bộ giáo dục v đo tạo bộ nông nghiệp v PTNT
Viện Thú Y Nguyễn xuân dơng
Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán
Của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dơng
v đề xuất biện pháp phòng trị Chuyên ngnh : ký sinh trùng học thú y
M số : 62 62 50 05 Tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp
H Nội - 2008
bộ giáo dục v đo tạo bộ nông nghiệp v PTNT
Viện Thú Y
------YZ------
Phản biện 1: GS.TSKH. Nguyễn Thị Lê
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan
Phản biện 3: TS. Nguyễn Đức Tân
Luận án đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc
tại Viện Thú y
Vào hồi: 8giờ 30 phút, ngày 19 tháng 6 năm 2008.
Có thể tìm luận án tại:
- Th viện Quốc gia.
- Th viện Viện Thú y.
Những công trình khoa học đ công bố
liên quan đến Luận án 1. Nguyễn Xuân Dơng, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn
Văn Đức và ctv (2007), Kết quả điều tra tình hình nhiễm
sán lá của vịt tại một số địa phơng vùng đồng bằng sông
Hồng, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, số 115, trang
32-36.
2. Nguyễn Xuân Dơng, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn
(1969, 1978), Phan Lục (1971, 1972), Đào Hữu Thanh (1996), Phan
Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng (1973, 1975), Nguyễn Hữu Hng (2006).
Những nghiên cứu mới tập trung vào xác định khu hệ giun sán, tỷ lệ
nhiễm giun sán của vịt ở một số địa điểm địa phơng, cha đi sâu
nghiên cứu nhiều về sinh học, bệnh học và biện pháp phòng nhiễm
2
bệnh. Trong hai thập kỷ gần đây, những vấn đề này lại ít đợc quan
tâm nghiên cứu, vì thế cha đa ra đợc qui trình phòng trị bệnh giun
sán cho vịt nuôi một cách có hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình trên và do yêu cầu cấp thiết của thực tế
sản xuất, để có cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh phù hợp
với điều kiện chăn nuôi vịt ở nớc ta hiện nay, nhất là ở vùng ĐBSH
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình,
Nam Định, Hải Dơng và đề xuất biện pháp phòng trị.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định thành phần loài và sự phân bố các loài giun sán ký
sinh của vịt ở một số địa điểm thuộc 3 tỉnh vùng ĐBSH.
- Đánh giá tình trạng nhiễm giun sán ở vịt tại một số địa điểm
thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dơng.
- Khảo sát những biến đổi bệnh lý và lâm sàng của vịt nhiễm
giun sán.
- Xác định hiệu lực một số thuốc tẩy giun sán cho vịt, đề xuất
qui trình phòng trừ bệnh giun sán cho vịt nuôi vùng ĐBSH.
3. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khoa học nghiên cứu tơng đối có hệ thống
về giun sán ký sinh và bệnh giun sán ở vịt nuôi, tại một số địa phơng
thuộc vùng ĐBSH.
- Xác định đợc thành phần loài và sự phân bố các loài giun
Skrjabin và cs (1963), Lapage (1968), Orlov. M (1978), Calnek (1991),
Kaufmann (1996), Bowman, (1999)
Bhowmik và Ray (1987) cho biết: nguyên nhân gây ra bệnh
tích đờng tiêu hoá của vịt do giun sán chiếm tỷ lệ đáng kể. Vịt
nhiễm giun sán có biểu hiện viêm cata đờng ruột.
4
Đã có một số kết quả nghiên cứu sản xuất, sử dụng thuốc tẩy
trừ giun sán thế hệ mới cho gia cầm nh: Ivermectin, Praziquantel,
Oxfendazole...
Tại Việt Nam, những nghiên cứu của các tác giả tập trung vào
giai đoạn 1960 - 1990 nh Trịnh Văn Thịnh, Nguyễn Thị Lê, Nguyễn
Thị Kỳ, Phan Thế Việt, Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Đào Hữu Thanh,
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân....
Kết quả nghiên cứu của các tác giả chủ yếu về khu hệ giun sán
ký sinh ở vịt nớc ta, gồm 63 loài giun sán, trong đó có 30 loài sán lá,
21 loài sán dây và 12 loài giun tròn.
Nguyễn Hữu Hng (2006) nghiên cứu giun sán của vịt ở ĐBSCL
cho biết vịt nhiễm 27 loài giun sán. Tỷ lệ nhiễm giun sán của vịt là
82,55%. Tỷ lệ nhiễm giun sán phụ thuộc vào phơng thức chăn nuôi,
vùng sinh thái ngập lũ và lứa tuổi vịt. Có 3 loài sán lá đờng tiêu hoá phổ
biến gây hại cho vịt là Echinostoma revolutum, Hypoderaeum
conoideum, Echinoparyphium recurvatum. Thuốc Albendazole liều 50
mg/kg P, Fenbendazole 8 mg/kg P và Mebendazole 20 mg/kg P cho ăn
liên tục 7 ngày đạt hiệu quả cao trong việc tẩy trừ sán lá và sán dây
cho vịt.
Một số tác giả đã giới thiệu về bệnh ký sinh trùng ở vịt và hoá
dợc tẩy trừ giun sán cho vịt nh: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
(1973, 1975), Đào Hữu Thanh (1996), Phan Địch Lân và Phạm Thị
Kim Thành (1996), Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996). Các tác giả