BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUỐC HÙNG
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG INTERNET
TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC LỚP 11
BAN CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60.14.01.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. MAI VĂN TRINH
NGHỆ AN, NĂM 2013
PHỤ LỤC 1
ĐỀ KIỂM TRA ( Bài Số 1 )
MÔN : VẬT LÍ 11
Thời gian : 45 PHÚT
Câu 1: ( 1điểm ) Trình bày hiện tượng nhiễm điện do tiếp xúc, giải thích?
Câu 2: ( 1điểm ) Cường độ điện trường là gì? Nó được xác định như thế nào ?
Câu 3: ( 1điểm )Hai quả cầu nhỏ có điện tích 3.10 -6 (C) và 4.10-6 (C), tương tác với
nhau một lực 30 (N) trong chân không. Tính khoảng cách giữa chúng.
Câu 4: ( 1điểm ) Cho hai điện tích điểm q1= 3 µC và q2 = - 4 µC lần lượt đặt tại hai
điểm A và B trong chân không cách nhau AB = 10cm. Xác định cường độ điện
trường tổng hợp tại M có AM = 6cm, BM = 4cm.
Câu 5: ( 1điểm ) Dòng điện không đổi là gì? Nêu điều kiện để có dòng điện?
Bản chất dòng điện trong kim loại là gì?
Nêu 2 nguyên nhân gây nên điện trở trong kim loại.
Câu 3: ( 1 điểm) Hiện tượng siêu dẫn là gì?
Câu 4: ( 1điểm )
-
Phát biểu định luật bảo toàn điện tích.
Giả sử hai điện tích điểm có độ lớn q1 và q2 cho tiếp xúc nhau. Sau khi
tiếp xúc điện tích của hai quả cầu có độ lớn như thế nào và hút nhau hay
đẩy nhau?
Câu 5: ( 1điểm ) Cho hai điện tích điểm với q1, q2 đặt tại hai điểm A và B trong
không khí. Tìm điểm M mà tại đó đặt điện tích q0 thì lực tác dụng lên điện tích q0
bằng 0. Biết rằng AB = 100cm và q1 = -81.q2
Câu 6: ( 1điểm )
-
Phát biểu định luật Jun-Lenxơ
Một bếp điện có ghi 220V - 800W. Bếp hoạt động đúng công suất và mỗi
ngày sử dụng 1 giờ. Hỏi trong 1 tháng ( 30 ngày ) bếp tiêu thụ bao nhiêu
KWh.
Câu 7: ( 1điểm ) cho bình điện phân dung dịch CuSO4 với anốt làm bằng đồng.
Trong thời gian điện phân là 1 giờ thì lượng đồng giải phóng ở anốt là 5,97g. Tìm
cường độ dòng điện qua bình điện phân. Biết F = 96500C/mol, ACu = 64 và n = 2
Câu 8: ( 3điểm ) Ba pin giống nhau ghép song song, mỗi pin có ξ = 6 V, r = 0,3 Ω.
Hai cực của bộ pin mắc với một biến trở R.
