vai trò của nhà nước trong công cuộc cải cách mở cửa kinh tế ở trung quốc - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy
mạnh mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới. Sau hơn 20 năm (1979-2003)
thực hiện cải cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâu
sắc.Về nhiều mặt, Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh
tế thế giới, đứng hàng đầu về tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế không
nhỏ. Đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương, trải qua gần một phần tư thế kỷ,
ngoại thương Trung Quốc đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ: từ chỗ xếp hàng
thứ 32 trên thế giới về xuất nhập khẩu (năm 1978) đến nay Trung Quốc đã là
cường quốc ngoại thương lớn thứ 5 trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002 (tăng gấp 30 lần so với năm 1978). Hơn
thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngày
càng được nâng cao, ngoại thương Trung Quốc đang đứng trước những cơ hội
mới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau sự kiện Trung Quốc đã trở thành
thành viên thứ 143 của Tổ chức thương mại thế giới ngay vào năm đầu tiên của
thế kỷ XXI.
Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự
nhiên, dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc. Cũng
giống như Trung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tới
việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, Việt Nam tiến hành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Quốc 8 năm và
cho đến nay thì những thành tựu kinh tế, thành tựu phát triển kinh tế vẫn còn là
khiêm tốn so với những thành quả to lớn của nước bạn và còn chưa xứng với
tiềm năng của chính Việt Nam. Vì vậy, để thành công hơn nữa trong công cuộc
phát triển kinh tế của Việt Nam thì việc tham khảo bài học kinh nghiệm của
Trung Quốc là rất cần thiết.


Trong bài tiểu luận này, em cố gắng đưa những vấn đề cơ bản nhất vai trò
của Nhà nước trong công cuộc cải cách mở cửa kinh tế ở Trung Quốc anh (chị)

đường xây dựng xã hội mới, nhưng nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhà
nước, nhờ sự nhiệt tình lao động của hàng trăm triệu lao động vừa được giải
phóng khỏi chê độ cũ, tình hình kinh tế xã hội Trung Quốc đã phát triển theo
hướng đi lên, công cuộc xây dựng XHCN đă thu được những thành quả bước
đầu quan trọng.
II. Những năm khó khăn của CHND Trung Hoa, phong trào ”nhảy
vọt “ và “cách mạng văn hoá “(1958-1977).
Tháng 9-1956, Đảng Cộng Sản Trung Quốc họp đại hội VIII, nhận định
cải tạo XHCN về cơ bản đã hoàn thành, nhưng đến tháng 5/1958 Đảng Cộng
Sản Trung Quốc lại tiến hành kì họp lần thứ II của đại hội VIII, phủ nhận nghị
quyết của kì họp thứ I, Chủ tịch Mao Trạch Đông cho rằng mâu thuẫn chủ yếu
trước mắt của Trung Quốc là mâu thuẫu giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản,
giữa con đường XHCN và con đường TBCN. Căn cứ vào ý kiến của Chủ tịch
Mao, đại hội đã đề ra đường lối chung “dốc hết sức lực, vươn lên hàng đầu, xây
dựng XHCN nhiều, nhanh, tốt, rẻ “ và phát triển “đại nhảy vọt” sau đó lại xuất
hiện phát triển “công xã nhân dân” ở nông thôn.
Những năm “đại nhảy vọt” với các phát triển “toàn dân làm gang thép”,
“sản lượng nông nghiệp mỗi năm tăng gấp đôi” v.v...đã làm tổn hại rất lớn nền
kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân.Sản xuất công
nghiệp mất cân đối nghiêm trọng. Từ năm 1957 đến năm 1960 sản lượng lương
4


thực giảm 26,4% (từ 195 triệu tấn giảm xuống 143,5 triệu tấn) trong khi dân số
tăng 15,5 triệu người. Hàng tiêu dùng công nghiệp cực kì khan hiếm. Nạn đói
diễn ra hết sức nghiêm trọng từ thành phố đến nông thôn. Đến tháng 9/1960
chính phủ Trung Quốc đã chủ trương chuyển sang “điều chỉnh, củng cố, bổ
sung, nâng cao”, hạn chế những sai lầm và tổn thất do phong trào “nhảy vọt” tạo
ra. Đến năm 1965, theo thống kê của chính phủ, tổng giá trị sản phẩm công
nghiệp tăng 59,9% so với 1957, riêng sản lượng lương thực chỉ mới xấp xỉ mức


