MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1987-2011
Bảng 2.2: Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt
8
13
Nam giai đoạn 1987-2011
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1987-2011
9
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1987-2011
11
Hình 2.3: Mối quan hệ giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
14
Việt Nam giai đoạn 1987-2011
MỞ ĐẦU
khác nhau:
3
Lạm phát vừa phải: Xảy ra khi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán trước được. Đối
với các nước đang phát triển, lạm phát ở mức một con số hay dưới 10% một năm
được coi là lạm phát vừa phải. Tác hại của lạm phát ở đây là không đáng kể.
Lạm phát phi mã: Xảy ra khi giả cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như
20%, 100% hoặc 200%... một năm. Khi lạm phát kéo dài đồng tiền mất giá nhanh
chóng đồng thời sẽ nảy sinh những biến dạng nghiêm trọng cho nền kinh tế.
Siêu lạm phát: là trường hợp lạm phát đặc biệt cao. Định nghĩa cổ điển về siêu lạm
phát do nhà kinh tế người Mỹ Philip Cagan đưa ra là mức lạm phát 50% một tháng
trở lên (khoảng 13000% một năm trở lên). Siêu lạm phát thực sự là một tai hoạ,
song là hiện tượng cực hiếm.
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu
•
kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai nguyên nhân chính:
Lạm phát do cầu kéo: Khi nhu cầu trên thị trường về một loại hàng hóa hay dịch
vụ tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả các mặt hàng
khác cũng theo đó leo thang dẫn đến sự tăng giá của hàng loạt mặt hàng khác trên
•
thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu này được gọi là “gia tăng do cầu kéo”.
Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả
nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế... Khi giá cả
của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh
tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
Lạm phát do nhập khẩu: Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó
trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu
đội lên.
• Lạm phát tiền tệ: Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân
hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so
với ngoại tệ; hay khi ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà
nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên sẽ gây ra lạm phát
1.4. Các phép đo chủ yếu của chỉ số lạm phát
Chỉ số lạm phát được đo lường theo chỉ số giá cả. Các phép đo phổ biến của chỉ số
•
lạm phát bao gồm:
Chỉ số giá tiêu dùng CPI: Đo lường sự thay đổi về giá cả của một rổ hàng hóa và
dịch vụ có tính chất đại diện (như lương thực, năng lượng, quần áo, giao thông) và
•
chưa tính thuế.
Chỉ số sản xuất PPI: Đo lường mức tăng giá trong nền kinh tế bị gây nên bởi sự
tăng lên của giá phí trong sản xuất.
• Chỉ tiêu tiêu dùng cá nhân PPE: Chỉ số này tăng cho thấy chi tiêu tăng, kéo theo
giá bị áp lực tăng theo, do đó được coi là một trong các chỉ số dùng để dự đoán
mức độ lạm phát trong nền kinh tế.
Ở Việt Nam: lạm phát được đo theo chỉ số giá tiêu dùng CPI
• Cách tính CPI thời kỳ t:
CPIt = 100 x (Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ t)/(Chi phí để mua giỏ hàng hoá
•
của sản lượng, đồng thời còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác biệt lớn về
mức sống các nước.
Những chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế:
• Chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng hàng hóa – dịch vụ sản xuất ra: GO, GDP,
GNI, NI, NDI. Trong đó:
− Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và
dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
− Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross domestic product): là tổng giá trị thị
trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một
nước trong một thời kì xác định.
− Tổng thu nhập quốc dân(GNI – Gross national income): tổng thu nhập về sản
phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công nhân của một nước tạo nên trong
một khoảng thời gian nhất định.
− Thu nhập quốc dân (NI – National Income): phần giá trị sản phẩm vật chất và
dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định;
− Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI – National Disposable Income): phần thu
nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần trong một
thời kỳ nhất định.
• Chỉ tiêu phản ánh mức giá trị sản xuất hàng hóa – dịch vụ bình quân đầu người
(GDP/người, GNI/người): phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân
số.
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế :
• Nhân tố kinh tế bao gồm:
6
−
=
-1
Trong đó:
: sản lượng năm gốc
: sản lượng năm n
n: số năm trong giai đoạn tính cả năm 0
: tốc độ tăng trung bình trong cả thời kỳ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người:
Công thức:
: tốc độ tăng trường GDP tính theo đầu người
: tốc độ tăng trưởng GDP
: tốc độ tăng dân số
2.4. Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế
Làm cho mức thu nhập dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của
cộng đồng được cải thiện
7
Tạo điều kiện giải quyết công ăn, việc làm, giảm thất nghiệp
Tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng
uy tín và vai trò quản lí của nhà nước đối với xã hội
Điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đã
phát triển đặc biệt là đối với các quốc gia chậm phát triển.
3. Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
Có rất nhiều các nghiên cứu của các nhà kinh tế học thuộc các trường phái khác
nhau đã chỉ ra xu hướng tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế.
Trường phái tiền tệ cho rằng trong ngắn hạn, khi chính phủ tăng lượng cung tiền sẽ
góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời cũng làm ra tăng lạm phát do đó tăng
trưởng và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều.
1. Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1987-2011
Nghiên cứu thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ 1987 đến nay, ta có bảng
số liệu về thực trạng lạm phát của Việt Nam như sau (ở Việt Nam, CPI được sử dụng
để đánh giá về tình hình lạm phát).
BẢNG 2.1: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1987-2011
(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ các báo cáo thường niên của Tổng cục Thống kê.)
Năm
1987
Tỷ lệ lạm
phát (%)
Năm
Tỷ lệ lạm
phát (%)
Năm
Tỷ lệ lạm
phát (%)
1988
223
1995
1989
2007
3
9,5
8,4
6,6
12,6
Từ bảng trên, ta có đồ thị sau:
9
1991
67,5
1999
0,1
2008
19,89
1992
17,5
2000
(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ các báo cáo thường niên của Tổng cục Thống kê.)
