Vấn đề an sinh xã hội và những thành tựu đạt được trong giai đoạn hiện nay ở việt nam - Pdf 21

A-PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề An sinh xã hội (ASXH) đang là vấn
đề thu hút quan tâm của toàn xã hội. Sau hơn 25 năm đổi mới và phát triển,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng đất nước. Mặc dù
vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường cũng xuất hiện những mặt tiêu cực tác động đến đời sống xã
hội. Trong đó, vấn đề ASXH cần được quan tâm hơn cả. Hàng loạt các vấn
đề về ASXH nảy sinh ở các lĩnh vực đời sống, đặc biệt trong các lĩnh vực
Bảo hiểm y tế (BHYT) và ASXH cho người nghèo và những nhóm dân cư
bị thiệt thòi như trẻ em, người già, dân di cư, người khuyết tật.
Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) còn thấp (khoảng
15%). Phần lớn nông dân, lao động tự do và các đối tượng khác trong khu
vực phi chính thức chưa được tham gia BHYT hoặc người dân không muốn
tham gia BHYT do chất lượng khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT chưa
tốt. Hệ thống chính sách trợ giúp đặc biệt (người có công) quá phức tạp,
nhiều chế độ, rất khó quản lý từ khâu giám định, xét duyệt đến chi trả trợ
cấp. Công tác xoá đói giảm nghèo chưa bền vững; nguy cơ tái nghèo cao
nhất là ở vùng thường xuyên bị thiên tai, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn; một số chính sách bao cấp kéo dài, chậm được sửa đổi, bổ sung;
việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng còn hạn chế; khoảng
cách thu nhập và mức sống giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo, giữa các
vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn vẫn có xu hướng gia tăng.
Việt Nam đã thành công trong nỗ lực giảm tỷ lệ nghèo từ hơn 60%
năm 1990 xuống còn 18,1% năm 2004 (theo chuẩn cũ), năm 2008 còn 13%
(theo chuẩn mới) phần lớn nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với mức tăng
bình quân 8 - 9% mỗi năm. Duy trì được đà tăng trưởng kinh tế hiện nay là
1
1
2
3

các vùng đô thị được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách, tăng
trưởng kinh tế và hệ thống ASXH, thì tình trạng nghèo vẫn giai dẳng ở
nhiều vùng nông thôn Việt Nam và ở mức độ cao. Cùng với việc nỗ lực
trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự
tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm
nghèo. Cùng với đà tăng trưởng kinh tế, điều hết sức quan trọng là phải tạo
ra các mạng lưới ASXH nhằm giúp các nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất
khỏi bị đẩy trở lại tình trạng nghèo đói do yếu sức khoẻ, tàn tật hay chi phí
giáo dục gia tăng cho con em họ.
ASXH là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta,
giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội đã được nhấn mạnh
trong các kỳ đại hội Đảng, đặc biệt tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
(Năm 2001) thì Đảng đã đề ra chính sách: “Khẩn trương mở rộng hệ thống
BHXH và ASXH. Sớm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với
người lao động. Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cho cuộc
sống của các thành viên cộng đồng, bao gồm BHXH đối với người lao động
thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xã hội đối với người gặp rủi ro, bất
hạnh, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia
các hoạt động đền ơn đáp nghĩa”.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trong thời
kỳ đổi mới của nước ta hiện nay, đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống ASXH
toàn diện theo hướng đảm bảo hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công
2
1
2
3
4
5
6
7

2.Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu hệ thống hóa một số kiến thức
chung về vấn đề ASXH. Thực trạng ,thành quả hệ thống ASXH ở Việt Nam
và một số giải pháp nâng chất lượng ASXH.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng chính của đề tài là: Nghiên cứu những kiến thức tổng quan
về ASXH, thực trạng và các thành quả của hệ thống ASXH ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao chất
lượng ASXH ở nước nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta.
b. Phạm vi nghiên cứu :
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về Vấn đề ASXH và các thành quả
đạt được ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính
sách của Đảng, các quy định của nhà nước về luật ASXH. Đề tài nghiên cứu
3
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
1
NỘI DUNG
Chương 1: Lí luận chung về vấn đề An sinh xã hội
1.1.Tổng quan về An sinh xã hội
1.1.1. Quá trình hình thành và ý nghĩa của An sinh xã hội

