NGỮ VĂN 9
NGỮ VĂN 9
(Trích: “Truyền kì mạn lục” - Nguyễn Dữ)
Nguyễn Dữ
I. Đọc và tìm hiểu chung :
1. Tác giả:
-Nguyễn Dữ (?-?),chưa rõ năm sinh năm mất.Quê ở
Trường Tân ( Thanh Miện- Hải Dương).
-Ông sống vào nửa đầu thế kỷ XVI
- Sống vào thời kì chế độ phong kiến Lê- Mạc- Trịnh tranh
giành quyền lực, loạn lạc triền miên,dân tình khốn khổ.
- Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
- Ông là người học rộng tài cao, chỉ làm quan một năm rồi
cáo quan về sống ẩn dật ở núi rừng Thanh Hóa.
Nguyễn Dữ
I. Đọc và tìm hiểu chung :
1. Tác giả:
2. Tác phẩm:
* Truyền kì mạn lục: (Ghi chép những điều kỳ lạ
được lưu truyền trong dân gian).Viết bằng chữ
đánh đuổi đi.
Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự trẫm.
Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya, Trương Sinh
mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ.
Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần
Linh Phi.
Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan
cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang.
Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất.
Nguyễn Dữ
I. Tìm hiểu chung :
1.Tác giả:
2.Tác phẩm:
Vẻ đẹp của Vũ Nương.
II. Đọc- hiểu nội dung:
1. Đọc- tóm tắt:
2. Bố cục: 3 phần:
P.1. Từ đầu ”như cha mẹ đẻ
mình.
P.2. Tiếp “đã qua rồi”.
P.3. Còn lại
1
P.
ND bố cục
Tiễn chồng…mong hai chữ bình yên
Ba năm cách biệt giữ gìn một tiết…
Nguyễn Dữ
I. Tìm hiểu chung:
II. Tìm hiểu văn bản:
1. Đọc, tóm tắt:
2. Bố cục:
3. Tìm hiểu nội dung:
a.Vẻ đẹp của Vũ Nương:
- Đẹp người, đẹp nết
- Người vợ hiền chung thủy
Mẹ buồn ngọt ngào an ủi
Với mẹ
chồng
Mẹ ốm lo thuốc thang
Mẹ mất lo ma chay chu đáo
Nhận xét về lời trăn trối của mẹ chồng Vũ Nương:
“Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về,
mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng
tham không cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt.
Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con.
Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau
này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông
2. Nỗi oan khuất của Vũ Nương và cái
chết bi thảm của nàng.
NHÓM 1: LỜI THOẠI 1
NHÓM 2: LỜI THOẠI 2
a. Nỗi oan khuất:
NHÓM 3 + NHÓM 4: LỜI THOẠI
a. Nỗi oan khuất.
- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa
nhà giàu./Sum họp chưa thỏa tình chăn
gối, chia phôi vì động việc lửa binh./
Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô
son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ
liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có
sự mất nết hư thân như lời chàng
nói./Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi
ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi
oan cho thiếp./
Nói đến thân phận
Nói đến tình nghĩa vợ chồng
Khẳng định tấm lòng sắt son
Cầu xin chồng đừng nghi oan
Nàng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, cầu xin chồng đừng nghi oan.
đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên
phải tìm đến cái chết ...
• Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử, nhưng nàng đi đến cái chết thật bình
tĩnh: tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng ...
• Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông
ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng
cho sự độc ác, tối tăm.
Đọc đoạn trích:
“ Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch,
ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời
mà than rằng:
-Kẻ bạc mệnh này…mọi người phỉ nhổ.
Nói xong nàng gieo mình xuống sông
mà chết.”
Nguyễn Dữ
I. Tìm hiểu chung:
II. Tìm hiểu văn bản:
3. Tìm hiểu nội dung:
a.Vẻ đẹp của Vũ Nương:
? Khi Vũ Nương muốn nói lời minh oan và gặng hỏi
b. Nỗi oan khuất của Vũ Nương
nguyên nhân thì Trương Sinh gạt đi, nhất định
và cái chết bi thảm của nàng.
