếp cận rất nhiều thông tin, hiểu
biết rất nhiều, là thầy, phải chinh phục trò bằng kiến thức sâu rộng của mình,
điều đó còn có tác dụng tạo uy tín cho người thầy.
- Có năng lực chế biến tài liệu học tập từ chương trình khung
Thầy giáo phải gia công về mặt sư phạm đối với tài liệu học tập cho phù
hợp với đặc điểm từng lớp học, đối tượng, chuyên ngành đào tạo. Thực trạng
cho thấy, vẫn còn nhiều giáo án trong tình trạng “chết”, không được bổ sung
cập nhật, giáo án sử dụng chung cho tất cả các hệ học. Cho nên, người thầy
giỏi là người thầy hiểu học sinh, đặt mình vào vị trí người học để chế biến,
trình bày tài liệu đúng với đối tượng. Người thầy có khả năng phân tích, tổng
hợp, hệ thống hóa được kiến thức, thấy được cái gì là cơ bản nhất và mối
quan hệ với cái thứ yếu. Ngoài ra, người thầy phải có sự sáng tạo trong cung
cấp kiến thức cho người học, bên cạnh kiến thức tinh tế và chính xác, đòi hỏi
phải liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và mới, kiến thức bộ môn này
với bộ môn khác, liên hệ thực tiễn gắn với từng chuyên ngành đào tạo.
- Có năng lực dạy học tốt

Người thầy tốt không chỉ truyền đạt kiến thức cho người học mà có nhiệm
vụ tổ chức và điều khiển hoạt động của họ, hướng họ đi tìm kiếm và lĩnh hội

độ kiến thức ( kỹ thuật ) và có kỹ năng thành thạo, có năng lực sáng tạo và
làm ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh với thị trường thế giới. Để tạo ra
nguồn lực con người với những phẩm chất và nhân cách như vậy, khâu then
chốt trong giáo dục đào tạo là phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV, tập trung
xây dựng và phát triển đội ngũ GV có chất lượng cao cả về số lượng, cơ cấu,
phẩm chất, trình độ năng lực.


19
Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Bộ Giáo dục-Đào tạo (1998) cho
rằng: Trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ GV ở tất cả các
ngành học, bậc học ngày càng lớn mạnh về cả số lượng , chất lượng và trình
độ nghiệp vụ. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển giáo dục thì đội ngũ nhà
giáo ở hầu hết các bậc học, các ngành đào tạo, thiếu GV giảng dạy có trình độ
cao và các chuyên gia đầu ngành cũng như bất cập về cơ cấu .
Chúng ta cần phải thừa nhận rằng “một nền giáo dục không thể phát
triển cao hơn tầm những nhà giáo làm việc cho nó”. Thầy giáo có một vị trí
cực kỳ quan trọng, nhất là trong tình hình giáo dục phải hướng vào phục vụ
yêu cầu CNH, HĐH đưa đất nước bước vào các lộ trình “Đi tắt”, “Đón đầu”
để đuổi kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, trong đó vấn đề
xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong chiến
lược phát triển giáo dục đào tạo có ý nghĩa, tầm quan trọng và tính cấp bách
đặc biệt.
1.4.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng
Điều 24 Điều lệ trường đại học quy định giảng viên phải có những
tiêu chuẩn sau đây:
- Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm. Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên giảng dạy các môn lý

đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân” Trong sự nghiệp “trồng người”, phẩm chất đạo đức luôn có vị trí
nền tảng. Nhà giáo nói chung và đội ngũ GV nói riêng phải có phẩm chất đạo
đức trong sáng, phải “chí công, vô tư, cần, kiệm, liêm, chính để trở thành tấm
gương cho thế hệ trẻ noi theo, để giáo dục đạo đức và xây dựng nhân cách
cho thế hệ trẻ.
- Người giảng viên phải tôn trọng nhân cách của người học, đối xử
công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;


