Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không phải là một đặc
điểm riêng có của nớc ta, nó đã trở thành quy luật phổ biến của nền kinh tế
thế giới. Tuy nhiên, mỗi nền kinh tế lại có một mục đích phát triển khác
nhau, động cơ khác nhau, do đó phơng hớng phát triển và bớc đi có những
điểm không giống nhau. Kinh nghiệm với những thành tựu và thất bại trong
quá trình sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần ở các nớc phải đợc tiếp thu
một cách có sáng tạo nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp với thực tế Việt
Nam và định hớng theo xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, Việt Nam cùng các nớc trên thế giới đang bớc vào thế kỷ 21.
Thế kỷ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải cố gắng hết mình để hoà
nhập cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ của
nền văn minh mới. Đây là thời điểm quan trọng của nền kinh tế thế giới nói
chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nớc ta chuẩn bị gia nhập tổ chức
Thơng mại thế giới WTO. Nền kinh tế Việt Nam phải nghĩ gì? làm gì? và
chuẩn bị nh thế nào để tham gia vào quá trình hội nhập không bị thua trên tr-
ờng quốc tế và nếu không chuẩn bị một cách đầy đủ, thận trọng sẽ thua ngay
tại sân nhà.
Tất cả những câu hỏi đó không ai, không thành phần kinh tế nào khác
ngoài thành phần kinh tế Nhà nớc có thể trả lời một cách chính xác và đầy đủ
nhất bởi thành phần kinh tế Nhà nớc ở nớc ta có một thực lực hết sức to lớn,
chiếm 3/4 tài sản quốc gia và đóng góp 40% GDP hàng năm. Nắm giữ các
đài chỉ huy và các vị trí then chốt trong nền kinh tế đó là nền tảng, là cơ sở và
định hớng xã hội chủ nghĩa cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhng thành
phần kinh tế này hoạt động có phần kém hiệu quả. Điều đó đang làm suy yếu
tính định hớng, dẫn dắt, nêu gơng của thành phần kinh tế Nhà nớc đối với các
thành phần kinh tế khác. Để giải quyết điều này và nâng cao vai trò của thành
phần kinh tế Nhà nớc cầu có những giải pháp cụ thể, sát thực và đợc thực
hiện một cách nhanh chóng hơn.
1
- Khi tiến hành công cuộc xây dựng CNXH, chúng ta phải xây dựng
quan hệ sản xuất mới XHCN, tức phải xây dựng và phát triển những thành
phần kinh tế mới mang đặc trng của quan hệ sản xuất mới. Đó là thành phần
kinh tế Nhà nớc và thành phần kinh tế tập thể.
Nh vậy cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các thành phần cũ và mới
hoạt động đan xen là một đặc điểm mang tính tất yếu.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
- Thực tiễn lịch sử cho thầy, hầu nh không một nớc nào (kể cả đối với
các nớc kém phát triển, cũng nh các nớc phát triển) có một nền kinh tế thuần
nhất, tức chỉ tồn tại duy nhất một kiểu quan hệ sản xuất.
Cho đến nay điều nhận định đó vẫn còn đúng. Ngay cả với chủ nghĩa t
bản (CNTB) hiện đại, bên cạnh thành phần kinh tế t bản t nhân" còn có các
thành phần kinh tế khác nh "kinh tế t bản Nhà nớc", "thành phần kinh tế cá
thể".
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thực tiễn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta trong
thời gian qua cũng cho thấy việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh
tế, bên cạnh một số mặt tiêu cực thì nó đã đem lại nhiều lợi ích to lớn. Góp
phần khai thác mọi tiềm năng của từng thành phần kinh tế cũng nh sức mạnh
tổng hợp của nó. Khai thác tiềm năng trong nớc cũng nh tận dụng sức mạnh
kinh tế quốc tế để phát triển.
Tóm lại trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nớc ta có cơ cấu nhiều thành
phần là tất yếu. Vấn đề cơ bản, thành phần kinh tế đóng vai trò chỉ huy và vị
trí then chốt trong nền kinh tế là nền tảng, cơ sở định hớng XHCN cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân là TPKTNN.
2. Thành phần kinh tế Nhà nớc.
2.1. Thành phần kinh tế Nhà nớc là gì?
TPKTNN là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở quan trọng là sở hữu toàn
dân về t liệu sản xuất mà Nhà nớc là đại diện.
với t cách là hàng hoá vô hình, nhng thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngời,
làm tăng chất lợng cuộc sống cũng nh tăng GDP (dịch vụ ngân hàng, Nhà n-
ớc dịch vụ hải quan...) cho hoạt động (thị trờng tiền, chứng khoán hay thị tr-
ờng vốn...). Việc cung cấp dịch vụ làm tác động voà thị trờng và thị trờng lại
tác động tới nền kinh tế. Điều đó làm tiềm lực kinh tế phát triển rất lớn.