Dựa vào bảng thống kê trên ta có thể thấy tình hình lạm phát trong thời gian này :
Giai đoạn 1986-1988: Những năm đầu đổi mới 1986-1988, nước ta trải qua thởi kì
siêu lạm phát, lạm phát ở mức 03 con số.Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị
khủng hoảng, tăng trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn
hàng.
Giai đoạn 1989-1995: Lạm phát phi mã (trừ năm 1993 lạm phát là 5,2 %), lạm phát
còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước. Chính phủ đưa ra phương
châm: ngân sách thì thu lấy mà chi; ngân hàng thì vay lấy mà cho vay, có nghĩa là
Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.
Giai đoạn 1996-2003: Được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp, mặc dù năm
1998 lên đến mức 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực và năm 2002, 2003
đã có dấu hiệu phục hồi
Giai đoạn 2004-2011: Là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2
năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn: năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng
8,4%, thì năm 2006 chỉ tăng 6,6%; năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%,
năm 2009 chỉ tăng 6,52%; đến năm 2010 tăng 11,75%; năm 2011 tỷ lệ lạm phát
18,13%. Lạm phát có chiều hướng mất ổn định hơn và biểu hiện tính chu kì. Chu kì
này vào khoảng 3 năm( 2004-2006, 2007-2009, 2009-2012) tỷ lệ lạm phát đã lên
đến đỉnh điểm vào tháng 8/2008 (28,23%) và tháng 8/2011 (23,02%).
Xét về mức độ, lạm phát từ năm 2001 đến nay không trầm trọng bằng
lạm phát trong thời kỳ cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 1990. Mặc dù
vậy, lạm phát đã gây ra nhiều tác động tiêu cực cho nền kinh tế, gây lo
ngại lớn cho cả các cấp hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và cho
người dân, nhất là những người có việc làm bấp bênh và thu nhập thấp,
1987
3,6
1995
9,54
1988
1989
6,01
1996
1990
4,68
1997
9,34
5,09
1998
8,15
5,81
1991
6,31
1992
8,7
2000
6,8
2009
5,32
1993
8,08
2001
6,9
2010
6,78
1994
8,83
2002
7,08
2011
5,89
Giai đoạn 1995-1999: Tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta giảm một cách liên tục
trong các năm từ 8,15% vào năm 1995 xuống chỉ còn 4,77% vào năm 1999, giảm
gấp 1,7 lần trong 4 năm. Nguyên nhân là do những chính sách vĩ mô không thận
trọng của nhà nước như chính sách điều chỉnh giá cả một số mặt hàng như giá xi
măng, giá điện, giá xăng đã làm cho chi phí đầu vào tăng mạnh, cùng với cuộc
12
khủng hoảng tài chính khu vực châu Á đã khiến lạm phát tăng trở lại và ảnh hưởng
mạnh đến nền kinh tế.
Giai đoạn 2000-2007: Đây được coi là giai đoạn phồn vinh trong phát triển kinh tế
ở nước ta. Tốc độ tăng trưởng GDP luôn được duy trì ở mức ổn định và tăng liên
tục từ 6,8% vào năm 2000 lên đến 8,46 % vào năm 2007 trong một thời gian dài.
Chủ trương mở rộng chính sách tài khóa phục hồi nền kinh tế đang có nguy cơ
giảm sút cùng với kỳ vọng về tương lai sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã thúc
đẩy các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam tạo động lực mạnh
mẽ cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên nó cũng gây nên mầm mống tích tụ gây ra
lạm phát cao bắt đầu bộc lộ từ giữa năm 2007.
Giai đoạn 2008-2009: Tốc độ tăng trưởng GDP giảm từ 6,31% vào năm 2008
xuống còn 5,32% vào năm 2009. Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là do
việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2006. Nhu cầu
ổn định đồng tiền Việt đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải trung hòa một lượng
ngoại tệ rất lớn, góp phần thổi bùng lạm phát trong năm 2008. Nhìn chung, chính
phủ tỏ ra lung túng trong việc kiểm soát kinh tế vĩ mô giai đoạn này. Thêm vào đó,
những tác động to lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giớiđã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nền kinh tế của Việt Nam trong hai năm 2008 và 2009. Nền kinh tế phải
hứng chịu thời kỳ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao.
Giai đoạn 2010-2011: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 6,78% năm 2010 xuống
còn 5,89% năm 2011. Giảm sút chủ yếu do giảm sút của khu vực công nghiệp, xây
Với 10%, n=24, k=4, R2= 44,0745
Kiểm định giả thuyết:
Miền bác bỏ W=(+;T0.1(20)=1.325)
Tqs= 1.542972 > T0.120 =1.325
Tqs thuộc miền bác bỏ
Bác bỏ H0, chấp nhận H1
Vậy c2>0, nên CPI và GDP có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Nói cách khác,
CPI có tác động theo chiều thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn
1987-2011.
Kiểm định hàm phù hợp : giả thuyết
Miền bác bỏ
W=(F0.1(3, 20)=2,38; +)
15
Fqs== 5,253859 >F0.1(3, 20
Vậy Fqs thuộc miền bác bỏ
Vậy chấp nhận H1 bác bỏ H0, vậy hàm phù hợp
Như vậy, từ mô hình kinh tế lượng trên ta thấy lạm phát tác động đến tăng trưởng
kinh tế theo chiều dương. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, kết quả trên có thể
không còn phù hợp nếu lạm phát liên tục duy trì ở mức cao.
16
KẾT LUẬN
7. Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia,
http://www.ncseif.gov.vn/
19