Mục lục
Lời mở đầu ………………………………………………………………………1
I .Một số vấn đề cơ bản
1) Lí luận nguồn nhân lực……………………………………………………….2
2) Số lượng và chất lượng……………………………………………………….2
II. Vai trò của nguồn nhân lực………………………………………………….4
III. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân
lực………………………………………………………………………………..9
_Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta ………………………………………...9
+) Lợi thế………………………………………………………………………...9
+) Hạn chế……………………………………………………………………….10
IV) Một số giải pháp nhằm giải quyết và khai thác hợp lí vấn đề nguồn nhân lực
1) Về giáo dục đào tạo……………………………………………………………13
2) Tăng cường chặc chẽ sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp……14
3) Thu hút nguồn chất xám và tạo thêm việc làm………………………………14
4) Phát triển con người 1 cách toàn diện……………………………………….15
Kết luận…………………………………………………………………………..15
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….16
1
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta là 1 đất nước nghèo, 1 đất nước đang ở trình độ phát triển thấp.
Chúng ta biết điều đó và quyết không cam chịu để sự thấp kém đó tồn tại mãi.
Đảng và nhà nước đã đề ra những chiến lược lâu dài về phát triển kinh tế xã hội
nhằm khắc phục điều đó.Đó là quyết tâm ra sức phấn đấu xây dựng đất nước ta trở
thành 1 nước công nghiệp hiện đại,xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.Xuất phát từ thực tế của đất nước trước và sau đổi mới
cũng như nắm bắt được xu hướng đầu tư,phát triển của các nước trên thế giới,từ
đại hội Đảng lần thứ VI đến nay,Đảng đã nhận thức được 1 cách đầy đủ hơn về vai
lượng.Số lượng nguồn lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung
cấp lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội.Dân số, tốc độ tăng dân
số,tuổi thọ bình quân,cấu trúc của dân số,số dân ở độ tuổi lao động… là những chỉ
số về số lượng của nguồn lực con người của 1 quốc gia.Qui mô dân số càng lớn,
tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng
lớn và ngược lại. Tuy nhiên mối quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực được biểu
hiện sau 1 thời gian nhất định (vì lúc đó con người muốn phát triển đầy đủ ,mới có
khả năng lao động.Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế- xã hội. Số lượng nguồn lực con người không tương xứng với sự
phát triển(thừa hoặc thiếu) sẽ có tác động không tốt đối với sự phát triển kinh tế xã
hội. Đối với một nước, nhất là đối với các nước đang phát triển thường có tỉnh
trạng thừa nhân lực ,thừa lao động(Việt Nam là 1 ví dụ) ,vấn đề việc làm trở thành
vấn đề được quan tâm hàng đầu trong toàn xã hội.Nạn thiếu việc làm gây ra nhiều
hậu quả và là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.
3
Điều này hoàn toàn trái lại ở những nước có tốc độ phát triển cao có nhu cầu lớn về
lao động đặc biệt là lao động có tính chất thời vụ,lao động không cần tay nghề cao
với mức lương thấp hoặc lao động trong những ngành nghề mà bản thân lao động
trong nước không muốn làm. Điều đó buộc các nước phát triển phải nhập khẩu lao
động từ các nước khác đặc biệt là các nước đang phát triển,cũng là cơ hội cho các
nước đang phát triển giải quyết 1 phần nào vấn đề việc làm trong nước.
Yếu tố nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng mà còn xét đến
yếu tố chất lượng. Đấy mới chính là yếu tố quan trọng nhất của nguồn lực con
người,cũng là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội,cũng như sự nghiệp
công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước. Chất lượng là một tổng thể những thứ
sau :thể lực,trí lực,kĩ năng làm việc,tay nghề,phẩm chất ,thái độ và phong cách làm
việc…Ngoài ra khi xem xét nguồn nhân lực,cơ cấu của lao động bao gồm cả cơ cấu
đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng. Người ta nói đến
để sản sinh ra mọi của cải vật chất. Lao động trong sự kết hợp với giới tự nhiên,cái
cung cấp những vật liệu cho lao động mới tạo ra mọi của cải vật chất.Chính vì vậy
nói nguồn lực con người có vai trò quan trọng quyết định , điều đó không có nghĩa
là tách nguồn lực con người biệt lập với nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác.
Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.Bởi lẽ đó , vai trò của nguồn lực con
người được thể hiện với tư cách vừa là chủ thể,vừa là khách thể của các quá trình
kinh tế xã hội. Nguồn lực con người trong quan hệ với nguồn lực tự nhiên và các
nguồn lực khác nổi bật lên với tư cách là chủ thể của sự khai thác,sử dụng.Nguồn
lực tự nhiên và các nguồn lực khác không thể trở thành động lực cùa sự phát triển
kinh tế- xã hội vì bản thân chúng không tham gia trực tiếp vào quá trình này. Chỉ có
con người mới là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác và sử dụng nguồn
5
lực tự nhiên và các nguồn lực khác. Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực đó 1
cách hiệu quả sẽ làm tăng sức mạnh đáng kể cho nguồn lực con người. Điều này
thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa các nguồn lực.Đảng ta đã khẳng định : “ Xây
dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa,vì xã hội công bằng,văn
minh, và con người phát triển toàn diện.Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời
là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố phải gắn kết chặt chẽ với đời
sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị,kinh tế,luật pháp,kỉ
cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển.”
Với tư cách là chủ thể , con người không chỉ quyết định hiệu quả của
việc khai thác,sử dụng các nguồn lực tự nhiên và có nguồn lực khác hiện có, mà
còn tạo ra nguồn lực mới góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững trong
tương lai.
Với tư cách là khách thể, con người lại trở thành đối tượng của sự khai
thác,sử dụng,đầu tư và phát triển. Khi nói đến vai trò của nguồn lực con người với
tư cách đối tượng của sự khai thác,sử dụng,người ta nói đến tính chất không bao
giờ cạn kiệt của nguồn lực con người. Mãi cho tới vài thập kỉ gần đây, các nhà kinh
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Từ xưa Bác Hồ đã nhìn ra tầm quan trọng của việc giáo dục
“Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cuơng quốc năm châu được hay không,
chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”(Trích Thư của Bác Hồ gửi
học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên)
7
Nhờ có sự đầu tư đúng đắn cho phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ
sau một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.
Nước ta trong giai đoạn hiện nay đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện
đại hóa đất nước .Nước ta tiến hành sau các nước phát triển vì thế thế chúng ta có
thể tiếp thu,học hỏi những bài học, những kinh nghiệm của các nước phát triển
trong khu vực.Điều đó vô cùng bổ ích với nước ta.
Việt Nam là nước đang phát triển có lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, nền
kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm khá mới mẻ.Do vậy, có một số ý kiến
cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá xa và không hiện thực;
cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá để làm tiền
đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ bao gồm các
ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành truyền thống
được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao.Ngay trong giai đoạn này, để phát triển
và theo kịp các nước trên thế giới, chúng ta phải đồng thời phải quan tâm tới những
lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận.
Đối với Việt Nam, một đất nước đi lên từ nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không
thể và không nên xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công
nghiệp phát triển.Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con người. Mặt khác do
xuất phát điểm của lực lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở
Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế ngày càng được khẳng
định trong tất cả các quốc gia trên thế giới.Ở nước ta,nguồn nhân lực lại càng được
nhấn mạnh và được xem như yếu tố nội lực quan trọng nhất để xây dựng đất
nước.Các nguồn lực khác của Việt Nam như nguồn lực tự nhiên về nguồn lực này
Việt Nam không thật sự giàu có,lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh ,vì thế
để thực hiện thành công công nghiệp hóa ,hiện đại hóa không có cách nào khác là
phải phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò của nguồn lực con người.Tuy nhiên sức
9
mạnh này lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó giáo dục có vai trò
quyết định hàng đầu.
III. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn
nhân lực
_Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta
+) Lợi thế
Nước ta có quy mô dân số lớn, xếp thứ 12 trên thế giới; có nguồn lao
động rất dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động trẻ ở nhóm tuối từ 16 - 35 (chiếm
65,2% trong dân số).Đây là yếu tố rất quan trọng về mặt số lượng trong cơ cấu,là
điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa ,hiện đại hóa ở Việt Nam.