-
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
HỌ VÀ TÊN
Nguyễn Minh Châu
Lâm Khánh Duy
Nguyễn Nhựt Em
Bùi Thị Hảo
Nguyễn Thị Hạnh
Đặng Thị Thu Hạnh
Đỗ Thị Hằng
Nguyễn Ngọc Hân
ĐIỂM 1 TIẾT
( Bài số 1 )
ĐIỂM 1 TIẾT
( Bài số 2 )
6
6
3
7
7
5
5
3
5
7
4
6
6
6
4
5
4
6
6
7
5
7
8
6
3
9
4
3
5
6
4
5
6
6
4
4
6
7
5
6
4
5
5
3
4
6
7
39
40
41
42
Nguyễn Thành Long
Triệu Văn Long
Nguyễn Hữu Luân
Thiều Thị Mận
Nguyễn Thị Khánh My
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Nguyễn Văn Nhàn
Hồ Thị Tuyết Nhi
Nguyễn Thị Tuyết Nhi
Đinh Thị Yến Nhi
Phan Thị Yến Nhi
Huỳnh Quỳnh Như
Vũ Tấn Phát
Nguyễn Thị Phượng
Trần Thị Như Quỳnh
Tạ Văn Sến
Đinh Trọng Tâm
Nguyễn Minh Thanh
Nguyễn Chí Thành
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Nguyễn Thị Thảo
Lê Thị Thủy
Trần Thị Thúy
Nguyễn Nam Tiến
Giáp Minh Toàn
7
5
8
8
5
5
7
5
7
5
6
5
8
4
5
8
6
4
5
8
3
4
6
8
3
5
4
5
2
Nhóm ĐC
STT
1
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
HỌ VÀ TÊN
Hoàng Thị Quế Anh
Lê Thắng Anh
Phạm Duy Bình
Huỳnh Thị Thu Cúc
Nguyễn Trí Cường
Phạm Thị Mỹ Dung
Nguyễn Thị Thu Dung
Nguyễn Thùy Dương
Lý Thành Đạt
Nguyễn Duy Đông
La Hoàng Hà
Hoàng Thị Thu Hoài
Nguyễn Ngọc Lâm
Đặng Thị Lưu
Chung Thị Tuyết Minh
Huỳnh Văn Minh
Lý Thị Kim Ngân
5
7
8
8
5
5
6
5
5
5
5
5
3
5
6
6
5
4
4
5
7
5
6
3
3
4
4
8
6
2
3
5
6
4
4
5
6
3
4
4
3
5
6
5
4
3
4
7
5
6
5
5
2
6
5
43
44
45
Nguyễn Đức Hạnh
Trần Thị Thúy Hằng
Nguyễn Công Hậu
Trần Trọng Hiếu
Huỳnh Quốc Huy
Đỗ Thị Lộc
Thái Thị Mai
Vũ Thị Tuyết Mai
Trần Phước Minh
Lê Vương Bảo Ngọc
Phạm Thị Bích Ngọc
Võ Thị Yến Nhi
Nguyễn Thị Tú Oanh
Lý Thành Phát
3
5
6
5
3
2
8
3
3
6
4
7
4
8
2
4
5
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................ 8
PHỤ LỤC....................................................................................................................9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................11
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG I:..........................................................................................................................5
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG .........................................5
INTERNET TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ.........................................................................5
1.1. Các khái niệm cơ bản về Internet....................................................................5
1.1.1. Khái niệm Internet..............................................................................................5
1.1.2. Khái niệm trang web .........................................................................................5
1.1.3. Vai trò của Internet trong xã hội hiện đại..........................................................7
1.2. Vai trò của Internet trong việc đổi mới phương pháp dạy học.....................9
1.2.1. Đổi mới phương pháp dạy học .....................................................................9
1.3. Khai thác và sử dụng Internet trong dạy học Vật lí.....................................16
1.3.1. Vai trò của Internet trong dạy học vật lí ở trường THPT................................16
1.3.2. Qui trình khai thác và sử dụng thông tin trên Internet trong dạy học vật lí....22
KẾT LUẬN CHƯƠNG I...................................................................................................39
Chương 2: KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐIỆN
HỌC LỚP 11 THPT...........................................................................................................41
2.1. Nghiên cứu nội dung phần Điện học.............................................................41
2.2. Giới thiệu thư viện tư liệu khai thác trên Internet.......................................43
TNSP
: Thực nghiệm sư phạm
THPT
: Trung học phổ thông
TNA
: Thí nghiệm ảo
TNMP
: Thí nghiệm mô phỏng
PPDH
: Phương pháp dạy học
TBDH
: Thiết bị dạy học
DH
: Dạy học
BGH
học, tạo được động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Với Internet, người sử dụng có
thể tìm kiếm mọi thông tin cần thiết, tra cứu tài liệu hỗ trợ cho quá trình dạy học, mở
rộng kiến thức, ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, học trực tuyến, tham gia các
1
diễn đàn để trao đổi kiến thức... Từ đó giúp cho người dạy thay đổi phương pháp dạy
học của mình theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, đồng thời
người học có thể rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức của
nhân loại.