1967
8.1
190.0
10.0
14.0
218.0
5.5

1968
9.5
205.0
14.0
14.0
212.0
6.0

Nhìn vào tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong một số ngành so
với một số nước trên thế giới là thấp kém. Nếu sản lượng tính bình quân theo

5


đầu người về điện: Trung Quốc kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần, kém Anh
32 lần. Về thép kém Liên Xô 20 lần, kém Mỹ 19 lần, kém Nhật 32 lần...
Với nông nghiệp, sản xuất ngày càng trì trệ, vì vậy thu nhập của người lao
động thấp, đồng thời sản xuất hàng hoá ngũ cốc giảm xuống 15% so với trước
đó (1953-1957) là 28%.
Do sản xuất công-nông nghiệp ở tình trạng nói trên nên ngoại thương
cũng bị giảm xút. Tới năm 1971 kim ngạch ngoại thương mới đạt bằng năm

lượng lương thực và thực phẩm thường chiếm 20% trong tổng giá trị hàng hoả
nhập khẩu. Công nghiệp nhẹ cũng trong tình trạng tương tự khiến cho hàng hoá
tiêu dùng khan hiếm, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Tóm lại, qua đó, ta có thể thấy được Trung Quốc tiến hành cải cách mở
cửa trong bối cảnh lịch sử đặc thù không giống với bất cứ nước nào trên thế
giới, biểu hiện chủ yếu như sau:
Thứ nhất, cải cách mở cửa được thực hiện trong bối cảnh sự nghiệp
XHCN đã trải qua những bước quanh co gian khổ, nhất là đã trải qua bài học
đau xót của “cách mạng văn hoá”, nền kinh tế đứng bên bờ sụp đổ.
Thứ hai, cải cách mở dửa được tiến hành trên cơ sở sức sản xuất tương
đối thấp.
Thứ ba, cải cách mở cửa được tiến hành dưới thể chế kinh tế kế hoạch tập
trung cao độ.
Thứ tư, cải cách mở cửa hầu như được tiến hành trên cơ sở của chế độ
công hữu đơn nhất.
Thứ năm,cải cách mở cửa tiến hành trong tình trạng đóng cửa, nửa đóng
cửa và hoàn cảnh quốc tế đặc biệt.
Những điều kiện cũng như khó khăn trên đưa Trung Quốc vào những
thách thức mới trên con đường hoà nhập vào hệ thống kinh tế thế giới và buộc
Trung Quốc phải có những biện pháp, chủ trương cải cách kinh tế nếu không
muốn bị tụt hậu, không muốn đưa nhân dân vào cảnh lầm than. Từ đó Trung
Quốc đã bắt tay vào công cuộc cải cách kinh tế từ năm 1978 đến nay.

B - NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI, KẾT QUẢ CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA
CỦA TRUNG QUỐC.
Hội nghị trung ương III khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc được coi là
một cuộc “giải phóng tư tưởng” mở đường cho công cuộc cải cách thể chế hiện
7



8


mẫu(0,067ha). Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng do Trung Quốc đã tìm ra
cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát triển kinh
tế khách quan, đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng hộ nông
dân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lưu thông nông sản, thúc đẩy
nông nghiệp tăng trưởng và phát triển. Đi đôi với khoán hộ tạo đIều kiện cho
nông nghiệp phát triển Trung Quốc đã chủ trương xây dựng các xí nghiệp hương
trấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo
hướng công nghiệp hiện đại hoá. Ở đây xin đề cập đến một trong những “điểm
sáng” đặc sắc của nền kinh tế thị trường XHCN Trung Quốc là các xí nghiệp
hương trấn(hình thức “doanh nghiệp thôn xã”).
Thời kì đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được những thành
tựu to lớn, làm rung động cả nước, nhưng từ năm 1985 sản xuất nông nghiệp bị
chững lại. Nông thôn xuất hiên nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi ích
của nông dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất. Nhưng không phảI tất cả
các ngành kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn. Các ngành phi
nông nghiệp ở nông thôn ngược lại đang rất phát đạt, được đánh giá cao. Ngay
từ cuối những năm 50, ở Trung Quốc đã xuất hiện những xí nghiệp xã đội: là
nhưng đơn vị sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp do các công xã và đại đội sản
xuất ở nông thôn lập ra. Năm 1978 có 1,5 triệu xí nghiệp xã đội với 28 trệu lao
động. Cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những tiền đề quan trong cho sự phát
triển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trưởng nhanh, đồng thời số lượng
lớn lc lượng lao động của nông thôn cũng tăng nhanh đòi hỏi các ngành phi
nông nghiệp thu nhận. Do vậy đến năm 1983, số người làm việc trong các xí
nghiệp này tăng lên 32,347 triệu người. Năm 1984, xí nghiệp xã đội đổi tên
thành “xí nghiệp hương chấn” bao gồm các xí nghiệp tập thể của xã thôn, xí
nghiệp hội kinh doanh 5 ngành lớn là công nghiệp, công nghiệp chế biến nông
sản, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ và thương nghiệp. Trải qua nhiều