8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
1
đảm nhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro xảy ra. Đây là một trong những việc
làm cần thiết buộc giới chủ phải quan tâm xem xét tạo điều kiện cho người
lao động ổn định cuộc sống. Một trong các hình thức hạn chế những rủi ro
do ốm đau, do tuổi già, do mất việc làm, do bị tai nạn phải kể đến việc thành
lập quỹ bảo hiểm ốm đau và hệ thống BHXH tại Đức từ năm 1883 đến năm
1889 dưới thời thủ tướng Bismark.
Mô hình BHXH của Đức đã phát triển và lan sang các nước khác như
Mỹ, Canada, một số nước ở Châu Phi, Châu Á và vịnh Caribe. Ngoài ra một
số quốc gia khác trên cơ sở hệ thống BHXH này đã ban hành một số đạo
luật riêng điều chỉnh về các lĩnh vực khác như bảo hiểm thất nghiệp ,bảo

14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
1
triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro,
bất trắc trong cuộc sống .
ASXH vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có giá trị về mặt xã hội,
đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc
.ASXHcó các ý nghĩa cụ thể sau :
ASXH lấy con người làm trung tâm, coi trọng quyền con người, bảo
vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra. Con người vừa là động lực của
sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội. Trong Tuyên
ngôn về nhân quyền do Liên hợp quốc thông qua ngày 10.12.1948 đã khẳng
định : “Tất cả mọi người ,với tư cách là thành viên xã hội có quyền hưởng
bảo đảm xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh
tế ,xã hội và văn hóa cần cho sự tự do phát triển con người”.
ASXH vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối tượng
đặc biệt có cơ hội để phát huy hết các thế mạnh của cá nhân đồng thời thể
hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hòa
nhập vào cộng đồng.

19
20
21
22
23
24
25
26
27
1
ASXH được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cá
nhân, đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu
ích để phát triển tài năng đến tột độ .
Thuật ngữ ASXH cũng được Tổ chức lao động quốc tế ILO ghi nhận:
“ ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua
một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế
và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo
các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.”
ASXH là một vấn đề phong phú, phức tạp, là một “khái niệm mở” nên
có thể hiểu theo hai nghĩa : nghĩa rộng và nghĩa hẹp .
Theo nghĩa rộng, ASXH bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của con
người. Đó là các quan hệ hình thành trong các lĩnh vực nhằm ổn định đời
sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn
định, phát triển và tiến bộ xã hội. Theo nghĩa này, ASXH có thể bao gồm
các nhóm quan hệ sau :
Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp .
Nhóm quan hệ trong lĩnh vực căm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe
nhândân…
Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình.

23
24
25
26
27
1
nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ thai sản, về già
cũng như các trường hợp bị thiên tai, địch họa. Đồng thời, xã hội cũng ưu
đãi những thành viên của mình đã có hành động xả thân vì nước, vì dân, có
những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Theo nghĩa này, an sinh xã hội bao gồm ba nhóm quan hệ chủ yếu
sau:
Nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội.
Nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội .
Nhóm các quan hệ ưu đãi xã hội .
Ở Việt Nam ,thuật ngữ “an sinh xã hội” được tiếp cận dưới nhiều tên
gọi khác nhau như: Bảo trợ xã hội, bảo tồn xã hội, bảo đảm xã hội, trật tự an
toàn xã hội. Có quan điểm cho rằng ASXH trước hết là sự bảo vệ của xã hội
đối với các thành viên của mình nhờ một loạt các biện pháp công cộng
nhằm giúp đỡ chống lại sự thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải do
mất đi hoặc giảm quá nhiều nguồn thu nhập bởi nhiều nguyên nhân khác
nhau. ASXH còn thể hiện sự giúp đỡ, chăm sóc về văn hóa, y tế và trợ giúp
cho các gia đình góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Có thể nói
“Khái niệm ASXH được hiểu một cách chung nhất đó là sự bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động và gia đình khi họ bị ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất hoặc có các sự kiện
pháp lí khác, cho người có công với cách mạng; cho những người già cô
đơn không nơi nương tựa, cho trẻ mồ côi, cho người tàn tật, cho những
người gặp hoàn cảnh khó khăn, gặp thiên tai, dịch bệnh và cho những
người nghèo đói trong xã hội.

Nhà nước có trách nhiệm trong việc tổ chức các biện pháp bảo đảm
xã hội đối với các đối tượng bị giảm hoặc bị mất thu nhập .
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lí điều
chỉnh các hoạt động của ASXH.
Nhà nước thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của ASXH.
Nhà nước tăng cường công tác thanh tra, phát hiện và xử lí nghiêm
minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về ASXH.
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện hoạt động ASXH
trong phạm vi cả nước .
b. Phải bảo đảm xã hội cho mọi người bị giảm hoặc bị mất khả năng
lao động dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập, do bị mất việc làm, do gặp
thiên tai, hỏa hoạn hoặc các rủi ro khác.
c. Thực hiện ASXH trên cơ sở sự đóng góp của các bên và sự trợ giúp
của xã hội, sự chia sẻ của cộng đồng.
d. Mức ASXH nhằm trợ giúp và bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho những
người thụ hưởng.
e. Hoạt động ASXH được thực hiện trên cơ sở mức đóng góp của các
bên, sự trợ giúp của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự
bảo trợ của nhà nước.
1.1.3. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh xã hội
Theo khái niệm ASXH ở trên, có thể thấy: “ ASXH trước hết đó là sự
bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình. Sự bảo vệ này được
thực hiện thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích của sự bảo vệ này
nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “ rủi
ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập…”
10
1
2
3
4