Để việc khai thác và sử dụng Internet trong dạy học đạt hiệu quả cao mỗi giáo
viên cần biết, nắm vững để làm chủ các phương tiện mới và ứng dụng trong công việc
giảng dạy của mình. Phần lớn giáo viên hiện nay biết cách tìm kiếm thông tin nhưng
chưa biết cách lưu giữ, xử lí chúng một cách khoa học hoặc những thông tin đó chưa
thật sự có chất lượng. Học sinh thì chủ yếu sử dụng Internet để giải trí vì không có nhu
cầu và không biết cách tìm thông tin trên Internet. Đây cũng là một vấn đề cấp thiết
trong công tác dạy học hiện nay khi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
đang được chú trọng nhằm thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh.
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy vật lý ở trường THPT, tôi nhận thấy phần “Điện
học” chiếm một tỉ lệ lớn trong chương trình vật lý 11( chiếm toàn bộ số tiết học kì I).
Phần “Điện học” bao gồm những kiến thức rất căn bản của vật lý, nó có vị trí rất quan
trọng là tiền đề để giúp HS hiểu và tiếp thu những kiến thức về phần từ trường, cảm
ứng từ,…cũng là cơ sở để HS tiếp thu những kiến thức vật lý hiện đại tiếp theo. Nội
dung kiến thức phần này tương đối khó, phức tạp khó hiểu như: khái niệm ( điện
trường, lực điện trường, điện thế, lực lạ, …), định luật vật lý (định luật Cu-lông, định
luật bảo toàn điện tích), hiện tượng vật lý ( nhiễm điện, dương cực tan,..). Thế nhưng
đa số kiến thức phần này nặng về thông báo, các bài học trên lớp cũng rất ít phần có
thể sử dụng thí nghiệm. Điều đáng nói là các thí nghiệm rất khó làm, khó thành công
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của việc
sử dụng Internet trong dạy học Vật lí ở trường THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Nghiên cứu luật Giáo dục, văn kiện của Đảng, các tạp chí Tin học & Nhà trường,
tạp chí Giáo dục, các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học vật lí,...
- Nghiên cứu tài liệu về khai thác và sử dụng Internet.
- Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa vật lí lớp 11 cơ bản THPT
phần “Điện học”.
6.2.Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Sử dụng và khai thác Internet để lấy các tư liệu hỗ trợ dạy học phần “Điện
học”
- Sử dụng các tư liệu từ Internet để thiết kế một số bài học cụ thể.
- Chọn mẫu và thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông.
3
6.3.Phương pháp thống kê toán học:
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học và xác định tính khả thi của đề tài.
7. Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc khai thác và sử dụng Internet trong dạy học
Vật lí ở trường THPT .
Chương 2: Khai thác và sử dụng Internet trong dạy học “Điện học” lớp 11 ban
cơ bản THPT
Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua các phương tiện
viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện thoại...
Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều loại
thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động...
1.1.2. Khái niệm trang web
World Wide Web được gọi tắt là Web-là mạng lưới nguồn thông tin cho phép
mọi người khai thác thông tin qua một số công cụ hoặc là chương trình hoạt động dưới
5
các giao thức mạng. World Wide Web là một trong số các dịch vụ của Internet nhằm
giúp cho việc trao đổi thông tin trở nên thuận tiện và dễ dàng.
Sở dĩ Web trở nên phổ biến vì Web cung cấp cho người sử dụng khả năng truy
cậpdễ dàng từ đó người sử dụng có thể khai thác các thông tin đa dạng trên Internet
bao gồm văn bản, hình ảnh thậm chí cả âm thanh và video, nghĩa là những gì mà
chúng ta có thể cảm nhận được, vì thế Web đôi khi còn được gọi là đa phương tiện của
mạng Internet.