nuôi sống được 22% dân số của thế giới. Đây không chỉ là kì tích, là niềm tự
hào của nền nông nghiệp Trung Quốc trong nửa thế kỉ qua, mà còn được coi là
một thành tựu nổi bật đáng khâm phục của nông nghiệp thế giới. Bình quân
lương thực của Trung Quốc năm 1949 là 197 kg/người bằng 73% bình quân
lương thực trên đầu người của thế giới. Đến năm 1995 đạt gần 400 kg/đầu người
và bằng 98% bình quân lương thực thế giới...
10


Đến nay Trung Quốc đứng đầu thế giới về tổng sản lượng hạt cốc, lúa mì,
lúa nước, khoai tây, rau dầu lợn và cá. Đứng thứ hai trên thế giới về tổng sản
lượng ngô, bông, chè, trái cây, cừu và lượng gỗ khai thác hàng năm. sản lượng
nông sản bình quân đầu người của Trung Quốc chưa cao vì dân số quá lớn (1,4
tỉ người) nhưng đối với cac nông sản chủ yếu đã có mức tăng trưởng nhanh.
Như sản lượng rau xanh bình quân đầu người của Trung Quốc là 250 kg vượt
bình quân của thế giới. Sản lượng lương thực đạt gần 400kg, thịt đạt gần 50 kg,
trứng đạt 17kg xấp xỉ bình quân thế giới. Từ năm 1991 đến nay, sản lượng thịt
và trứng của Trung Quốc hàng năm đều vượt Mĩ. Sản lượng rau xanh của Trung
Quốc hiện nay đạt 320-350 triệu tấn/năm chiếm trên 50% sản lượng rau của toàn
thế giới. Sản lượng trái cây các loại của Trung Quốc đạt khoảng 35 tấn/năm,
đứng thứ nhì thế giới sau Mĩ. Riêng sản lượng táo và lê của Trung Quốc nhiều
gấp đôI Mĩ. Sản lượng quả có múi của Trung Quốc đạt 7 triệu tấn/năm đứng thứ
3 thế giới. Trong 10 năm gần đây, nghề trồng hoa của Trung Quốc tăng cả về
diện tích, sản lượng và doanh thu. Diện tich trồng hoa tăng 4,5 lần, giá trị sản
lượng tăng 5 lần. Đến nay cả nước có gần 100.000 ha trồng hoa tạo ra nguồn thu
nhập 3 tỉ NDT. Hoa của Trung Quốc bắt đầu vươn ra thị trường thế giới. Riêng
thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam có 350 ha hoa, hàng tháng sản xuất trên 1
triệu bông hoa và bắt đầu xuất khẩu sang Nhật và một số nước khác.
Nông nghiệp Trung Quốc chuyển động mạnh mẽ từ công nghiệp cổ
truyền sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

phát huy tính tích cực của nông dân, hạt nhân là đảm bảo lợi ích vật chất của
nông dân, tôn trọng quyền dân chủ của nông dân...
2. Cần phát triển kinh tế nhiều loại sở hữu coi công hữu là chủ thể, thực
hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử
dụng với quyền sở hữu, sử dụng thể chế kinh doanh hai tầng...
3. Kiên trì cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế
nông thôn. Xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của
các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hoá hướng về thị
trường. Cải cách thể chế lưu thông nông sản phẩm. Tăng cường cải thiện vai trò
điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với lương thực.
4. Tôn trọng đầy đủ tinh thần sáng tạo của nông dân, dựa vào quần chúng
thúc đẩy sự nghiệp vĩ đại của cải cách. Khoán hộ và xí nghiệp hương trấn là
12


