Một số biện pháp gay hứng thú trong dạy học hóa học ở trường Trung Học Phổ Thông - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ LÊ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN 2013
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ LÊ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Cao Cự Giác


Chữ viết tắt

Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Trung học phổ thông

THPT

Bài tập hoá học

BTHH

Phương trình hoá học

PTHH

Phản ứng

P/ứ

Sách giáo khoa

SGK

1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................................9
2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................................9
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................................10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................................11
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .........................................................................11
6. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................11
7. Giả thuyết khoa học..................................................................................................12
8. Đóng góp mới của đề tài...........................................................................................12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......................13
1.1. Hứng thú............................................................................................................13
1.1.1. Khái niệm hứng thú

.....................................................................................13

1.1.2. Biểu hiện của hứng thú....................................................................................16
1.1.3. Cấu trúc của hứng thú ....................................................................................18
1.1.4. Phân loại hứng thú ..........................................................................................19
1.1.5. Bản chất của việc gây hứng thú trong dạy học ...............................................21
1.1.6. Các quy luật của việc gây hứng thú trong dạy học..........................................23
1.1.7. Tác dụng của việc gây hứng thú trong dạy học hóa học..................................26
1.2. Vấn đề phát triển năng lực tư duy...................................................................26
1.2.1. Tư duy là gì?....................................................................................................26
1.2.2. Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy......................................................27
1.2.3. Những đặc điểm của tư duy.............................................................................28
1.2.4. Những phẩm chất của tư duy...........................................................................28
1.2.5. Các thao tác tư duy và phương pháp logic .....................................................29
1.2.6. Tư duy khoa học tự nhiên ................................................................................32
1.2.7. Tư duy hóa học................................................................................................32
1.2.8. Vấn đề phát triển năng lực tư duy....................................................................33
1.2.9. Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển................................................................34



3.3.2. Nội dung TNSP..............................................................................................184
3.3.3. Tiến trình TNSP.............................................................................................184
3.4. Kết quả TNSP.................................................................................................185
3.5. Xử lí kết quả TNSP được xử lí theo phương pháp thống kê toán học, thứ tự
như sau...................................................................................................................186
3.6. Phân tích kết quả TNSP.................................................................................190
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .......................................................................................192
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT...................................................................................193
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

7


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, hội nhập quốc tế đã trở
thành xu thế tất yếu thì yêu cầu của xã hội đối với con người ngày một cao hơn. Do đó,
việc phát triển giáo dục không chỉ nhằm “nâng cao dân trí” mà còn phải “đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”. Muốn đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén, đáp ứng được yêu cầu chung thì xã hội cần có kế
hoạch bồi dưỡng thế hệ trẻ từ những ngày còn trên ghế nhà trường, khi mà người học
vừa mới tiếp cận với kiến thức khoa học cơ bản và quan trọng hơn cả là phải đổi mới
tư duy dạy học.
Có thể nói dạy và học ngày nay về cơ bản là dạy cách tư duy, học cách tư duy.
Mục đích cao nhất của việc dạy học là phát triển tư duy cho người học. Kiến thức lâu
ngày có thể quên (khi cần có thể đọc sách), cái còn lại là năng lực tư duy. Nhà Vật lý
nổi tiếng N.I.Sue nói: “Giáo dục – đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điều học

những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp gây hứng thú trong dạy
học hóa học ở trường phổ thông” để nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Trong công tác giảng dạy bộ môn hóa học, việc nâng cao chất lượng đào tạo
luôn thôi thúc những nhà giáo tâm huyết, miệt mài nghiên cứu để tìm ra các biện pháp
đem lại hiệu quả cao. Trong quá trình dạy học, người giáo viên không chỉ dạy cho học
sinh những kiến thức mà còn phải giúp các em tìm được hứng thú về môn học. Từ đó
học sinh sẽ thêm yêu thích hóa học, hăng say tìm hiểu thêm để có thể tự tìm ra tri thức
mới cho mình. Chính vì vậy, đã có một số tài liệu nghiên cứu về hứng thú trong dạy
học. Sau đây tôi xin giới thiệu một số tài liệu có liên quan đến đề tài.
- “Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục” của tác giả Su-ki-na do
nhà xuất bản Giáo dục Mockba phát hành năm 1971 (được tác giả Nguyễn Văn Diên,
Đại học Sư Phạm Hà Nội I biên dịch và tổ tư liệu trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I in
ấn năm 1975).

