Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
ĐỀ TÀI : TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HIỆU QUẢ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Mục lục
…………………………………………………………………………….
Nợ công Việt Nam đang là vấn đề dư luận rất quan tâm. nhiều ý kiến cho rằng nợ
công đang có xu hướng gia tăng trong khi thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh
kinh niên. Làm thế nào để kiểm soát và quản lý nợ công trong bối cảnh nền kinh tế
còn trì trệ, nợ công Việt Nam hiện đến mức cao?
Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia.
Nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lý tốt, nếu không thì khủng
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
1
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất cứ thời điểm nào và để lại
những hậu quả nghiêm trọng.
1. Tình hình nợ công ở Việt Nam
Việt Nam mở cửa kinh tế được hơn 25 năm và đã đạt được những bướcphát triển
vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32,7 tỷ
USD năm 2001 lên 102 tỷ USD năm 2010
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh
tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc
nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó,
hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói
chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức
75,7 tỷ USD, tương đương tăng 12%. Khi đó, nợ công bình quân đầu người của Việt
Nam sẽ tăng lên mức hơn 840 USD, nhưng tỷ lệ nợ công/GDP sẽ giảm còn 48,7%.
Biểu đồ 1: Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2001-2010
Nguồn: The Economist Intelligence Unit.
Bảng 1:Thâm hụt Ngân sách và nợ công Việt Nam qua các năm
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
3
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
1.2 Cơ cấu nợ công ở Việt Nam
Theo khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm tất cả
các khoản nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2010 gồm nợ chính phủ chiếm 78,1%, còn
lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong nợ chính phủ,
nợ nước ngoài chiếm 61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1%. Trong nợ nước ngoài, ODA
chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể, năm 2009, nợ công của Việt Nam gồm nợ chính phủ
chiếm 79,2%, nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6% và nợ chính quyền địa
phương chiếm 3,1%; trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 60%,trong đó có 85%
là ODA.
Bảng 2: Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2010
Đơn vị
2006
2007
Nợ chính
%GDP
39,0
33,8
36,5
40,4
44,6
38,9
Nợ chính
% Nợ
85,0
68,0
76,2
79,2
82,1
60,7
60,0
55,4%
61,9
phủ
chính phủ
Nợ nước
% Nợ
ngoài của
chính
chính phủ
phủ
Nợ nước
%
ngoài của
57,5
N/A
củakhu vựccông Công
Nguồn: Bộ Tài Chính, Bản tin nợ nước ngoài số 6
Chú thích: , *: Số liệu 6 tháng đầu năm 2010
-
Cơ cấu nợ nước ngoài trong tổng nợ công của Việt Nam chiếm tỉ trọng lớn và đang
tăng nhanh (Bảng 3), trong khi hiệu quả đầu tư của các dự án sử dụng vốn từ các
khoản nợ lại thấp.
Biểu đồ 2: Cơ cấu dư nợ công giai đoạn 2001-2010 (%)
Dư nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh từ 2001-2010
(Nguồn: Bản tin Nợ nước ngoài số 6 –BTC)
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
6
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
Nợ được Chính phủ bảo lãnh có xu hướng tăng lên, từ 4% tổng dư nợ công năm
2001 lên 10% năm 2005 và 18,6% năm 2010, tương đương khoảng 11,6% GDP
TS.Phạm Văn Hà - Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
1.3 Tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam
Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải
khoản nợ công ngày càngtăng lên với tốc độ chóng mặt với gần 20%/năm; mặt khác,
tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại nhiều bất cập như chậm trễ
trong giải ngân và sự kém hiệu quả trong sử dụng vốn vay vào các dự án đầu tư. Điều
này tác động tiêu cực tới khả năng trả nợ của Việt Nam trong tương lai.
1.4 Tình hình quản lý nợ công
Để đánh giá được hiệu quả quản lý nợ công của Việt Nam, ta sẽ dùng phương pháp
và cơ sở mà Ngân hàng Thế giới (2005) áp dụng đánh giá hiệu quả quản lý nợ công
cũng như tình trạng nợ công của các nước nghèo có tỷ lệ nợ cao (viết tắt là HIPCs).