những sáng tạo to lớn của nông dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Kiên trì đường lối công tác căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng ”.
5. Xuất phát từ toàn cục, coi trọng cao độ nông nghiệp, làm cho cải cách
nông thôn và cải cách thành thị phối hợp với nhau, phát triển hài hoà. Kiên trì
coi nông nghiệp là cơ sở, từ các mặt chính sách, khoa học kĩ thuật, đầu tư hỗi trợ
mạnh mẽ cho nông nghiệp.
II. Hiện đại hoá công nghệp là nhiệm vụ hàng đầu.
1. Tăng cường vốn đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị của các ngành
công nghiệp để sản xuất nhiều hàng xuất khẩu.
Để hiện đại hoá nền công nghiệp, Trung Quốc trước hết tăng cường đầu
tư cho các cơ sở sản xuất bằng các nguồn vốn của nhà nước, của tư bản nước
ngoài đưa vào và vốn đi vay của nước ngoài. Vốn của nước ngoài được sử dụng
trong thời gian từ năm 1979 đến năm1992 lên tới 98,43 tỉ (USD) trong đó có
34,51 tỉ (USD) là đầu tư trực tiếp, 60,08 tỉ (USD) là tín dụng. Trung Quốc nhập
nhiều thiết bị máy móc để thế cho các máy cũ, khuyến khích phát triển các xí

lưu sông Trường Giang (Hoa Trung) cũng trở thành vùng công nghiệp quan
trong với hai trung tâm lớn: Thượng Hải, Vũ Hán. Ngoài ra các ngành công
nghiệp năng lượng , khai khoáng, hoá chất cũng bắt đầu được phát triển mạnh ở
các tỉnh và thành phố miền Tây (Lan Châu, Tây An... ).Đặc biệt các mặt hàng
vật liệu xây dựng, đồ gốm, sứ, hàng dệt được sản xuất ở khắp các vùng nông
thôn.

Bảng 2: Sản lượng một số ngành công nghiệp (1990)
Loại sản phẩm
Sản lượng
Than(triệu tấn)
1000
Thép(triệu tấn)
71
Dầu mỏ(triệu thùng)
1040
Điện(triệu kw/h)
620000
Dệt bông vải(triệu mét)
15800
Len, dạ, tơ, lụa(triệu mét)
240
Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, mức tăng bình quân hàng năm
thời kì 1978-1992 là 13,2%, giá trị sản phẩm công nghiệp thời kì này tính theo
giá so sánh tăng 1,7 lần. Năm 1993 sản xuất tăng trưởng mạnh mẽ. So với năm
1992 tăng tới 23,6%, giá trị sản lượng đạt 4047,2 tỉ(NDT). Giá trị tàI sản cố định
của công nghiệp cả nước năm 1993 đạt 1996,3 tỉ(NDT), so với con số 340
14



46,48

Gỗ (triệu m3)

5,81

Xe đạp (triệu chiếc)

7,25

Mười lăm năm qua, trình độ kĩ thuật công nghiệp Trung Quốc được nâng
cao rõ rệt. Hiện nay có khoảng 40% sản phẩm sử dụng tiêu chuẩn kĩ thuật quốc
tế, khoảng 30% sản phẩm cơ điện có chỉ tiêu chất lượng đạt trình độ quốc tế của
thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80.
Nhờ sản xuất tăng, kĩ thuật khá nên hàng công nghiệp xuất khẩu ngày
càng nhiều. Kim nghạch xuất khẩu hàng tháng sản phẩm công nghiệp năm 1980
là 9 tỉ (USD), đã tăng lên 75,1 tỉ (USD) vào năm 1993, tức là tăng 7,3 lần; tỉ
trọng hàng xuất khẩu từ chưa đầy một nửa tăng lên 81,8%. Do đó công nghiệp
đã trở thành ngành sản xuất tạo nguồn ngoại tệ chủ yếu của Trung Quốc, đáng
kể là các ngành sản xuất máy cái, máy dệt, máy chế bién lương thực, thực phẩm,
xe hơi, máy khâu, quạt điện, đồng hồ...và gần đây còn thêm các ngành máy bay
dân dụng, tàu biển, đồ dùng điện gia đình.
III. Cải cách thể chế ngoại thương.
Trung Quốc đã thực hiện cải cách điều chỉnh mạnh mẽ trong cả hai mặt
quản lí hành chính ngoại thương và quản lí kinh doanh của các xí nghiệp, công
ty ngoại thương bằng các chính sách:
15


- Điều chỉnh cơ cấu quản lí hành chính ngoại thương.

