MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về ngân sách nhà nước
II. Các quy định về vấn đề công khai trong hoạt động ngân sách nhà nước
1. Công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước
2. Công khai tài chính đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụngvốn
ngân sách nhà nước
3. Công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được
ngân sách nhà nước hỗ trợ
4. Công khai tài chính với các doanh nghiệp Nhà nước
5. Công khai tài chính với các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước
6. Xử lý vi phạm
III. Thực thực và đề xuất pháp lý nhằm thực hiện tốt công khai hoạt động
ngân sách nhà nước
1. Thực trạng công khai trong hoạt động ngân sách nhà nước
2. Để xuất pháp lí
2.1 Các biện pháp hoàn thiện pháp luật về công khai ngân sách
2.2 Một số biện pháp hỗ trợ khác
C. KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
I. MỞ BÀI
Ngân sách nhà nước có một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế đất nước. Đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa
nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình hình thành,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung quan trọng nhất của nhà nước nhằm
đáp ứng cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước về mọi mặt.
huy tác dụng khi nó gắn liền với Nhà nước và được thể chế hóa bởi nhà nước
thông qua phương tiện pháp luật.
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với
trách nhiệm.( Điều 3 Luật Ngân sách nhà nước 2002)
Công khai chính là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động
ngân sách. Nguyên tắc này nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức
Nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện kiểm tra, giám
sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử
dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và
ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; bảo đảm sử dụng có hiệu quả
ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm,chống lãng phí.
Công khai ngân sách là việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông
tin tài chính phải công khai, phù hợp với từng đối tượng cung cấp và tiếp nhận
thông tin thông qua những hình thức pháp luật quy định như công bố trong các kì
họp thường niên, phát hành ấn phẩm, thông báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ những
tài liệu, số liệu thuộc bí mật nhà nước. Việc gửi các báo cáo quyết toán NSNN các
cấp, báo cáo quyết toan tài chính của các đơn vị dự toán NSNN, các tổ chức được
NSNN hỗ trợ, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo chế độ báo cáo tài chính
và kế toán hiện hành.
Những đối tượng phải công khai tài chính gồm: các cấp ngân sách nhà nước,
các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự
3
án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp
nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn thu từ
các khoản đóng góp của nhân dân được cấp có thẩm quyền cho phép thành lập
theo quy định của pháp luật.
tướng Chính phủ giao (đối với dự toán), đã được Quốc hội phê chuẩn, Bộ Tài
chính thẩm định (đối với quyết toán); tỷ lệ (%) phân chia các khoản thu phân chia
giữa ngân sách trung ương và ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương đã được Uỷ Ban thường vụ Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ
giao.
Cơ quan thực hiện việc công khai NSNN và ngân sách trung ương là Bộ Tài
Chính. Việc công khai phải được thực hiện hàng năm, chậm nhất sau 60 ngày, kể
từ ngày Quốc hội ban hành Nghị quyết về quyết định dự toán NSNN, phân bổ
ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dưới các hình
thức thông báo bằng văn bản cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, cơ quan khác ở Trung ương, HĐND và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; phát hành ấn phẩm; công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài
chính.
Việc công khai đối với ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng bao gồm những nội
dung như việc công khai đối với ngân sách trung ương. Bao gồm: Cân đối dự
toán, quyết toán ngân sách tỉnh; Dự toán, quyết toán thu, chi ngân sách cấp tỉnh,
ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Dự toán, quyết toán thu, chi
ngân sách nhà nước và ngân sách tỉnh trên địa bàn theo từng lĩnh vực; Dự toán,
quyết toán chi xây dựng cơ bản cho từng dự án, công trình, chi cho các dự án,
chương trình mục tiêu quốc gia. Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương thực hiện công khai ngân sách hàng năm những nội dung trên chậm nhất sau
60 ngày, kể từ ngày HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết về quyết định dự toán,
phê chuẩn quyết toán ngân sách dưới các hình thức sau: thông báo bằng văn bản
cho các cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh, HĐND, UBND các huyện, quận, thị xã,
5
thành phố thuộc tỉnh; phát hành ấn phẩm; công bố trên trang thông tin điện tử (đối
với những tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trang thông tin điện tử).
thẩm quyền quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư của Nhà nước trong dự toán
NSNN hàng năm đều phải thực hiện công khai tài chính, bao gồm các dự án được
đầu tư 100% bằng nguồn vốn NSNN và các dự án được hỗ trợ đầu tư bằng nguồn
vốn NSNN.