Các tính toán về hiệu quả quản lý nợ công được trình bày ở bảng 4.
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
8
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
Đánh giá tính ổn định của nợ nước ngoài
Việc đánh giá tính ổn định và mức độ bền vững của nợ công được thực hiện qua
việc đánh giá các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu (NPV/X): Đo lường giá trị hiện tại ròng của nợ
nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu xuất khẩu.
Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 150%.
- Tỷ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): Đo lường giá trị hiện
tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn
thu ngân sách nhà nước. Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 250%.
- Một quốc gia được xem là an toàn nếu như tỷ lệ NPV/X nhỏ hơn 150%; tỷ lệ
NPV/DBR nhỏ hơn 250%. Theo mức ngưỡng của HIPCs, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử
dụng nếu như đáp ứng hai điều kiện: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc
bằng 30%; tỷ lệ thu ngân sách nhà nước/GDP (DBR/GDP) phải lớn hơn 15%.
Qua tính toán, ta thấy từ năm 2004 đến năm 2010, tỷ lệ X/GDP của Việt Nam luôn
Nợ trong nước được đánh giá qua hai chỉ số là Nợ trong nước/GDP và Nợ trong
nước/DBR. Với tỷ lệ Nợ trong nước/GDP nhìn chung luôn ở mức thấp hơn nhưng khá
sát với ngưỡng 20%-25%, tương tự, Nợ trong nước/DBR luôn ở mức thấp hơn nhưng
khá sát với ngưỡng 92% (Bảng 3), do đó, nợ trong nước của Việt Nam được đánh giá
là ổn định.
Bảng 4: Ngưỡng nợ trong nước theo tiêu chuẩn của HIPCs
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
10
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
Nguồn: Ngân hàng thế giới (2005)
Tính công bằng về gánh nặng nợ giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai
Như đã phân tích ở trên, thông qua chỉ số ICOR, ta thấy rằng hiệu quả sử dụng nợ
công và hiệu quả của các dự án đầu tư còn rất thấp. Việt Nam vay nợ để đầu tư và
phát triển kinh tế - xã hội, song hiệu quả đầu tư thấp khiến nguồn thu hồi để trả nợ
trong tương lai từ các dự án này thấp và bị hạn chế. Các khoản vay và chi tiêu hiện tại
của chính phủ không tạo nên nguồn thu hiệu quả trong tương lai; chúng làm tăng sức
ép lên bội chi mới. Hậu quả là, thế hệ tương lai sẽ phải chịu gánh nặng nợ cao hơn thế
hệ hiện tại. Tóm lại, tính công bằng liên thế hệ về gánh nặng nợ ở Việt Nam được
đánh giá là thấp.
Bảng 5: Một số chỉ số đo lường hiệu quả quản lý nợ công của Việt Nam năm
2004 – 2010 theo mức ngưỡng của HIPCs (%)
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
11
(khoảng 8%). Có thể thấy các khoản thu này là không bền vững.
Bảng 6: Thâm hụt ngân sách của Việt nam trong giai đoạn 2006-2011
-
Nguồn thu chính của Chính phủ là từ thuế nhưng cơ cấu thu thuế chỉ chiếm khoảng
40% trong tổng nguồn thu. Cơ cấu tổng chi của Việt Nam cho thấy chi đầu tư phát
triển luôn ở mức cao (quanh 30% tổng chi) nhưng hiệu quả đầu tư rất thấp (thể hiện
qua hệ số ICOR của các doanh nghiệp nhà nước cao hơn nhiều so với doanh nghiệp
-
FDI và tư nhân).
Mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam dựa vào nguồn vốn là chủ yếu. Mà nguồn
vốn lại được sử dụng không tốt đã gây nên sự lãng phí kéo dài.
- Chính phủ trong thời gian qua tăng cường phát hành trái phiếu và vay mượn để đầu tư
do áp lực đàu tư và chi tiêu quá cao. Tỉ lệ tiết kiệm nội địa chỉ đạt khoảng 27%
/GDP, trong khi đó tỉ lệ đầu tư lại luôn trên 40%.Hệ quả dẫn tới lãi suất trái phiếu
-
chính phủ ở mức cao; làm thoái lui đầu tư tư nhân; gây sự bất ổn trên thị trường vốn.