Trong các yếu tố cấu thành TPKTNN, các yếu tố đều đóng vị trí khá
quan trọng, góp phần lớn vào TPKTNN. Nhng yếu tố quan trọng đặc biệt là
hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc, là bộ phận quan trọng do Nhà nớc đầu t vốn.
Tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, là đơn vị có quyền tự
chủ trong sản xuất kinh doanh.
3. Bản chất xã hội chủ nghĩa của TPKTNN.
- Đảng ta đã sử dụng cụm từ "Định hớng xã hội chủ nghĩa" với hàm ý n-
ớc ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đặc trng của thời
kỳ này theo Lênin là thời kỳ mà nhiều thành phần cùng tồn tại.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Vấn đề khác biệt mà lịch sử đã chỉ ra đối với TPKTNN là. Nếu nh các
thành phần khác với phơng thức sản xuất khác thực hiện sự bóc lột đối với
quảng đại quần chúng nhân dân, thì TPKTNN với phơng thức sản xuất
XHCN mà chúng ta hớng tới là giải phóng quảng đại quần chúng. Do đó
TPKTNN đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, vì vậy TPKTNN buộc
phải lựa chọn và tìm tòi bớc đi để tiến tới trở thành nền tảng của chế độ mới.
- ẩn dấu đằng sau hình thái sở hữu Nhà nớc, TPKTNN ở nớc ta vẫn là
chế độ sở hữu toàn dân, chế độ sở hữu XHCN.
- Mặt khác cũng cần phải lu ý hai điểm sau đây:
Thứ nhất: TPKTNN đợc hiểu theo nội dung trên đây là giai đoạn thấp,
khởi đầu của quan hệ sản xuất XHCN. Ngày nay với việc thừa nhận cơ chế
thị trờng, thừa nhận sự trao đổi sản phẩm thông qua giá trị nh là hành vi phổ
biến thì thiết chế Nhà nớc cũng trở nên xa cách với ngời dân hơn, có tính độc
lập tơng đối. Chính vì thế tính sở hữu toàn dân thể hiện ở sở hữu Nhà nớc đợc
ớng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lợng vật
chất để Nhà nớc thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng
cho chế độ xã hội mới".
2. Vai trò của TPKTNN trong từng giai đoạn lịch sử.
2.1. Vai trò của TPKTNN trong lịch sử.
Bất cứ một Nhà nớc nào cũng có vai trò kinh tế, song ở mỗi chế độ xã
hội nhất định, vai trò kinh tế của Nhà nớc có biểu hiện thích hợp với chế độ
xã hội đó.
Các Nhà nớc trớc CNTB độc quyền Nhà nớc, vai trò kinh tế chỉ dừng lại
ở việc điều tiết bằng thuế và pháp luật là chủ yếu.
Đến CNTB độc quyền Nhà nớc, Nhà nớc t bản ngoài việc can thiệp vào
nền sản xuất xã hội thông qua thuế và pháp luật là chủ yếu, nó còn có vai trò
kinh tế mới là tổ chức và quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà n-
ớc.
Chỉ đến Nhà nớc XHCN - Nhà nớc do dân, Nhà nớc của dân, Nhà nớc vì
dân mới xuất hiện vai trò kinh tế đặc biệt vai trò kinh tế đó là: tổ chức và
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân cả ở tầm kinh tế vĩ mô lẫn ởtầm kinh tế
vi mô, trong đó quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nớc là chủ yếu. Sở dĩ Nhà nớc
XHCN có vai trò kinh tế nói trên là vi:
- Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta, Nhà nớc XHCN với t cách là
ngời đại diện cho lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội có nhiệm vụ quản lý
đất nớc về hành chính - kinh tế - xã hội.
- Nhà nớc XHCN là đại diện cho sở hữu toàn dân về t liệu sản xuất, có
nhiệm vụ quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nớc.
- Nền kinh tế hàng hoá vận động theo có chế thị trờng, bên cạnh những
mặt tích cực nh thúc đẩy nền kinh tế thì cũng còn có những mặt hạn chế
nh phân hoá giàu nghèo, bất công, thất nghiệp. Vai trò quản lý của Nhà nớc
sẽ góp phần vào việc chỉ huy, điều tiết, hạn chế những khuyết tật đó.
b. Thành phần kinh tế Nhà nớc tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác.
Do thành phần kinh tế Nhà nớc nắm giữ các lĩnh vực then chốt quan
trọng nên thúc đẩy, tạo đà, giúp đỡ các doanh nghiệp t nhân cùng góp phần
tăng trởng kinh tế.