Tỷ lệ dân số biết chữ chiếm khoảng 90%, riêng lực lượng lao động biết
chữ chiếm khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Ngân sách nhà nước chi cho giáo
dục và đào tạo năm 1998 gần đạt 15% và bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho
giáo dục, đào tạo là 15% trong giai đoạn 1998 – 2000.
Tỷ lệ lao động được đào tạo trong tổng lực lượng lao động xã hội tăng lên hàng
năm được thể hiện qua bảng sau:
Năm
1988
1992
1995
nay.Lao động nước ta còn hạn chế về thể lực,sự phát triển về thể lực và sinh lí
dường như còn chững lại. Bảng sau đây sẽ giúp ta có nhìn cụ thể hơn về vấn đề này
Bảng: một số chỉ tiêu về sức khoẻ, y tế của các nước ASEAN.
Chỉ tiêu
Thời gian
Việt Nam
Brunâ
Inđônêxi
Malaixia
Philippin
Thái Lan
Xingapo
y
Tuổi
thọ
bình
quân
112
124
108
00
44
thiểu(%)
Tỷ lệ được dịch
1985-
90
96
80
90
75
70
100
1992
1988-
so
74
2860
7
10
1
1
với nhu cầu tối
Nguồn: chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người. NXB Thống Kê. Hà Nội 1995.
11
Qua bảng trên ta thấy: các chỉ số của Việt Nam luôn luôn ở mức thấp, có
những chỉ số ở mức thấp nhất trong khu vực. Những chỉ tiêu liên quan và ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, thể lực của người lao động Việt Nam rất
thấp: Cung cấp cao bình quân đầu người chỉ có 2220 calo, thấp nhất trong khu vực.
Về tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người so với nhu cầu bình quân tối thiểu, Việt
Nam chỉ cao hơn Thái Lan (100%), Inđônêxa (122%), Xingapo (144%), Philippin
lao động các nước Asean tự do làm việc ở nước ngoài . Đó là vừa là thời cơ,vừa là
thách thức với chính nguồn nhân lực trong nước. Vì không chỉ cạnh tranh việc làm
với lao động trong nước mà còn với nước ngoài.Nếu ta biết tận dụng thì kinh tế sẽ
có bước phát triển nhanh nếu không ta sẽ tụt lùi lại. Thật đúng là “con dao hai
lưỡi”. Đại bộ phận lao động nước ta chưa được đào tạo đầy đủ,số người được đào
tạo mới chỉ chiếm 10% nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động cán bộ có tay
nghề và trình độ kĩ thuật nghiệp vụ cao trong tổng số người lao động chỉ hơn
1,65%,có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 30%,50% chưa tốt nghiệp trung học cơ
sở. Một vấn đề không kém phần nhức nhối số người học vấn cao thì giảm thì số
sinh viên đại học, cao đẳng không tìm được việc làm lại tăng lên
Về mặt nhà nước cấu trúc đào tạo nguồn nhân lực nước ta không hợp lý cả về
cơ cấu các loại lao động và cơ cấu đầu tư ngân sách giữa các bậc học.Trong thời
gian vừa qua, mặc dù nhà nước đã rất nỗ lực điều chỉnh thực trạng trên nhưng hiệu
qua mang lại chưa cao.Ngân sách chi cho giáo dục của chúng ta còn quá thấp.So
với các nước trong khu vực thì sự đầu tư này còn ít. Chẳng hạn ngân sách dành cho
giáo dục của Xinhgapo là 23%, của Malaixia là 20%... số học sinh trung học (kể cả
trung học chuyên nghiệp) Chiếm 1/4 tổng số học sinh, sinh viên cả nước nhưng chỉ
được đầu tư 8-9% ngân sách giáo dục, trong khi đó số sinh viên đại học chiếm gần
7% tổng số học sinh nhưng lại được đầu tư 15% ngân sách.Điều này là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay
(số liệu từ "Thông tin tài chính" - số 3 tháng2/1998).Nhà nước ta khả năng giải
13
quyết việc làm còn rất hạn chế.Vì vậy mẫu thuẫn cung cầu về số lượng nguồn nhân
lực rất lớn,gây sức ép ngày càng nặng nề lên xã hội.Đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư gây nhiều xáo trộn về xã hội và môi trường
tác động lớn đến cơ cấu vùng của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực nước ta phân bố không đồng đều giữa các lĩnh vực sản xuất,
giữa các vùng trong cả nước và các ngành kinh tế quốc dân.Ví dụ ở các vùng miền
phạm trù của phép biện chứng duy vật.Khả năng và hiện thực tồn tại một cách chặt
chẽ với nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật.Khả năng nào biến
thành hiện thực là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.Nếu thực hiện được các phương
pháp trên thì chất lượng nguồn nhân lực nước ta sẽ được nâng lên.