của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho
tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc
bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình
do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi
chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn
gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm
và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức,
phương thức và các biện pháp khác nhau.
Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm
thay thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là
“Những chuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân
phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người
“ Yếu thế” hơn (hiểu một cách tương đối, biện chứng nhất – TG) trong cộng
đồng xã hội.
Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ
cho các thành viên của xã hội trước mọi “Biến cố xã hội” bất lợi.
11
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

tương thân tương ái của cộng đồng.
Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những
nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ
những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con
người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
12
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
1

5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
1
Tạo lập nên quỹ tiền tệ tập trung trong XH để phân phối lại cho
những người không may gặp phải những hoàn cảnh éo le.
Gắn kết các thành viên trong cộng đồng XH để phòng ngừa, giảm
thiểu và chia sẻ rủi ro đối phó với những hiểm họa xảy ra do các nguyên
nhân khác nhau giúp cho cuộc sống ổn định và an toàn.
Đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội ở mức tối thiểu về
thu nhập, dịch vụ y tế và xã hội để cho phép họ sống một cuộc sống xã hội
có ý nghĩa.

17
18
19
20
21
1
Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận
cơ bản là:
Bảo hiểm xã hội.
Trợ giúp xã hội.
Trợ cấp gia đình.
Các quỹ tiết kiệm xã hội.
Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…
1.1.5.1.Bảo hiểm xã hội (BHXH)
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có
BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH ra đời và phát
triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm
bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ
trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm
hoặc mất thu nhập. Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề,
khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần
đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH. Khi đề cập đến vấn đề
chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là
BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo
nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE. Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có
nghĩa là hai thuật ngữ này là một. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu
BHXH là “ sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người
lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất
hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành
15

khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ
được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của
những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và
người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt
buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ
được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ
BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không
liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức
hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
1.1.5.2.Trợ giúp xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện
sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những
trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được
cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.
Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền
hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp
đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm
hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng.
16
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi
sự cố xảy ra. Đóng góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những
quy định.
Từng cá nhân nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời,
không chia sẻ rủi ro cho người khác…
17
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
1
1.1.5.5.Dịch vụ xã hội khác
Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức khác.

10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
1
Mô hình đóng góp: Thụ hưởng phụ thuộc vào tài sản có trong tài
khoản hưu trí cá nhân.
Mô hình tự nguyện hoặc bán tự nguyện: Có thể do Chính phủ hoặc
tư nhân quản lý, mức độ thụ hưởng và đóng góp được xác định theo cách
thức chung.
Ngoài ra, còn có một số mô hình đặc thù Nhà nước bao cấp toàn bộ
theo nguyên tắc bình quân như của Liên Xô và một số nước Xã hội chủ
nghĩa trước đây. Mô hình của Mỹ xác định sự thụ hưởng dựa trên nguyên
tắc có đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Mô hình này là sự “pha trộn”
giữa mô hình công cộng và mô hình tự nguyện với việc huy động sự quan
tâm của toàn xã hội theo nguyên tắc bảo hiểm (lấy số đông bù số ít).
1.2.2.Về cơ chế tài chính của hệ thống an sinh xã hội:
Mức đóng góp và chi trả là nội dung rất quan trọng trong việc đảm
bảo sự thành công của tất cả các mô hình an sinh xã hội. Nguyên tắc chung
là: sự thụ hưởng trong tương lai phụ thuộc vào những đóng góp ở hiện tại.
Tuy nhiên, những biến động khó dự đoán của lãi suất, lạm phát đã tác động,