16


1979, trước khi lập đặc khu. Nếu tính cả tỉnh Hải Nam, đặc khu thứ năm của
Trung Quốc thì tổng kim ngạch xuất khẩu của năm đặc khu đạt 15,66 tỉ USD,
tăng 13,6% so với năm trước. Năm 1991 Thẩm Quyến thu hút được một triệu
USD tiền vốn, tăng 44% so với 1990, Chu Hải thu hút được 850 triệu USD, tăng
75%. Sán Dầu thu hút được 750 triệu USD, tăng 200%. Năm đặc khu kinh tế có
kim ngạch ngoại thương bằng 20% của cả nước. Trong đó riêng Thẩm Quyến
đạt 61% doanh thu của cả năm đặc khu. Các đặc khu cũng tăng trưởng xuất
khẩu, phát triển du lịch thu ngoại tệ cho nhà nước. Riêng ở Thẩm Quyến, số
khách du lịch nước ngoài hằng năm lên đến hơn 1 triệu lượt người, tương đương
với lượng du khách các vùng khác trong nước. Các đặc khu kinh tế còn là nơi thí
điểm các biện pháp cải cách kinh tế mới nhằm nêu gương và thúc đẩy cải cách
trong nội địa như lập thị trường chứng khoán, mua bán cổ phiếu, tuyển chọn
người tài giỏi. Đây cũng là trường học, đào tạo cán bộ quản lí kinh doanh giỏi,
thích nghi với thị trường quốc tế. Mối giao thương và liên hệ với Hồng Kông,
Ma Cao, Đài Loan cũng tăng lên rõ rệt. Các đặc khu kinh tế với bốn cửa sổ phục
vụ cho mục tiêu kinh tế và chính trị của Trung Quốc đã làm được chức năng của
chúng về cơ bản.
Trung Quốc còn tích cực vay tiền của nước ngoài ( Nhật, Bỉ, Hà Lan,
ngân hàng thế giới ...) để phát triển kinh tế trong nước. Cho tới năm 1995, Trung
Quốc đã dùng trên 160 tỉ USD vốn đầu tư của nước ngoài để xây dựng các công
trình trong các lĩnh vực khác nhau như năng lượng, giao thông vận tải và cơ sở
hạ tầng( nhà ở, đường ống nước).
Trung Quốc một mặt tăng cường trao đổi khoa học kĩ thuật, kinh nghiệm
quản lí kinh tế với nước ngoài, mặt khác mở rộng buôn bán với thế giới. Hàng
xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt, sản phẩm công nghiệp nhẹ, thực phẩm, gia cầm...
Hàng nhập khẩu phần lớn là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, một ít hàng tiêu
dùng và nông phẩm. Tổng xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1995 lên

6,5

Nôngnghiệ

4,2

3,1

4,2

3,7

3,8

p

13,1

8,2

6,6

5,4

6,6

Côngnghiệp

9,8


-Vùng Hoa Trung: nằm trên lưu vực và châu thổ sông Trường Giang. Dân

cư trong vùng rất đông đúc. Các ngành kinh tế chính gồm cả công nghiệp, nông
nghiệp và đánh cá biển. Các nông sản quan trọng có: lương thực (lúa mì, lúa
18


gạo), chè, đỗ, lạc, bông và rau quả. Các trung tâm công nghiệp đồng thời là cảng
lớn của vùng: Thượng Hải, Vũ Hán, Nam Kinh. Thượng Hải nằm bên cửa sông
Trường Giang là thành phố đông dân nhất Trung Quốc(12 triệu dân). Hoạt động
kinh tế chủ yếu là công, thương nghiệp.
-Vùng Hoa Nam: nằm ở khu vực gió mùa cận nhiệt đới nên có điều kiện