Thông tin được biểu diễn bằng “trang Web”theo đúng nghĩa của một trang mà
chúng ta có thể nhìn thấy trên màn hình máy tính. Mọi thông tin đều có thể biểu thị
trên trang Web đó, kể cả âm thanh, hình ảnh động, nhưng vấn đề lý thú nhất của Web
nằm ở khía cạnh khác, đó là trang Web mà chúng ta nhìn thấy trên màn hình máy tính
có khả năng liên kết với những trang Web khác, dẫn chúng ta đến những nguồn thông
tin khác. Khả năng này của Web có được là nhờ thông qua các “siêu liên kết”
(hyperlink), siêu liên kết về bản chất là địa chỉ trỏ tới nguồn thông tin (trang Web) nằm
đâu đó trên Internet. Bằng những siêu liên kết này, các trang Web có thể liên kết với
nhau thành một mạng chằng chịt, trang này trỏ tới trang khác.
Trang web là một tập tin chương trình được lập trình bằng ngôn ngữ html (hyper
text markup language), tạm gọi là tập tin html. Tập tin html có đuôi .htm hoặc .html.
Chúng có khả năng nhúng hoặc liên kết với nhiều tập tin khác như tập tin ảnh, video,
chuyện trực tuyến. Nó có thể chạy trên rất nhiều hệ điều hành khác nhau, bao gồm
Windows, Mac OS X, Solaris, FreeBSD và Linux.
1.1.3. Vai trò của Internet trong xã hội hiện đại
1.1.3.1. Lợi ích
Internet ra đời đã thật sự tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực. Với Internet, con
người có thể tiếp cận được với thế giới xung quanh một cách hiệu quả hơn. Người sử
dụng có thể tìm kiếm bất kì nguồn thông tin nào trên mạng Internet, từ những thông tin
về văn hóa, chính trị, xã hội đến những thông tin về giải trí như điện ảnh, ca nhạc, thể
thao,...trên toàn thế giới; có thể giao tiếp nhanh chóng với nhau thông qua các hình
thức như e-mail, facebook, nhắn tin, bao gồm cả hình ảnh và âm thanh; có thể trao đổi
thông tin, ý kiến và giao lưu kết bạn; có thể download thông tin hữu ích từ các nguồn
khác nhau. Internet còn giúp thúc đẩy thương mại điện tử thông qua các dịch vụ quảng
cáo, bán hàng trên mạng, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu
quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh.
Đối với nước ta, Internet là một trong những phương tiện hữu hiệu giúp Ðảng,
Nhà nước tuyên truyền các chủ trương chính sách của mình ra quốc tế trong khi các
phương tiện truyền thống khó có thể đạt được. Bên cạnh đó, Internet đã góp phần hỗ
trợ các cơ quan quản lý Nhà nước hoạch định chính sách tiếp cận được với môi trường
quản lý theo xu hướng toàn cầu hoá. Trước đây, các cơ quan hành chính nhà nước
7
cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại trụ sở của mình, thì nay, nhờ vào Inernet các trung
tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập, hoặc là ngay trong trụ sở cơ quan hành chính
hoặc gần với dân. Qua các cổng thông tin này, người dân nhận được thông tin, có thể
hỏi đáp pháp luật, được phục vụ (giải quyết) các việc trong cuộc sống hàng ngày, như
công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu, sang tên trước bạ … tại
các mạng dịch vụ của chính phủ mà không phải đến tại trụ sở các cơ quan trên như
trước đây. Mọi quan hệ giữa chính phủ và công dân bảo đảm tính minh bạch, công
1.2.1. Đổi mới phương pháp dạy học
Trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông hiện nay là tập
trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích
cực, chủ động của học sinh dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên nhằm góp
phần phát triển tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu
tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập. Dạy học
vật lí ngày nay là tiếp tục tận dụng những ưu điểm của phương pháp truyền thống và
dần dần làm quen với phương pháp dạy học mới. Cốt lõi của đổi mới dạy và học là
hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Có nghĩa
là, người giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà
phải là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh. Khi đó,
học sinh trở thành người khám phá, người thực hiện và giải quyết vấn đề. Họ tự lực
chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, tức là chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ
năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Đổi mới PPDH luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy
học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học
để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong
phòng học và ngoài hiện trường; đổi mới môi trường giáo dục để học tập gắn với
thực hành và vận dụng; đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh qua nội
dung, hình thức kiểm tra, xây dựng các bộ công cụ đánh giá, phối hợp kiểu đánh giá
truyền thống với các trắc nghiệm khách quan đảm bảo đánh giá khách quan, trung thực
mức độ đạt được mục tiêu giáo dục của từng học sinh.