9


- Luận văn: “Sử dụng thí nghiệm vui và ảo thuật hóa học nhằm: Nâng cao hứng
thú học tập môn hóa học cho học sinh phổ thông” của học viên Hoàng Thị Minh Anh,
Đại học Sư phạm Hà Nội (1995).
- Luận văn: “Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học hóa học ở trường
phổ thông” Đại học Sư phạm TP HCM (2008).
- Khóa luận tốt nghiệp: “Tạo động cơ, hứng thú trong dạy học môn hóa học ở
trường phổ thông” của sinh viên Phạm Thị Thanh Nga – khoa Hóa học – Đại học Sư
phạm TP HCM (năm 2000).
- Khóa luận tốt nghiệp: “Tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh ở
trường phổ thông” của sinh viên Phan Thị Ngọc Bích – khoa Hóa học – Đại học Sư
phạm TP HCM (năm 2003).
- Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế một số hoạt động dạy học gây hứng thú nhận

5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a) Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
b) Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp gây hứng thú học tập và việc vận dụng chúng vào quá trình dạy
học.
6. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tư duy, hứng thú học tập trong các tài liệu tâm lí
học, giáo dục học, LLDH…
- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học
- Nghiên cứu, phân tích các tài liệu khoa học liên quan tới đề tài trong các sách,
tạp chí, trên mạng internet…
b) Phương pháp thực nghiệm
- Thăm dò, trao đổi ý kiến với một số giáo viên dạy hóa học ở các trường trung
học phổ thông về nội dung, số lượng kiến thức, cách thức soạn giáo án, cách tạo hứng
thú học tập cho học sinh trong tiết dạy.
- Thăm dò ý kiến của học sinh về hứng thú học tập môn hóa học.
- Thông qua TNSP đánh giá chất lượng và hiệu quả hệ thống kiến thức, kế
hoạch giảng dạy đã xây dựng nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, sau đó sử dụng
phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí kết quả TNSP.
11


7. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên vận dụng một cách hợp lí các biện pháp
gây hứng thú học tập cho học sinh thì sẽ góp phần:
- Đem lại niềm vui, hứng thú vŕ kết quả học tập tốt cho học sinh
- Giúp học sinh nhớ được các kiến thức hóa học một cách dễ dàng
- Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh

- E.Super nhận thấy hứng thú không phải là thiên hướng hay nét tính cách của cá
nhân. Hứng thú là một cái gì khác, riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tính cách,
riêng rẽ với cảm xúc. Tuy nhiên, ông lại không đưa ra một quan niệm rõ ràng về hứng
thú.
- Klapalet đã nghiên cứu thực nghiệm và đi đến kết luận hứng thú là dấu hiệu của
nhu cầu, bản năng khát vọng đòi hỏi cần được cho thỏa mãn của cá nhân.
-Theo I.Ph.Shecbac thì hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người, nó
được biểu hiện thông qua thái độ, tình cảm của con người vào một đối tượng nào đó
trong thế giới khách quan.
Nhìn chung các nhà tâm lý đề cập ở trên đều có quan điểm hoặc là duy tâm hoặc
là phiếm diện siêu hình về hứng thú. Tác hại của các quan điểm này là nó phủ nhận vai
trò của giáo dục và tính tích cực của cá nhân trong sự hình thành của hứng thú.
Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng. Coi
hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự
13


hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ
đang tồn tại ở con người. Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều khái cạnh khác nhau
như:
Theo khía cạnh nhận thức:
- V.N.Miasixep, V.G.Ivanôp, A.Gackhipop coi hứng thú là thái độ nhận thức tích
của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan.
- A.A.Luiblinxcaia đã khẳng định hứng thú là thái độ nhận thức, thái độ khao
khát đi sâu vào một khía cạnh nhất định của thế giới xung quanh.
- P.A.Rudich coi hứng thú là sự hiểu biết của xu hướng đặc biệt trong sự nhận
thức thế giới khách quan, là thiên hướng tương đối ổn định với một loại hoạt động nhất
định.
Theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan
- X.L.Rubinstêin đưa ra tính chất hai chiều trong mối quan hệ tác động qua lại

