Địa vị pháp lý của cơ quan Đăng kí kinh doanh - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Cùng với sự mở cửa của nền kinh tế thị trờng, pháp luật Việt Nam đang
ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia vào kinh
doanh. Sự ra đời của các văn bản pháp lý đợc xã hội đánh giá rất cao trong đó có
Luật Doanh nghiệp, Nghị định 109, Nghị định 125...
Luật Doanh nghiệp 1999 qui định công dân có quyền làm những gì pháp
luật không cấm, thực sự là bớc tiến rrong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho việc
thực thi nguyên tắc tự do kinh doanh ở nớc ta.
Đăng ký kinh doanh là một thủ tục hành chính, là một công cụ quản lý kinh
tế vĩ mô của Nhà nớc, đối với nhà đầu t đó là phơng tiện để thực hiện quyền tự do
kinh doanh. Đăng ký kinh doanh có tầm quan trọng rất lớn. Ngay từ năm 1991,
chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (Nay là Thủ tớng Chính phủ) đã cho phép thành lập
Vụ quản lý ĐKKD thuộc Trọng tài Kinh tế Nhà nớc. Năm 1994 quản lý Nhà nứơc
về ĐKKD đợc chuyển sang hệ thống cơ quan Kế hoạch và Đầu t. Năm 1999 t tởng
chỉ đạo là hình thành hệ thống cơ quan ĐKKD thống nhất trong cả nớc. Hiện nay
hệ thống cơ quan ĐKKD ở nớc ta qui định cụ thể trong Nghị định 02/2000/NĐ-CP
và Nghị định 109/2004/NĐ-CP thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP.
Cơ quan ĐKKD đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực thi
pháp luật kinh doanh ở nớc ta. Các vấn đề về thực trạng, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ
của cơ quan ĐKKD đang đợc chú trọng và quan tâm. Nó cung cấp các dịch vụ
công và là một trong những công cụ quản lý kinh tế của Nhà nớc. Có rất nhiều vấn
đề đợc xem xét, đặt ra xung quanh cơ quan ĐKKD để hoàn thiện hơn pháp luật
kinh doanh nớc ta. Do vậy em đã chọn đề tài:
Địa vị pháp lý của cơ quan ĐKKD
Mặc dù đã từng xuất hiện bộ phận quản lý ĐKKD từ năm 1991 nhng hiện
nay cơ quan ĐKKD vẫn còn là đề tài khá mới mẻ. Do sự hiểu biết hạn chế nên đề
tài chắc chắn có nhiều thiếu sót, em xin đợc sự chỉ bảo hớng dẫn của thầy để đề tài
của em đợc hoàn thiện hơn. Đồng thời em cảm ơn thâỳ đã tận tình hớng dẫn giúp
đỡ em một số điều trong thời gian qua. Hi vọng đề tài của em sẽ mang đến một cái
nhìn mới về cơ quan ĐKKD đối với ngời đọc và những ai đã và đang quan tâm.

Nhận thấy sự bât hợp lí của Luật Doanh nghiệp t nhân ,Luật Công ty thể
hiện ở việc luật ghi nhận công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh nhung lại
Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - LKD - K43 2
Đề án môn học
qui định ngời kinh doanh phải xin phép cơ quan nhà nớc có thẩm quyền để thành
lập doanh nghiệp ; hơn nữa Trọng tài Kinh tế Nhà nớc chỉ giống nh là một cơ quan
quản lí Nhà nớc ,do đó năm 1994 trọng tài kinh tế Nhà nứơc bị giải thể , ủy ban kế
hoạch nhà nớc cấp tỉnh đảm nhiệm theo qui định của luật sửa đổi ,bổ sung một số
điều cuả Luật Công ty 1994. ở Trung ơng, ủy ban kế hoạch nhà nớc giao nhiệm vụ
này cho Vụ kế hoạch hoá thực hiện, còn ở địa phơng, Sở Kế hoạch và đầu t đợc
giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện việc ĐKKD cho các doanh nghiệp.Tuy nhiên lúc
này nhu cầu về xây dựng một hệ thống cơ quan ĐKKD đủ mạnh để thực hiện các
nhiệm vụ đơc giao cha đặt ra một cách cấp bách.
Ngày 31/03/1998 thủ tớng chính phủ ra chỉ thị số 16/1998/CT-TTg về giải
quyết những kiến nghị của doanh nghiệp theo đó các tỉnh,thànhphố trực thuộc
Trung Ương giao cho các sở kế hoạch và đầu t làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ và xử
lí các đề nghị của doanh nghiệp để trình UBND tỉnh quyết định. Trong khi chờ sửa
đổi Luật Công ty, những doanh nghiệt đã có giấy phép thành lập nếu có đủ điều
kiện và có yêu cầu ĐKKD ngay thì cơ quan kế hoạch đợc quyền cấp ĐKKD,
không đòi hỏi các thủ tục khác. Bộ Kế hoạch và Đầu t phối hợp Bộ t pháp ban
hành thônh t liên tịch số 05/1998/TTLT-BKH-TP ngày 10/07/1998 hớng dẫn thủ
tục thành lập, ĐKKD đối với doanh nghiệp t nhân , công ty
2. Sau khi có luật doanh nghiệp 1999
Ngày 12/06/1999 Nh nớc ban hành luật Doanh nghiệp và bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 01/01/2000. Cuối năm 1999 đẻ chuẩn bị cho việc triển khai thi hành luật
doanh nghiệp, tại thông báo số 188/TB-VPCP ngày 29/09/1999 của văn phòng
chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong việc hớng dẫn thi hành luật doanh
nghiệp,Phó thủ tớng chính phủ đã nêu rõ t tởng chỉ đạo là hình thành hệ thống cơ
quan đăng kí kinh doanh thống nhất trong cả nớc có chức năng ,nhiệm vụ và cán
bộ đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ ĐKKD và quản lí sau ĐKKD. Tuy nhiên vì