Trong bảng cơ cấu nợ công của Việt nam được công bố bởi IMF cho thấy, mức nợ
nước ngoài chiếm hơn 60% so với nợ trong nước. Nợ nước ngoài cao sẽ tác động lên
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
13
Tuy nhiên tier lệ này gần đây đã giảm do sự tụt giảm của nguồn dự trữ ngoại tệ.
3. Dự báo tình hình nợ công trong thời gian tới
3.1. Nợ công ở Việt Nam theo đánh giá của các nhà kinh tế
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
14
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
Theo các nhà kinh tế quốc tế, tỷ lệ nợ công so với GDP vào khoảng 60% và tỷ lệ
nợ nước ngoài so với GDP khoảng 30% vẫn có thể coi ở ngưỡng an toàn. Đây cũng
là ngưỡng mà các nước thành viên trong Liên hiệp châu Âu ký kết với nhau trong
Hiệp ước Maastricht vào năm 1992. Ở Việt Nam, theo tin từ Bộ Tài chính, tính đến
ngày 31/12/2011, nợ công chiếm 54,6% GDP, trong đó nợ Chính phủ là 43,6%
GDP, còn nợ nước ngoài chiếm 41,5% GDP (tương đương 50 tỷ USD). Tỷ lệ này
vẫn nằm trong phạm vi giới hạn an toàn theo Nghị quyết của Quốc hội (kiểm soát dư
nợ công đến năm 2015 dưới 65% GDP, nợ Chính phủ, nợ quốc gia dưới 50% GDP).
Đánh giá của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF cũng cho rằng quy mô
nợ của Việt Nam gia tăng nhanh trong giai đoạn 2006 - 2010, và tiếp đà tăng này
trong giai đoạn 2011 - 2015. Hầu hết các dự báo đều cho thấy, đến năm 2015, tổng
số nợ công sẽ vào khoảng 60 - 65% GDP. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tới năm
2015, nợ công của Việt Nam sẽ tăng lên 86,2 tỷ USD, nợ nước ngoài cũng tăng
tương ứng từ 41,7 tỷ USD lên 73,8 tỷ USD.
3.2. Dự báo về nợ công theo các chuyên gia kinh tế
Ngày 8/11/2011, Quốc hội đã thông qua nâng trần nợ công đến năm 2015 không
quá 65% GDP, nợ của Chính phủ không quá 50% GDP và nợ quốc gia không quá
50% GDP. Ngày 27/7/2012 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến
lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn
2030.Theo nhiều chuyên gia, điều này cho thấy nhận thức đúng đắn của các nhà
gánh nặng về nợ. Đó là chưa kể hiện nay, cơ cấu huy động vốn vay trong và ngoài
nước của Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng tỷ trọng nợ nước ngoài giảm và tỷ
trọng nợ trong nước tăng lên nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nợ nước ngoài của
quốc gia…
Ngoài ra, điều khiến dư luận lạc quan về khả năng trả nợ của Việt Nam là nguồn
kiều hối đổ về Việt Nam hàng năm. Kiều hối không chỉ là nguồn lực quan trọng cho
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
16
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
nền kinh tế mà còn góp phần đáng kể trong việc trả nợ nước ngoài, bổ sung một
nguồn ngoại tệ ổn định cho Việt Nam trong bối cảnh các nguồn vốn như ODA, FDI,
FII ngày càng khó. Ước tính trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2011, lượng kiều hối
đã tăng lên 8 lần (từ mức 1,2 tỉ USD lên 9 tỷ USD) Năm 2010, với con số 8,26 tỷ
USD, Việt Nam xếp hạng 9 trong số các quốc gia đang phát triển về nhận kiều hối.
Năm 2011, kiều hối Việt Nam đạt mức kỷ lục 9 tỷ USD, bù đắp được 92% cán cân
thương mại. Trong năm 2012, dù kiều hối được dự báo sẽ giảm mạnh do kinh tế
toàn cầu khó khăn, song chắc chắn đây vẫn là nguồn lực đáng kể góp phần trả nợ
nước ngoài.