của cá nhân, vào một đối tượng nhất định, tác giả đã đưa ra một khái niêm được xem là
khá hoàn chỉnh “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó,
do ý nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó”.
- L.A.Gôđơn coi hứng thú là sự kết hợp độc đáo của các quá trình tình cảm, ý
chí, trí tuệ, làm cho tính tích cực của hoạt động con người nói chung được nâng cao.
- A.Kossakowski, nhà tâm lý học người Đức, coi hứng thú là hướng tích cực
tâm lý vào những đối tượng nhất định với mục đích nhận thức chúng, tiếp thu những tri
thức và nắm vững những hành động phù hợp. Hứng thú biểu hiện mối quan hệ tới tính
lựa chọn đối với môi trường và kích thích, con người quan tâm tới những đối tượng
những tình huống hành động quan trọng có ý nghĩa đối với mình.
Tóm lại: Các nhà tâm lý học Macxit đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy
vật biện chứng đã chỉ ra tính phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương
quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí, trí tuệ…).
Ở Việt Nam hứng thú được các nhà tâm lý học quan tâm tìm hiểu và đưa ra một
số khái niệm không giống nhau.
- Theo Nguyễn Quang Uẩn, trong tâm lý học đại cương, hứng thú là thái độ đặc
biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có

15


khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Khái niệm này
vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động cá nhân.
- Nhóm của tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng:
Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức và hiểu ý
nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt
đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra
tâm lý khao khát tiếp cận nó đi sâu vào nó.
- Nhiều nhà tâm lý cho rằng: hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân với
đối tượng thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và có

- Theo Phạm Tất Dong cho rằng hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau:
+ Khuynh hướng của con người đối với hoạt động liên quan tới đối tượng của
hứng thú đó.
+ Sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dễ chịu do đối tượng này gây
ra.
+ Khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này, về việc có liên quan
tới chúng.
+ Sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú.
+ Sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này,
trong hoạt động tưởng tượng phong phú, trong tư duy căng thẳng những vấn đề có liên
quan đến đối tượng của hứng thú đó.
-Theo Sukina [23, tr.7]: “Hứng thú thể hiện ra trước mắt chúng ta như là:
+ Xu hướng lựa chọn của các quá trình tâm lý của con người nhằm vào các đối
tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh.
+ Xu thế, nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn hiểu được một lĩnh vực hiện
tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân.
+ Nguồn kích thích mạnh mẽ tới tính tích cực cá nhân, do ảnh hưởng của nguồn
kích thích này mà tất cả các quá trình tâm lý diễn ra khẩn trương, còn hoạt động thì trở
nên say mê và đem lại hiệu quả.
+ Thái độ lựa chọn đặc biệt (không thờ ơ, bàng quang mà không tràn đầy những
ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, ý chí tập trung) đối với ngoại giới, đối với các
đối tượng, quá trình.
17


- Theo A.V.Daparogiet, hứng thú là khuynh hướng chú ý tới những đối tượng
nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng càng tỉ mỉ càng hay.
Theo chúng tôi, hứng thú được biểu hiện ở các mặt sau:
• Về mặt trí tuệ:
+ Luôn luôn say mê, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc.