thuận lợi cho cây công nghiệp nhiệt đới phát triển. Ngoài lúa gạo Hoa Lan còn
sản xuất: chè, mía, cà phê, cao su, cam chanh...Trong vùng có nhiều mỏ quặng
kim loại màu lớn nhưng chưa được khai thác. Thành phố cảng lớn nhất của vùng
là Quảng Châu.
Những vấn đề còn tồn tại trong cuộc cải cách, cải tổ ở Trung Quốc:
- Nạn lạm phát kéo dài: giá cả tăng lên liên tục, hàng hoá không đủ cho
nhu cầu xã hội(đặc biệt nghiêm trọng là các năm 1988 đến 1989).
- Các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả.
- Sản xuất nông nghiệp không đều và có xu hướng chững lại: do mức
đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp còn ít, năng suất lao động chưa cao trong
khi bình quân diện tích đất canh tác bị giảm( hiện nay chỉ còn 0,09ha/người )
sản lượng lương thực của Trung Quốc tuy có tăng thêm nhưng do dân số tăng
khá nhanh nên hàng năm Trung Quốc phải nhập lượng lương thực khá lớn ( 8
triệu tấn ) .
- Sức ép của những vấn đề xã hội: số người thất nghiệp tăng lên.Riêng
tỉnh Tứ Xuyên với số dân trên 100 triệu, đã có 15 triệu người thất nghiệp lâm
vào thất nghiệp còn có các nhân viên dôi ra đòi hỏi tinh giản bộ máy nhà nước

mục tiêu chung là loại bỏ thể chế kinh tế cũ đã lỗi thời, tìm tòi và thiết lập thể
chế kinh tế mới phù hợp hơn với những hoàn cảnh thực tế và những điều kiện đã
thay đổi. Tuy nhiên, chúng diễn ra trên những tập quán, những chính sách quản
lí xã hội khác nhau...Do đó, chúng có những sự tương đồng cũng như dị biệt rất
cơ bản về quan điểm, chính sách cũng như biện pháp thực hành.
I. Những tương đồng:
Mô hình kinh tế mới mà Trung Quốc và Việt Nam lựa chọn về từ ngữ có
đôi chút khác nhau song căn cứ vào cách giải thích chính thức về nội dung
chúng có nhiều cái chung:
20


Thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu công
cộng làm nền tảng.
Nhà nước có vai trò định hướng, điều hành nền kinh tế chủ yếu bằng kế
hoạch gián tiếp và các công cụ thị trường.
Hình thành một cách đồng bộ các thị trường tiêu dùng tư liệu sản xuất,
tiền tệ, sức lao động...
Coi phân phối lao động là chính, đồng thời thừa nhận các hình thức phân
phối khác như nhờ thời cơ, như lợi tức cho vay, nhờ mở doanh nghiệp...
Mở cửa nền kinh tế thị trường phát triển rộng rãi ra thế giới.
Có một điểm cần lưu ý là Trung Quốc chủ trương chính thức cho phép
duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần như vậy ít nhất đến giữa thế kỉ 21, điều
này làm cho các thành phần kinh tế, các lực lượng thị trường trong và ngoài
nước yên tâm đầu tư và kinh doanh. ở Việt Nam chưa có sự xác định về thời
gian như vậy.
Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, nông nghiệp và các xí nghiệp quốc
doanh có vai trò trụ cột trong nền kinh tế quốc dân. Song trước đây cả hai trụ cột
này đều bị lung lay nghiêm trọng do chính sách công hữu hoá và quản lí điều
hành chính sách mệnh lệnh, do đó cả hai nước đều phải tìm cách giải phóng