- Bị chồng nghi oan là không
II. Tìm hiểu văn bản:
Trương Sinh
-Nghe lời ngây thơ của con trẻ
(về cái bóng).
-Nghi ngờ vợ thất tiết.
-Mắng nhiếc, đuổi nàng đi.
-Không chịu nghe lời phân trần,
khuyên ngăn…
3. Tìm hiểu nội dung:
a.Vẻ đẹp của Vũ Nương:
b. Nỗi oan khuất của Vũ Nương
và cái chết bi thảm của nàng.
ự
r
T
- Bị chồng nghi oan là không
chung thủy
* Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
- Nguyên nhân trực tiếp: Do Trương Sinh.
- Nguyên nhân sâu xa: Chế độ nam quyền
bất công, phi lý & chiến tranh phong kiến.
Ng.nhân
G
- Bị chồng nghi oan là không
chung thủy
Nguyễn Dữ
? Trương Sinh đã đánh, mắng đuổi Vũ Nương đi, trực
tiếp gây ra cái chết của nàng. Theo em, trong xã hội
ngày nay thì Trương Sinh đã vi phạm luật nào?
A. Luật hình sự.
B.Luật dân sự.
C.Luật hôn nhân và gia đình.
D.Luật kinh tế.
* Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
? Nếu em là người chứng kiến cảnh bạo lực gia đình
- Nguyên nhân trực tiếp: Do Trương Sinh. xảy ra ở địa phương em như hoàn cảnh trong bi kịch gia
đình của vũ Nương, em sẽ làm gì?
- Nguyên nhân sâu xa: Chế độ nam quyền
A..Báo với chính quyền địa phương nơi gần nhất.
bất công, phi lý & chiến tranh phong kiến.
B.Ngăn cản mà không được thì bỏ mặc.
C.Vì chưa đến tuổi 18 nên không có quyền can thiệp.
D.Nói với người lớn để họ can thiệp.
I. Tìm hiểu chung:
Nguyễn Dữ
II. Tìm hiểu văn bản:
III.Tổng kết:
1.Nội dung.
-Tác phẩm là bản án đanh thép tố cáo bản chất vô nhân đạo của XHPK.
- Khẳng định và ngợi ca phẩm chất, tâm hồn cao đẹp truyền thống của người
phụ nữ VN.
-Thái độ cảm thông chân thành của nhà văn.
2.Nghệ thuật.
- Khai thác vốn văn học dân gian.
- Nghệ thuật kể chuyện đầy sáng tạo.
- Kết thúc tác phẩm bất ngờ, không mòn sáo, hàm ý sâu sắc.
- Sử dụng chi tiết nghệ thuật đặc sắc, xây dựng hình ảnh “cái bóng” đầy dụng ý.
ũ
V
ới
V
N
g
n
ươ
-Dỗ con.
-Cho khuây nỗi nhớ chồng
-Là tình yêu thương dành cho
chồng con.
C. Xây dựng nữ quyền.
D. Xây dựng xã hội đồng tiền.
Bài tập 2:Từ những phẩm chất tốt đẹp của Vũ nương, em học được những gì ở nàng?
A. Đảm đang,thủy chung,hiếu thảo,bao dung ,rất mực yêu con.
B . Thủy chung,chăm lo cho hạnh phúc gia đình.
C .Hiếu thảo,bao dung sẵn sàng hy sinh.
D. Nết na, thùy mị,yêu con thủy chung.
Bài tập 3 :
Chọn đáp án chính xác nhất. Truyện có ý nghĩa gì?
A. Phê phán thói ghen tuông mù quáng và ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
B.Phê phán kẻ thất học hay ghen tuông và phản ánh sớ phận bất hạnh của người phụ nữ.
C.Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và phản ánh số phận bất hạnh của nàng.
D.Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và tố cáo xã hội phong kiến đầy bất công ngang trái.
Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn
Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.