ngày nhận hồ sơ. Trọng tài Kinh tế có thể từ chối cấp giấy chứng nhận ĐKKD nấu
hồ sơ không đủ để chứng minh là chủ DNTN hay Công ty có đủ điều kiện luật
Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - LKD - K43 4
Đề án môn học
định để hoạt động kinh doanh. Ngời bị từ chối có quyền khiếu nại đến Trọng tài
Kinh tế Nhà nứơc. Chủ tịch Trọng tài Kinh tế Nhà nớc xem xét giải quýêt các vi
phạm trong ĐKKD.
Năm 1994, Trọng tài Kinh tế chấm dứt hoạt động, nhiệm vụ quản lí Nhà nớc
về ĐKKD đợc chuyển sang hệ thốnh cơ quan kế hoạch và đầu t. Uỷ ban kế hoạch
Nhà nớc cấp tỉnh đảm nhiệm theo qui định của luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật Doanh nghiệp t nhân 1994 và Luật Công ty 1994 trình tự thủ tục
ĐKKD,quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan ĐKKD-nay là Uỷ ban
Kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh vẫn nh kế hoạch trớc đây.
Năm 1995 Thủ tớng chính phủ ra quyết định số 852/CP ngày 28/12/1995 về
thành lập sở kế hoạch và đầu t trên cơ sơ sát nhập và tổ chức lại Uỷ ban kế hoạch
Nhà nớc cấp tỉnh và các tổ chức làm công tác hợp tác đầu t ở tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ơng. Nh vậy mọi công việc của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh đ-
ợc giao cho Sở kế hoạch và Đầu t trong đó có việc ĐKKD.
2. Sau khi có luật doanh nghiệp 1999
2.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ quan ĐKKD đợc tổ chức ở tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ơng (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh) và ở huyện,quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
cấp huyện)
2.1.1. Phòng ĐKKD cấp tỉnh
Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP và Thông t liên tịch số 05/2000/TTLT-
BKH-BTCCBCP thì phòng ĐKKD trong Sở kế hoạch và Đầu t đợc gọi chunglà
phòng ĐKKD cấp tỉnh, đợc thành lập trên cơ sở sắp xếp lại cơ cấu,tổ chức, đổi tên,
điều chỉnh chức năng của các phòng đang thực hiện nhiệm vụ ĐKKD tại Sở kế
hoạch và Đầu t. Việc ĐKKD cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh
nghiệp sử dụng con dấu của phòng ĐKKD. Trởng phòng ĐKKD chịu trách nhiệm