của Trung Quốc trong việc lập các khu kinh tế mở cửa, xây dựng hệ thống pháp
luật quan trọng hơn cần có chính sách kinh tế đối ngoại riêng, thích hợp với điều
kiện của mình.
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và Trung Quốc tuy đều đã được
áp dụng nhiều biện pháp cải cách, nhưng phần lớn đều kinh doanh kém hiệu
quả, thậm chí thua lỗ kéo dài. Một số giám đốc lộng hành, chiếm dụng tài sản xí
nghiệp. Tình trạng đó đặt nhà nước trước tình thế khó xử, nếu để chúng phá sản
thì lại đẩy công nhân ra lề đường, đồng thời những món nợ khổng lồ với ngân
hàng không được thanh toán, nhưng nếu cứ để cho chúng tồn tại thì nhà nước lại
phải bù lỗ, không thể giảm được thâm hụt ngân sách. Việc chuyển doanh nghiệp
nhà nước thành công ti cổ phần được coi là một lối thoát, song ở Trung Quốc và
Việt Nam đều đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Trung Quốc và Việt Nam hiện nay đang chịu sức ép mạnh mẽ của một
loạt vấn đề xã hội, như thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo tăng nhanh, trộm cướp,
buôn lậu, tham nhũng...Đó là mối đe doạ lớn đối với ổn định xã hội, khiến nhiều
tầng lớp dân cư lo lắng và bất bình. Nổi bật lên là tệ nạn tham nhũng lan tràn và
nghiêm trọng. Trung Quốc và Việt Nam đều coi đây như” quốc nạn”, đã đưa ra
22


nhiều biện pháp tích cực để phòng chống, song vấn đề này hoàn toàn không đơn
giản.
Trung Quốc và Việt Nam đều đang đứng trước những thách thức được
nhân đôi: vừa phải tự chiến thắng sự lạc hậu trì trệ của mình, vừa phải cố gắng
rút bớt khoảng cách với các nước xung quanh trong một vùng phát triển nhanh
và năng động nhất thế giới nên buộc phải có một sự tăng trưởng nhanh và liên
tục. Do đó sự thận trọng phải đi kèm với sự khẩn trương. Nó đòi hỏi những
phương thức thích hợp và sáng tạo.
II. Những khác biệt.
Cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc và cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam đã

nước và chống ngoại xâm, các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết,
thống nhất và gắn bó. Về mặt này, tình hình ở Trung Quốc có khác. Trong số
hơn 50 dân tộc, ngoài người Hán chiếm đa số, có những dân tộc "ít người",
nhưng dân số lên đến hàng triệu, hàng chục triệu, cư trú tập trung trên những
lãnh thổ rộng lớn sát biên giới, mà ngôn ngữ và nền văn hoá hoàn toàn khác với
người Hán, song lại gần gũi với nước láng giềng, như các dân tộc Mông Cổ,
Ugua, Tây Tạng...Đó là những kết quả của chính sách mở nang bờ cõi từ xưa.
2. Khi bước vào cải cách và đổi mới, nền kinh tế Trung Quốc và Việt
Nam đều bị tàn phá nặng nề. Ngoài nguyên nhân chung là do cả hai nước đều
thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, áp dụng nhiều chính
sách kinh tế sai lầm, duy ý chí, mỗi nước đều có lý do riêng. Sự xâm lược của
Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Khơ-me đỏ, và những cuộc chiến tranh chống lại
các cường quốc đó đã gây hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam. Còn Trung Quốc, kể từ năm 1950 đã không có chiến tranh,
trừ một số cuộc đụng độ biên giới; nhưng sức tàn phá của các cuộc nội chiến
liên miên và đẫm máu như "chống phái hữu", "cách mạng văn hoá", "phê Lâm
phê Khổng", cùng các chính sách kinh tế sai lầm cũng đủ đề, như một nhà
nghiên cứu phương Tây đã nói, đẩy cả dân tộc sát đến cơn hập hối.
Do có những nguyên nhân khác nhau, dẫn đến khủng hoảng kinh tế, nên
nhận thức để khắc phục hậu quả cũng khác nhau. Người Việt Nam phải có thời
gian để phân biệt được, đâu là do chiến tranh, đâu là lỗi tại mình; còn người
Trung Quốc sớm tỉnh ngộ, sớm huỷ bỏ các chiến dịch "đấu tranh giai cấp", "tạo
24


phản", coi "ngọn cỏ của chủ nghĩa xã hội còn hơn cây lúa của chủ nghĩa tư
bản...".
3. Trung Quốc và Việt Nam có những điều kiện khác nhau trong quan hệ
đối ngoại, nên tiến trình hoà nhập vào thị trường thế giới của ai nước khác nhau
về thời gian và mức độ.
Ngay từ đầu những năm 60, Trung Quốc đã có sự phân biệt trong quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status