22
23
24
1
bền vững và hiệu quả, đó là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, tuổi thọ ngày càng
tăng, tỷ lệ số người làm việc trên số không làm việc có xu hướng giảm…
làm cho việc đảm bảo nguồn chi trả trong tương lai khó bền vững.
Mặt khác, để đảm bảo cho hệ thống an sinh xã hội hoạt động ổn định
thì phải có nguồn thu ổn định, được luật hóa hoặc có khế ước chặt chẽ. Nếu
hệ thống an sinh chỉ dựa vào những đóng góp của cộng đồng, các chương
trình tài trợ… sẽ không đảm bảo các khoản chi tương đối lớn và ổn định.
Trong sự phát triển hệ thống an sinh xã hội, nổi lên một số xu hướng chủ
yếu:
Thứ nhất, xã hội hóa công tác an sinh xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu
như Altig David, John Baldock, Barnhart, Reder Harris, Jonh Sabelhaus,
Michael Simpson chỉ ra rằng các khoản đóng góp hiện tại mặc dù là cơ sở
cho thu nhập trong tương lai nhưng giá trị nhận được của đối tượng an sinh
xã hội thường thấp hơn những gì mà cá nhân đó đóng góp. Nguyên nhân
được các tác giả phân tích do thiếu cơ chế quản lý tài chính phù hợp và họ
đề xuất quản lý theo nguyên tắc bảo hiểm, Nhà nước tạo lập hành lang pháp
lý, việc thu và quản lý những đóng góp của người lao động sẽ do các công
ty chuyên ngành đảm nhận. Các công ty này sẽ sử dụng số tiền đó để kinh
doanh, sinh lời như các công ty bảo hiểm hiện nay và thực hiện chi trả trong
tương lai nhằm đảm bảo lợi ích (số tiền sinh lời) của những người tham gia.
Tất nhiên, nhóm đối tượng không đóng góp trong hiện tại (tàn tật, mất khả
năng lao động…) sẽ có cơ chế chi trả riêng, có thể do Nhà nước đảm nhận
hoặc Nhà nước ban hành những quy định cụ thể để các công ty hoạt động
trong lĩnh vực này đảm nhận chi trả theo một tỷ lệ và nguyên tắc phù hợp.
20
1

tốt đối với những người không có khả năng đóng góp. Xuất phát từ thực tiễn
hoạt động của hệ thống an sinh ở một số quốc gia, nhóm những người phản
đối lại cho rằng hệ thống an sinh xã hội cần được điều hành bởi Chính phủ
vì việc đảm bảo quyền lợi của bộ phận dân cư nghỉ hưu hoặc những người
không có khả năng lao động, vị “Thiệt thòi” là trách nhiệm của nhà nước.
Bên cạnh đó, chỉ có nhà nước mới đảm bảo tính ổn định, bao quát và công
bằng đối với tất cả các cư dân của mình, đồng thời đảm bảo về mặt tài chính
- nhân tố quan trọng cho hệ thống ASXH tồn tại.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vai trò của hệ thống ASXH
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta ngày càng to lớn.
ASXH góp phần ổn định đời sống của người lao động. Hệ thống ASXH sẽ
góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm
đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết…
Hệ thống ASXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt
đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và
đang phấn đấu, đó là xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.3. Hệ thống các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
21
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Về Đối tượng tham gia: Người lao động làm công ăn lương và người
lao động tự do.
22
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
1
Về Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội: Do người sử dụng lao
động đóng góp, người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình,
nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
1.3.2. Bảo hiểm y tế.
1.3.2.1. Khái niệm:
Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm
sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám
chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh .

17
18
19
20
21
1
bảo được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên
cuộc sống bình thường .
1.3.3.2. Đặc điểm :
Về đối tượng của cứu trợ xã hội: Là người nghèo và hộ gia đình
nghèo ,người già cô đơn ,trẻ em mồ côi ,người tàn tật ,nhiễm HIV/AIDS ;
nạn nhân của thảm họa thiên tai,lũ lụt ,hạn hán …
Về hình thức cứu trợ xã hội :
Theo mức cứu trợ gồm : Cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất .
Theo hình thức cứu trợ gồm: Cứu trợ bằng tiền và cứu trợ bằng hiện
vật.
Về nguồn tài chính cứu trợ xã hội : Ngân sách nhà nước là chủ yếu,
Từ trong nhân dân, các tổ chức đoàn thể (Hội người mù, Hội người
cao tuổi, Làng trẻ mồ côi SOS, viện dưỡng lão…)
Từ sự trợ giúp quốc tế.
1.3.4. Ưu đãi xã hội
1.3.4.1. Khái niệm :
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về thể chất và tinh thần của Nhà
nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với những cá nhân,
tập thể có cống hiến đặc biệt cho cộng đồng xã hội.
1.3.4.2. Đặc điểm
24
1
2
3

phí…)
Về Nguồn tài chính: Ngân sách nhà nước là chủ yếu ; sự đóng góp
của các tổ chức Kinh tế-xã hội, cá nhân .
1.4. Mối quan hệ giữa an sinh xã hội với phát triển kinh tế
ASXH là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến nền kinh tế của
mỗi quốc gia, nhất là khi quy mô và diện bảo vệ của ASXH ngày càng được
mở rộng.
Qua các thời kì lịch sử, Việt Nam luôn coi ASXH là phương sách
quan trọng nhất trong duy trì sự ổn định và phát triển đất nước. Tuy nhiên
25
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status