Hơn nữa, kỳ vọng từ Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai
đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030 do Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt cũng
khiến dư luận yên tâm hơn về tình hình nợ công của Việt Nam. Nhiều chuyên gia
cho rằng, điều này cho thấy nhận thức đúng đắn của Chính phủ về vấn đề nợ công
và kiểm soát nợ công. Theo chiến lược này, từng bước giảm dần nợ công, đến năm
2030 nợ công không quá 60% GDP, trong đó nợ Chính phủ không quá 50% GDP và
nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP. Chiến lược nợ công và nợ nước
ngoài cũng khẳng định sẽ gắn với việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, không để
quả sử dụng và thanh toán nợ đến hạn, giữ vững uy tín quốc gia trong thanh toán
nợ, đảm bảo an ninh tài chính đối với các khoản nợ công và đặc biệt là hạn chế
các rủi ro liên quan đến nợ công, thì chúng ta cần có những giải pháp thực sự kiên
quyết và đồng bộ. Cụ thể là:
a)
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động vay, sử dụng vốn vay
và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia
Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thống nhất trên cơ sở
Luật quản lý nợ công, đồng bộ đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát và phù hợp
với thông lệ quản lý nợ quốc tế gồm: Nghị định hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nợ
công; Nghị định về cho vay lại; Nghị định về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ; Nghị
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
18
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
định về phát hành trái phiếu chính phủ; Quyết định của Thủ tướng chính phủ về quỹ
tích luỹ trả nợ. Trên cơ sở, từng bước thống nhất các nguyên tắc quản lý nợ trong và
ngoài nước.
Để nội dung của Luật được hoàn thiện, cần làm rõ và bổ sung những nội dung sau:
-
Về phạm vi điều chỉnh, để đảm bảo tính thống nhất, tính bao quát của
Luật và phù hợp với thông lệ quốc tế, nên đưa doanh nghiệp Nhà nước thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật này (Điều 10).
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
19
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
cần quy định như thế nào trong trường hợp thiên tai hay những yếu tố ngẫu
nhiên nào đó gây ra làm cho chính quyền địa phương không đủ khả năng để
chi trả nợ. Cần quy định cụ thể cách xử lý, hình phạt cho những chính quyền
địa phương làm mất cân đối, sử dụng vốn vay sai mục đích.
Về đối tượng bảo lãnh, cần xem xét quy định kỹ lưỡng các đối tượng được
-
bảo lãnh và trong trường hợp nào thì Nhà nước bảo lãnh, làm như vậy thì
hiệu quả của việc vay nợ công sẽ tốt hơn.
Việc công bố công khai các thông tin về tình hình vay nợ. Dự thảo Luật hiện
-
cần làm rõ những vấn đề như thời gian công bố công khai và nội dung các
thông tin công bố công khai. Việc công khai, minh bạch nhằm tăng
cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các khoản nợ công và trách
nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công. Để thực hiện tốt nguyên
tắc quan trọng đó, nợ công cần phải được tính toán, xác định đầy đủ trong
quyết toán ngân sách Nhà nước và phải được cơ quan chuyên môn độc lập
kiểm tra, xác nhận.
b)
Nâng cao hiệu quả, tăng cường kiểm soát huy động và sử dụng vốn vay
kinh tế, tổng công ty Nhà nước, ngân hàng thương mại, các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng.
-
Vay cho cân đối ngân sách Nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ, đảm
bảo mức bội chi trong giới hạn Quốc hội, Chính phủ phê duyệt hàng năm.
Tập trung chủ yếu vào nguồn vốn vay ưu đãi, không vay thương mại nước
ngoài hoặc các khoản vay ngắn hạn, có lãi suất cao để sử dụng cho chi tiêu
thường xuyên của NSNN.