21
- Có ý thức giữ gìn phẩm chất đạo đức, uy tín, danh dự của nhà giáo;
- Có tinh thần trách nhiệm, tính trung thực trong công tác, tinh thần đấu
tranh chống các biểu hiện tiêu cực;
- Người giảng viên phải có lối sống, lành mạnh, văn minh, phù hợp với
môi trường giáo dục, có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học;
- Tích cực tham gia các hoạt động xã hội và các phong trào của trường.
 Yêu cầu về năng lực:
Đối với đội ngũ GV, năng lực được hiểu là trên cơ sở hệ thống những
tri thức mà người GV được trang bị, họ phải hình thành và nắm vững hệ
thống các kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả. Kỹ năng của
người GV được hiểu “ là khả năng vận dụng những kiến thức thu được vào
hoạt động sư phạm” và biến nó thành kỹ xảo. Kỹ xảo là kỹ năng đạt tới mức
thành thục.
Năng lực chuyên môn:
Ngoài các tiêu chuẩn mà người giảng viên cần phải đáp ứng theo quy
định của Bộ GD&ĐT, người giảng viên cần phải:
- Nắm vững mục tiêu giáo dục, nội dung, chương trình;
- Có kiến thức chuyên môn vững vàng;
- Có khả năng tiếp cận và cập nhật những thành tựu mới của thế giới,

- Xây dựng kế hoạch dạy học, đề cương môn học, bài giảng và thiết kế
học liệu cần thiết phục vụ cho giảng dạy;
- Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được
tính chủ động sáng tạo của người học;
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động của sinh viên trong học tập. Giảng viên phải bồi dưỡng cho sinh
viên khả năng tự học, tự nghiên cứu;
- Khả năng nắm bắt tâm sinh lý người học;
- Năng lực truyền đạt kiến thức cho sinh viên;
- Tham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên khác, tham gia
công tác giáo viên chủ nhiệm và cố vấn học tập.


23
Năng lực tin học, ngoại ngữ: Trong xu thế phát triển của xã hội hiện
đại, ngoại ngữ và tin học ngoài việc hỗ trợ giảng viên trong việc đổi mới
phương pháp giảng dạy, chúng còn là những công cụ quan trọng giúp giảng
viên tiếp cận những tri thức mới trên thế giới cũng như giao lưu quốc tế để
nâng cao trình độ. Để giúp cho công việc giảng dạy và nghiên cứu đạt chất
lượng, người giảng viên cần phải có khả năng sử dụng công nghệ thông tin và
phương tiện kỹ thuật dạy học mới trong giảng dạy, có khả năng sử dụng
ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp hay giảng dạy bằng ngoại ngữ
hoặc NCKH.
Để hỗ trợ cho giảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ một cách tốt
nhất, ngoài những năng lực cần có ở trên, người giảng viên cần phải có một
số kỹ năng bổ trợ như khả năng quản lý, giao tiếp, giải quyết vấn đề và khả
năng tham gia công tác xã hội.
 Yêu cầu về trình độ chuyên môn:
Điều 77 của Luật Giáo dục quy định trình độ chuẩn được đào tạo của
giảng viên: Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng

chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo quy định.
* Giảng viên cao cấp:
- Có bằng tiến sĩ;
- Có ngoại ngữ trình độ C, tin học trình độ C trở lên;
- Có đề án hoặc công trình khoa học sáng tạo cấp tỉnh hoặc cấp bộ, ngành
trở lên được Hội đồng khoa học công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả;
- Có trình độ cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc cao cấp lý luận
chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo quy định.


25

1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng
1.4.3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế và thế giới
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế nổi bật của
kinh tế thế giới đương đại. Nền kinh tế Việt Nam đã, đang chủ động và tích
cực hội nhập với nền kinh tế quốc tế trong khu vực và thế giới. Do đó, nó thúc
đẩy sự phát triển giáo dục trên mọi phương diện ngành nghề. Giáo dục và đào
tạo phải phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế, phù hợp với nhu cầu
xã hội. Kiến thức đạt được của người học phải đáp ứng được yêu cầu trong
tương lai của nền kinh tế.
Qua đó cho thấy, nhiệm vụ của giáo dục là nhằm hướng người học tiến
đến việc chiếm lĩnh tri thức. Chất lượng của giáo dục cũng có phần đóng góp
không nhỏ của chất lượng đội ngũ GV.
1.4.3.2. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức
Thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mọi
quốc gia trên thế giới. Thông tin là tất cả các nhân tố góp phần giúp con người
nắm bắt và nhận thức đúng đắn, đầy đủ đối tượng của mình. Khi kinh tế và xã
hội phát triển thì vị trí thông tin càng trở nên quan trọng, nhu cầu khai thác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status