3)Thu hút nguồn chất xám và tạo thêm việc làm
Nhà nước cần có chính sách đặc biệt để thu hút nguồn lực nước ngoài vào
Việt Nam.Tạo môi trường thuận lợi ,ổn định về chính trị,an ninh, trật tự xã hội. Cần
có những chính sách ưu đãi đặc biệt cho lao động nước ngoài như ưu đãi về
thuế,chỗ ăn ở.. cho phép thành lập các trường đại học,học viện,viện nghiên cứu để
đón kiến thức,kinh nghiệm của thế giới vào Việt Nam.Cần tiếp tục kí kết các hợp
đồng thuê khoán với các tập đoàn thế giới như intel,bosch,IBM,cisso nhằm tạo
công ăn việc làm cho người lao động ,giải quyết phần nào vấn đề nhu cầu việc làm
hiện nay bên cạnh xuất khẩu lao động,góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ.Kêu gọi
kiều bào nước ngoài về góp sức phát triển kinh tế và khoa học nước nhà. Kiều bào
ta ở nước ngoài những người có lượng chất xám rất cao đều chung quan điểm, Nhà
nước cần tạo ra môi trường hợp tác, cần”cởi trói” cho các nhà khoa học để có thể
phát huy hết tiềm lực tri thức(nguồn Do đó
nhà nước cần có chính sách trọng dụng nhân tài, xây dựng đề án các chương trình
hợp tác,khuyến khích các nhà khoa học thương mại hóa chất xám. Một vấn đề nữa
do cơ chế tuyển dụng chưa thật hợp lí, cho nên cơ hội việc làm chưa thực sự trở
15
thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động hăng say làm việc.Vi thế ngoài
biện pháp tạo cơ hội việc làm cần có một số biện pháp khác nhằm khai thác phát
huy tính tích cực của người lao động.
4) Phát triển con người 1 cách toàn diện
Tiêu chuẩn cơ bản của một con người toàn diện là đức và tài,Bác Hồ đã dạy
chúng ta rằng
“Người có tài mà không có đức là kẻ vô dụng
ngoài lao động giỏi, trình độ cao..., còn phải coi trọng rèn luyện phẩm chất đạo
đức,sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng.Cuối cùng,em tin rằng Việt Nam sẽ
thay đổi được chất lượng nguồn nhân lực hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1] Giáo trình triết học Mác Lênin ,NXB chính trị quốc gia
2] Tạp chí xây dựng Đảng-Phát triển nguồn nhân lực trong Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XI 6/6/2014
3] C.Mác và Ph.Ăngghen Tuyển tập tập 1,Nxb Sự Thật,Hà Nội năm 1980
4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ V,Nxb
Sự Thật,Hà Nội năm 1982
5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ VI,Nxb
Sự Thật,Hà Nội năm 1987
6]. Nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam.
7]. Nghiên cứu nghị quyết của Đảng về vấn đề công nghiệp hoá , hiện đại hoá
đất nước.
8] Dự thảo Nghị quyết Trung ương 4 khoá 8- Bộ chính trị.
9] Chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người. NXB Thống Kê. Hà Nội 1995
10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX,Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội năm 2001
11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI,Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội năm 2009
17
12] Trang web />13] Tạp chí The Economist 17/10/1992
14] số liệu từ "Thông tin tài chính" - số 3 tháng2/1998
18