+ Cá nhân nhận thức được đối tượng đã gây ra hứng thú.
+ Có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú.
+ Cá nhân tiến hành những hoạt động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó.
Hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm thực sự với đối tượng chiếm
lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ
bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú. Ngoài ra, những động cơ khác
không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác động hỗ trợ cho sự nảy sinh
và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú. Nhưng nếu chỉ nói đến mặt
nhận thức thì mới chỉ là hiểu biết của con người đối với đối tượng. Còn khi nói đến
hành vi là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm, tình
cảm của họ với đối tượng đó, có nghĩa là nội dung tâm lý của hứng thú tiềm ẩm bên
trong.
Hứng thú phải là sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm tích cực và hành động,
nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và
tình tích cực hoạt động với đối tượng. Bất kỳ những hứng thú nào cũng là thái độ cảm
xúc tích của chủ thể với đối tượng. Nó là sự thích thú với bản thân đối tượng và với
hoạt động với đối tượng. Nhận thức luôn là tiền đề là cơ sở cho việc hình thành thái độ.
Vậy ba yếu tố nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc hứng thú
của cá nhân. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của hứng thú mà những yếu tố đó nổi
lên nhiều hay ít. Xúc cảm là yếu tố không thể thiếu được trong hứng thú của cá nhân.
Bởi vì khi cá nhân có hứng thú với đối tượng thì họ mới tích cực muốn tìm hiểu nó để
biết một cách rõ ràng và sâu sắc hơn. Nhưng nếu chỉ dừng ở mức độ xúc cảm với đối
tượng thì chưa phải là hứng thú mà xúc cảm đó phải kết hợp với cá nhân về đối tượng.
Để có hứng thú với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên. Nó có quan hệ mật
thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt
riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú.
19


1.1.4. Phân loại hứng thú


Trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có những hứng thú rộng và hứng thú hẹp. Nếu
chỉ có hứng thú hẹp thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện, nhưng chỉ có hứng thú
rộng thì sự phát triển nhân cách sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc.
1.1.4.4. Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thể hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với
hoạt động, công việc. Cá nhân mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm
vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình.
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: Đây là những người qua loa đại khái trong
quá trình nhận thức, trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ nông nỗi.
1.1.4.5. Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú bền vững: Thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu
sắc nghĩa vụ, thiên hướng của mình.
+ Hứng thú không bền vững: Thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối
tượng hứng thú.
1.1.4.6. Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp: Là hứng thú đối với bản thân quá trính hoạt động như
quá trình nhận thức, quá trình lao động, hoạt động sáng tạo và hẹp hơn là quá trình nắm
vững kiến thức.
+ Hứng thú gián tiếp: Là loại hứng thú đối với kết quả hoạt động như hứng
thú muốn có học vấn, nghề nghiệp địa vị xã hội, có chức vụ nhất định và mong có kết
quả vật chất của quá trình lao động.
1.1.5. Bản chất của việc gây hứng thú trong dạy học
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề hứng thú dạy trong dạy học, chúng
tôi đã rút ra một số kết luận về bản chất của việc gây hứng thú trong dạy học hóa học
như sau:
1.1.5.1. Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển cá nhân
Hứng thú của con người không phải là những thuộc tính có sẵn hay mang tính
bẩm sinh. Việc hình thành hứng thú không phải là quá trình tự phát bên trong của bản
thân cá nhân mà nó bị quy định bởi môi trường xã hội xung quanh. Hứng thú kèm theo

cần chiếm lĩnh để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của mình. Nói ngắn gọn, người
học học vì cái gì thì đó chính là động cơ học tập của họ. Tuy nhiên, để có động cơ nói
22