-
Kiểm soát chặt chẽ các khoản vay về cho vay lại và các khoản vay
được Chính phủ bảo lãnh. Chính phủ vay về cho vay lại và bảo lãnh vay là
các hoạt động thường phát sinh khi doanh nghiệp cần huy động một
lượng vốn lớn trên thị trường quốc tế, nhưng không đủ uy tín để tự
mình đứng ra vay nợ. Khi đó, Chính phủ có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận
được với các nguồn vốn quốc tế với quy mô lớn, lãi suất thấp. Các khoản
vay và bảo lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy
sinh nguy cơ ngân sách Nhà nước phải trang trải các khoản nợ của khu
vực doanh nghiệp trong tương lai, khi doanh nghiệp khó khăn hoặc mất
khả năng thanh toán. Nguy cơ này sẽ ngày càng cao hơn nữa khi Chính
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
21
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
phủ vay và phát hành bảo lãnh không dựa trên những phân tích thận trọng
cơ cấu nợ và cho vay lại hoặc vay để tào trợ cho các chương trình, dự án đầu
tư quan trọng, hiệu quả; vay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
22
Nợ công ở Việt Nam và giải pháp quản lý hiệu quả
huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo từng đối tượng vay trong
nước và ngoài nước, với hình thức vốn huy động vốn và lãi suất thích hợp. Kế
hoạch chiến lược về vay nợ công cũng cần chỉ rõ đối tượng sử dụng các khoản
vay, hiệu quả dự kiến. Xác định chính xác thời điểm vay, số vốn vay
từng giai đoạn, tránh tình trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian
dài hoặc chưa thực sự có nhu cầu sử dụng.
-
Chính sách vay nợ của Nhà nước phải lành mạnh hoá nền tài chính tiền
tệ quốc gia, góp phần ổn định giá trị đồng nội tệ; mở rộng các hoạt động đầu
tư theo định hướng của Nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư; góp phần
kiến tạo một thị trường tài chính năng động.
-
Bộ tài chính cần nghiên cứu và thiết lập các chỉ số, ngưỡng nợ ở mức an toàn
cụ thể và phù hợp với thông lệ quốc tế để không chỉ Chính phủ mà người dân
cũng có thể kiểm tra, giám sát và đánh giá được tình hình nợ quốc gia. Chính
phủ và Bộ tài chính cần tổ chức thực hiện thanh toán trả nợ, đảm bảo trả nợ
đầy đủ, đúng hạn, không để phát sinh nợ quá hạn làm ảnh hưởng đến các cam
kết quốc tế.
Cần phải tích cực đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, quyết toán,
việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay để đảm bảo hiệu quả đầu
tư.
-
Nguồn vay thương mại nước ngoài của các doanh nghiệp theo cơ chế tự vay tự trả
phải được kiểm soát chặt chẽ hơn trước. Thường xuyên phân tích và đánh giá
danh mục nợ, đặc biệt là các nghĩa vụ nợ bất thường nhằm mục tiêu duy trì dài
hạn tình trạng nợ ổn định và bền vững.
e)
Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nợ, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản
lý nợ
-
Chính phủ cần nghiên cứu đề xuất mô hình đổi mới tổ chức quản lý nợ theo
hướng hiện đại và từng bước củng cố và phát huy vai trò cơ quan quản lý nợ
thống nhất quản lý nợ trong nước và ngoài nước. Ngoài ra, tiếp tục điều chỉnh
và sắp xếp lại một cách hợp lý cơ cấu tổ chức quản lý nợ trên cơ sở chức năng
nhiệm vụ được giao, đảm bảo sự phân công đúng người, đúng việc, tránh
chồng chéo, trùng lặp. Cần trang bị đầy đủ, hiện đại hóa công nghệ thông tin
trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích cơ cấu nợ.
-
của Nhà nước đánh giá toàn diện về nợ công, phân tích số liệu gốc, các nguyên nhân
chủ quan, khách quan, đề xuất các giải pháp khắc phục trước mắt cũng như lâu dài.
Phải tiên lượng trước các vấn đề có thể nảy sinh khi tính toán nợ công. Đó là
lạm phát, tài sản đầu tư, các khoản nợ không tính được và chu kỳ kinh doanh. Dự
đoán và tính toán đúng các yếu tố này sẽ giúp đưa ra được khoản nợ công thực và
giảm thiểu các đe dọa từ nợ công.
Nhóm 1 – Lớp K14 – FIN01A-05
25