Các doanh nghiệp thuộc TPKTNN đóng vai trò ứng dụng và chuyển
giao kỹ thuật hiện đại không thể ứng dụng rộng rãi ngay, hay không thể phát
huy ngay tác dụng. Chỉ có TPKTNN mới có đủ cơ sở về vốn, kỹ thuật đột
phá thử nghiệm mà không có hy vọng đem lại lợi nhuận.
Doanh nghiệp Nhà nớc đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội
đối với cộng đồng.
c. Tạo điều kiện phát triển các mối quan hệ hợp tác và giúp đỡ các
doanh nghiệp khác.
Do đặc điểm nền kinh tế phần lớn các doanh nghiệp nớc ta không đủ
khả năng sản xuất một sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh với kỹ thuật cao.
Hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc hiện đóng vai trò hạt nhân trong nền kinh tế,
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trong một nóhm sản phẩm nào đó. Qua đó tạo các mối liên kết dọc ngang
trong nền kinh tế.
Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế tạo nên xu hớng xây dựng
quanh mình hệ thống về tính sản xuất trong đó doanh nghiệp Nhà nớc khong
những đảm nhận các khâu đòi hỏi kỹ thuật cao mà còn có trách nhiệm hớng
các doanh nghiệp thành viên từng bớc nâng cao kinh tế công nghệ.
Doanh nghiệp Nhà nớc tiến hành liên doanh với nớc ngoài đóng vai trò
cầu nối hình thành t bản Nhà nớc, điều đó rất cần thiết cho việc phát huy nội
lực, lôi kéo ngoại lực.
d. Tạo điều kiện cho việc xây dựng chế độ mới.
Vai trò này của TPKTNN thể hiện trớc hết ở sự hạn chế các khuyết tật
của kinh tế thị trờng. Chạy theo lợi nhuận tối đa bỏ qua các ảnh hởng xấu tới
quả của TPKTNN.
Cùng với d âm của quá khứ, việc chuyển đổi cơ chế cũng làm bộc lộ
hơn những khuyết tật mà chúng ta cần phải xử lý, đó là tình trạng vô chủ trên
thực tế vẫn còn tồn tại mặc dù về mặt lý thuyết chúng tađã phân biệt rõ ràng
các quyền năng sở hữu, sử dụng, định đoạt và hớng lợi.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việc sử dụng lãng phí công sản Nhà nớc, quản lý lỏng lẻo, vô trách
nhiệm, phân phối tuỳ tiện, chiếm dụng vốn lẫn nhau, ỉ lại vào sự đầu t của
Nhà nớc, đánh quả, chụp giật, móc ngoặc vẫn còn tồn tại.
Dự kiểm kê, kiểm soát của Nhà nớc và tập thể ngời lao động cha đợc
triển khai đồng bộ và thật sự có hiệu quả.
Nhiều giám đốc sử dụng ngay đồng tiền của Nhà nớc để vô hiệu hoá sự
kiểm kê kiểm soát đó.
II- Thực trạng của các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN).
Các doanh nghiệp Nhà nớc hiện nay đang là một lực lợng hùng hậu so
với các thành phần kinh tế ở nớc ta. Chúng giữ vai trò chủ đạo trong sự phát
triển nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên nó cũng không tránh khỏi nhiều vấn đề
bất cập cần đợc giải quyết, tháo gỡ và cần phải đợc đổi mới trong thời gian
tới.
1. Những thành tựu đáng ghi nhận.
- Về cơ chế quản lý có một số thay đổi có thể nói đã tạo bớc ngoặt cho
các DNNN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Từ 1986, nền kinh tế
nớc ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc. Điều đó có nghĩa là các DNNN đợc tự chủ hơn trong
kinh doanh, họ chủ động về sử dụng và bảo toàn vốn, về việc tổ chức bộ máy
nhân sự. Và vì vậy mà các doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm và hiệu
quả hơn.
- Việc giảm số lợng và đổi mới mô hình các DNNN. Từ năm 1990 đến
nay qua ba đợt sắp xếp, số lợng các DNNN đã giảm đi rõ rệt. Từ chỗ Nhà nớc
Số doanh nghiệp khi lỗ, khi lãi chiếm 31%. Còn lại 29% là thực sự thua lỗ,
con số này quả là không nhỏ và thực sự là những cái xác thối cha đợc chôn.
Nếu để tồn tại nó sẽ ảnh hởng rất lớn đến tiến trình phát triển của các DNNN.
2.3. Thứ ba: Tình hình nợ đọng ở các DNNN.
- Tình hình nợ quá hạn và tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau chiếm tỷ
trọng rất lớn vàđang là vấn đề lớn hiện nay.
13