Nhìn chung, đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH vật lí nói riêng có thể cụ
thể hóa bằng những định hướng sau:
1. Định hướng thứ nhất: Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát
huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
Dựa theo phương thức tiếp nhận thông tin của HS, các PPDH truyền thống
có thể phân làm ba nhóm:
9
án thí nghiệm nhằm kiểm tra một dự đoán hay giả thuyết,… Hoạt động xử lí thông
tin đòi hỏi khả năng tư duy sáng tạo cao của HS.
- Nhóm hoạt động truyền đạt thông tin gồm có: thông báo bằng lời những kết quả
10
xử lí thông tin, kết quả thí nghiệm, những dữ liệu điều tra cá nhân hay nhóm; tham gia
thảo luận, tranh luận về một nội dung học tập; trả lời câu hỏi của GV; viết báo cáo;
trình bày một biểu đồ, một đồ thị, một tranh vẽ. Hoạt động truyền đạt thông tin giúp
HS củng cố kiến thức, phát triển khả năng ngôn ngữ, đồng thời rèn luyện các phẩm
chất cần thiết để hòa nhập cuộc sống cộng đồng.
Ngoài ra, trong học tập còn có hoạt động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã chiếm
lĩnh được để giải quyết một vấn đề, một bài tập,… là tổng hợp của các hoạt động thu
thập, xử lí và truyền đạt thông tin.
Trong mỗi hoạt động, giáo viên giữ vai trò tổ chức và hướng dẫn các hoạt
động học tập của học sinh. HS tự lực hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng
mới. Các hoạt động học tập của HS không những diễn ra trên lớp mà còn diễn ra ở
nhà.
3. Định hướng thứ ba: Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài
hòa với học tập hợp tác
Quan niệm đổi mới PPDH vẫn khẳng định trong các PPDH tích cực, hình
thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản nhất, nhưng ở đó HS phải học
tập một cách hứng thú, tự giác và chủ động. Hình thức học tập hợp tác hay học tập
theo nhóm là hình thức học tập hỗ trợ, góp phần làm cho việc học tập cá nhân có
hiệu quả hơn, đồng thời rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ
chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung.
Các hình thức dạy học thường được xen kẽ nhau trong giờ học và bổ trợ cho nhau.
Tuy nhiên, cần tránh quan niệm sai lầm khi cho rằng tổ chức HS hoạt động theo
nhóm mới là đổi mới PPDH và là tiêu chí bắt buộc của dạy học tích cực. Nếu GV
và HS đánh giá được kết quả dạy và học.
6. Định hướng thứ sáu: Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, chú trọng làm
thí nghiệm, ứng dụng CNTT trong dạy học vật lí
Vật lí học là một khoa học thực nghiệm. Do đó, thí nghiệm và thực hành là rất
cần thiết trong dạy học vật lí. Qua thí nghiệm, thực hành mà các khái niệm, định luật
vật lí được hình thành một cách thuyết phục đối với HS, đồng thời HS cũng được
rèn luyện các kĩ năng thực hành (quan sát, sử dụng cụ vật lí, lắp ráp thí nghiệm, vẽ đồ
thị,…), phát triển óc phán đoán và tư duy vật lí. Tuy nhiên, việc thực hiện thí nghiệm
thường mất nhiều thời gian nên GV cần chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch thực hiện trước
tiết dạy, có thể cho HS thực hiện ở nhà nếu là thí nghiệm đơn giản, dễ thực hiện.