chung hay động cơ học tập nói riêng thì trước hết phải có đối tượng ở bên ngoài chủ
thể, có giá trị đối với chủ thể và làm nảy sinh ở chủ thể nhu cầu chiếm lĩnh nó. Khi nhu
cầu chiếm lĩnh đối tượng đó được cá nhân ý thức, sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định
hướng và duy trì hành động. Trong quá trình dạy học, hứng thú luôn luôn có đối tượng
của mình, trong đó thể hiện rõ nét xu hướng ở một lĩnh vực bộ môn xác định mà học
sinh muốn ngày một hiểu biết sâu sắc bộ môn đó.
1.1.5.4. Hứng thú là một phương tiện dạy học
Trong quá trình dạy học và giáo dục, hứng thú là phương tiện nâng cao tính tích
cực hoạt động nhận thức của học sinh giúp cho quá trình này trở nên hấp dẫn hơn, lôi
cuốn được sự chú ý tự nhiên đối với các em. Chúng ta không thể truyền đạt tất cả
những kiến thức về thế giới xung quanh cho học sinh mà cần phải giúp các em biết lựa
chọn những điều cần thiết, có ý nghĩa đối với bản thân để các em chủ động tìm hiểu.
Hứng thú nhận thức của học sinh chịu nhiều ảnh hưởng bởi tài nghệ của người thầy.
Hứng thú sẽ trở thành phương tiện giảng dạy đáng tin cậy khi giáo viên sử dụng cùng
những phương tiện dạy học khác nhằm giúp cho việc nảy sinh cái mới trong sự phát
triển tư duy của học sinh.
1.1.5.5. Hứng thú trong dạy học là quá trình tác động từ phía giáo viên và môi trường
học tập vào học sinh, khiến các em chú ý, tập trung vào nội dung học tập.
Đối tượng gây hứng thú cho học sinh chính là nội dung các môn học, việc tiếp
thu nhưng nội dung này là nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động học tập. Người giáo viên
cần khái thác nội dung môn học, xây dựng những “ngòi nổ” gây kích thích nhu cầu học
tập của các em, giúp các em có sự quan tâm đặc biệt vào nội dung môn học. Việc phát
triển hứng thú nhận thức trong học sinh là một quá trình phức tạp trở thành đường lối
chung trong việc giáo dục và phát triển học sinh. Sự thỏa mãn hứng thú nhận thức
không bao giờ chỉ dẫn học sinh đến trạng thái bão hòa. Chính vì vậy, người giáo viên

Môi trường học tập tốt thật sự cần thiết đối với học sinh. Khi có các điều kiện
vật chất, vệ sinh, tâm lý đạo đức và thẩm mỹ thích hợp, học sinh dễ dàng tiếp thu bài
học và hứng thú với nội dung hơn. Thật vậy, khi môi trường học tập xung quanh các
em thoáng mát, yên tĩnh, các em có thể tập trung tốt vào bài học và dễ dàng tiếp thu
những nội dung giáo viên trình bày. Điều này sẽ giúp các em hiểu được vấn đề và có
thể tìm thấy hứng thú ở những vấn đề đó. Nếu môi trường học tập không trong lành, có
24


những tiếng ồn, mùi hương hay đối tượng khác lạ sẽ làm giảm khả năng tập trung của
các em. Ngược lại, những điền kiện và tác động bên ngoài tốt sẽ ảnh hưởng đến tâm lý
các em, giúp cho quá trình hứng thú của các em có cơ hội phát triển. Vì thế, nhà trường
và giáo viên cần lưu ý tạo cho các em một môi trường học tập trong lành. Như vậy, quá
trình gây hứng hứng thú cho học sinh trong khi giảng dạy sẽ đạt kết quả khả quan hơn.
1.1.6.3. Quá trình hứng thú của học sinh gắn liền với nhu cầu cá nhân và động cơ học
tập
Mỗi học sinh có nhu cầu cá nhân và động cơ học tập riêng. Các em đến trường
đều với mục đích chung là tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, đằng sau mục đích chung này,
mỗi học sinh có nhu cầu và động cơ học tập khác nhau. Từ đó, các em có những thái
độ học tập và tình cảm riêng đối với từng nội dung của môn học. Tùy theo nhu cầu cá
nhân và động cơ học tập mà học sinh có những hứng thú trong học tập không giống
nhau. Nếu giáo viên hiểu được những nhu cầu cá nhân cũng như động cơ học tập của
các em thì việc xây dựng nội dung gây hứng thú trong quá trình dạy học càng đạt hiệu
quả cao. Khi nội dung gây hứng thú của giáo viên không phù hợp với nhu cầu cá nhân
cũng như động cơ học học tập của các em thì quá trình hứng thú này dễ bị dập tắt,
không có hiệu quả.
1.1.6.4. Thỏa mãn hứng thú không đạt đến trạng thái bão hòa
Hứng thú không giống như những thuộc tính tâm lý khác của con người. Khi
học sinh thỏa mãn, đạt được cảm giác hứng thú, chúng sẽ không dừng lại ở cảm giác
đó. Ngược lại, các em sẽ có nguyện vọng tìm hiểu, nắm kiến thức với một kích thích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status