vụ cụ thể của công tác ĐKKD ở địa phơng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định
thành lập phòng ĐKKD cấp huyện, trờng hợp không thành lập phòng ĐKKD cấp
huyện thì giao phòng tài chính-kế hoạch hoặc phòng kinh tế thực hiện nhiệm vụ
ĐKKD qui định tại Điều 5 Nghị định ( gọi chung là cơ quan ĐKKD cấp huyện ).
Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - LKD - K43 6
Đề án môn học
Thông t liên tịch số 05/2000/TTLT-BKH-BTCCBCP hớng dẫn việc tổ chức
phòng ĐKKD bị bãi bỏ. Bộ trởng Bộ Kế hoạch và Đầu t thống nhất với Bộ trởng
Bộ nội vụ ban hành qui định hớng dẫn về tổ chức, bộ máy,biên chế và tiêu chuẩn
cán bộ ĐKKD.
2.1.3. Bộ Kế hoạch và Đầu t
Là cơ quan quản lý Nhà nớc về ĐKKD chứ không phải là cơ quan ĐKKD.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu t sẽ đợc nghiên cứu ở phần dới đây.
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan ĐKKD.
Đợc qui định tại Điều 116-Luật Doanh nghiệp 1999 bao gồm: Giải quyết việc
ĐKKD và cấp giấy chứng nhận ĐKKD theo qui định của pháp luật; Xây dựng,
quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các cơ quan
Nhà nớc, cho tổ chức cá nhân có yêu cầu theo qui định của pháp luật; Yêu cầu
doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần
thiết cho việc thực hiện các qui định của luật này, đôn đốc việc thực hiện chế độ
báo cáo của doanh nghiệp; Trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ ĐKKD; Xử lý
vi phạm các qui định về ĐKKD theo qui định của pháp luật, thu hồi giấy chứng
nhận ĐKKD và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể theo qui định tại luật
này; Chịu trách nhiệm trớc pháp luật về những vi phạm trong việc ĐKKD; Thực
hiện các quyền và trách nhiệm khác theo qui định của pháp luật.
Cụ thể hoá Điều này Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 đã qui định
chức năng cụ thể cho cơ quan ĐKKD cấp tỉnh, huyện.
2.2.1. Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
* Trực tiếp nhận hồ sơ ĐKKD; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ ĐKKD và cấp

cấp Giấy chứng nhận ĐKKD hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính.
Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không báo cáo cơ quan
ĐKKD.
Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp với cơ quan
ĐKKD trong 2 năm liên tiếp.
Không gửi báo cáo theo qui định tại khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp
đến cơ quan ĐKKD trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản.
Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - LKD - K43 8
Đề án môn học
Kinh doanh các ngành nghề bị cấm.
Cơ quan ĐKKD không đợc quyền thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD của
doanh nghiệp trong bất kỳ trờng hợp nào khác ngoài các trờng hợp quy định tại
khoản này. So với Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 thì trong Nghị định
này nhiệm vụ thứ 5 qui định trong NĐ 02/2000/NĐ-CP đợc tách ra làm hai nhiệm
vụ trong đó nếu nội dung đăng ký kê khai là giả mạo thì từ chối cấp ĐKKD chứ
không phải thông báo yêu cầu hiệu đính. Ngoài ra Nghị định 109/2004/NĐ-CP
ngày 02/4/2004 còn chỉ rõ nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo nội dung ĐKKD. ( Nghị định
02/2000/NĐ-CP chỉ nêu rõ sáu nhiệm vụ mà thôi ). Trong nhiệm vụ thứ bảy,
phòng ĐKKD cấp tỉnh có quyền thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD đối với doanh
nghiệp có thêm hai trờng hợp mà trong Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày
03/02/2000 không hề qui định đó là Có nội dung kê khai trong hồ sơ ĐKKD là
giả mạo hoặc trái với Điều 9 Luật Doanh nghiệp và không đăng ký mã số thuế
trong thời hạn một năm kể từ khi đợc cấp Giấy chứng nhận ĐKKD. Nh vậyNhà n-
ớc có thể biết rõ hơn thông tin về doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ hơn và hạn chế
sự vi phạm của doanh nghiệp.
Ngời thành lập doanh nghiệp hoặc ngời đại diện nộp đủ hồ sơ theo qui định
tại Điều 12 Nghị định này tại phòng ĐKKD cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính. Phòng
ĐKKD cấp tỉnh không đợc yêu cầu ngời thành lập doanh nghiệp nộp thêm bất kỳ
giấy tờ nào khác ngoài hồ sơ quy định tại Điều 12 Nghị định này đối với từng loại

02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 cha qui định ). Đối với việc lập chi nhánh, văn
phòng đại diện, việc đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, đăng
ký thay đổi vốn đầu t của chủ Doanh nghiệp t nhân, vốn điều lệ của Công ty; đăng
ký bổ sung, thay đổi ngành nghề kinh doanh..., phòng ĐKKD cấp tỉnh xem xét và
thực hiên theo đúng các qui định trong Nghị định.
Khác với trớc đây, cơ quan ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp không chỉ thực
hiện các thủ tục ĐKKD mà còn phải cập nhật thông tin về doanh nghiệp, theo dõi,
giám sát doanh nghiệp theo các nội dung đã đăng ký trong suet quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài việc đăng bạ, hớng dẫn ngành nghề
kinh doanh theo luật định cho doanh nghiệp..., cơ quan ĐKKD còn cung cấp
thông tin về doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu (Điều 20 Luật
Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - LKD - K43 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status