Hiện nay, ngoài các phương tiện dạy học truyền thống như phấn bảng, người GV
cần phải biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để hỗ trợ tốt hơn cho quá trình
giảng dạy, đặc biệt là sử dụng CNTT trong dạy học. Các phương tiện dạy học thuộc
12
CNTT gồm có (phần cứng lẫn phần mềm): máy vi tính, máy chiếu, mạng Internet, bài
giảng điện tử, các phần mềm dạy học, phim dạy học, các thí nghiệm ảo,… Các
phương tiện này giúp làm gia tăng giá trị lượng tin trong dạy học, giúp quá trình trao
đổi thông tin diễn ra nhanh và hiệu quả. Do đó, người GV không còn là trung tâm
phát thông tin vào đầu HS và HS cũng không còn thụ động trong tiếp nhận thông tin
vì có nhiều nguồn thông tin phong phú để HS có thể tự đánh giá, lựa chọn: sách, CDROM, Internet,…Với vai trò là công cụ dạy học, CNTT có thể tham gia xuyên suốt
trong quá trình dạy học và đặc biệt là góp phần đổi mới PPDH ở các mặt như: thực
hiện dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động, tăng cường tự học trong quá trình
dạy học, sử dụng luân chuyển những hình thức dạy học đa dạng, hình thành và sử
dụng công nghệ dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá.
7. Định hướng thứ bảy: Đổi mới cách soạn giáo án
Theo quan niệm đổi mới PPDH thì giáo án là bản kế hoạch chuẩn bị trước của
GV, ước lượng những hoạt động học tập của HS trong tiết học, đề xuất những tình
tác (interactive simulation) như Flash animation, Java applet,… Các tư liệu này có một
vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ hoạt động nhận thức của HS.
Giá trị của hình ảnh và video chính là sự trực quan, dễ hiểu. Thông tin dưới dạng
hình ảnh bao giờ cũng dễ dàng gây sự tập trung, chú ý đối với người học hơn là
dùng ngôn từ của lời nói hay chữ viết để trình bày.
“Một bức tranh có giá trị bằng một ngàn từ” [8, tr.52], nhận định của Tony
Buzan cho thấy sự biểu đạt bằng hình ảnh trực quan sẽ giúp chuyển tải một lượng
thông tin rất lớn so với truyền đạt bằng ngôn từ. Mặt khác, sự trực quan của các hình
ảnh, video giúp giảm thiểu sự tưởng tượng sai lệch của HS về đối tượng vật lí hay
quá trình vật lí mà ngôn từ khó có thể diễn tả trọn vẹn. Từ đó, HS có được sự nhận
thức một cách đầy đủ và đúng đắn về các đối tượng vật lí. Ngoài ra, các mô phỏng
tương tác như Flash animation hay Java applet có thể dùng để giả lập các mô hình vật
lí, các thí nghiệm vật lí hay các quá trình vật lí,… Các chương trình này có tính
tương tác rất cao. HS có thể thao tác trực tiếp với chuột, bàn phím để điều khiển
chương trình hay nhập các thông số,… để từ đó khám phá ra các quy luật vật lí một
cách nhanh chóng và hiệu quả.
Brenda Pfaus, một giáo viên, chuyên gia về CAL (computer – aided learning, dạy
học với sự hỗ trợ của máy tính) ở Ottawa, Hoa Kỳ từng nhận định rằng: “Học sinh có
khả năng ghi nhớ tốt hơn những gì họ nghe, nhìn và được tương tác,… Người ta có
khả năng nhớ khoảng 10% những gì họ được đọc, 50% những gì họ được quan sát và
hơn 90% những gì họ được tham gia tương tác” [7]. Thật ra, sự trực quan sinh động
14