Hàng năm cơ quan cấp trên của chủ đầu tư phải thực hiện công khai tài chính
các nội dung thuộc thẩm quyền như: Tổng mức vốn đầu tư được Nhà nước giao
theo kế hoạch trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm và triển khai phân bổ
kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc cấp mình quản lý; Kết quả lựa chọn
nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt của từng dự án; Số liệu quyết toán
vốn đầu tư theo niên độ ngân sách hàng năm của từng dự án; Số liệu quyết toán
vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chậm nhất
là 30 ngày, kể từ ngày ký quyết định phân bổ, điều hòa, điều chỉnh kế hoạch vốn
đầu tư, ký gửi báo cáo quyết toán niên độ ngân sách và ký quyết định phê duyệt
quyết toán vốn đầu tư hoàn thành hoặc chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày có kết
quả lựa chọn nhà thầu được phê duyệt đối với nội dung về kết quả lựa chọn nhà
thầu.
Ở các đơn vị thực hiện công khai tài chính việc phân bổ và sử dụng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước phải trả lời chất vấn về
các nội dung công khai tài chính. Việc trả lời chất vấn phải được thực hiện bằng
văn bản và gửi tới người chất vấn. Thời gian trả lời chất vấn chậm nhất là 10 ngày
sau khi nhận được văn bản chất vấn, trường hợp nội dung chất vấn phức tạp thì
phải có giấy hẹn và trả lời không quá 45 ngày.
3. Công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được
ngân sách nhà nước hỗ trợ
Các đơn vị dự toán NSNN có trách nhiệm công khai phân bổ dự toán ngân sách
hàng năm, quyết toán NSNN. Thủ trưởng đơn vị dự toán cấp trên công bố công
khai:
7
4. Công khai tài chính với các doanh nghiệp Nhà nước
Tại Điều 12 và Điều 13 Quyết định 192/2004 Nội dung công khai tài chính
đối với doanh nghiệp nhà nước Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc,
Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện công khai các nội dung sau: Tình
hình tài chính của doanh nghiệp; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp; việc trích, lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp; các khoản
đóng góp cho ngân sách nhà nước của doanh nghiệp; các khoản thu nhập và thu
nhập bình quân của người lao động và số vốn góp và hiệu quả góp vốn của Nhà
nước tại doanh nghiệp, tổ chức khác.
Về hình thức và thời điểm công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà
nước: Việc công khai những nội dung quy định tại Điều 12 của Quy chế này được
thực hiện theo các hình thức: phát hành ấn phẩm; niêm yết tại doanh nghiệp; công
bố trong hội nghị cán bộ, công nhân, viên chức của doanh nghiệp.Việc công khai
tài chính được thực hiện định kỳ hàng năm. Thời điểm công khai tài chính chậm
nhất là 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.
Hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hiện nay đang giành được
những mối quan tâm lớn từ xã hội. Các DNNN đã chứng minh được vai trò là trụ
cột của nền kinh tế, nhưng thực tế đã cho thấy một vấn đề rất đáng lưu tâm, đó là
hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn từ NSNN của các doanh nghiệp này, khi mà
nhiều DNNN lâm vào tình trạng thua lỗ, nợ nần trầm trọng, hơn nữa tình trạng sử
dụng của “chùa”, tham nhũng, quan liêu cũng gây bức xúc cho dư luận. Do đó,
hơn lúc nào hết, việc công khai tài chính của các doanh nghiệp này là hết sức
quan trọng.
Ngoài ra trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, do tính chất đặc
thù kinh doanh, mà không phải thực hiện việc công khai tài chính, thì các DNNN
khác đều phải thực hiện. Các DNNN có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời,
chính xác các thông tin tài chính phải công khai tại hệ thống báo cáo tài chính
hàng năm, bao gồm các thông tin về tài sản, tiền vốn, kết quả sản xuất kinh
9
10
- Các văn bản về Điều lệ tổ chức và hoạt động; quy trình nghiệp vụ; quy chế
tài chính; các điều kiện, tiêu chuẩn, quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng được vay
hoặc tài trợ. Những nội dung này phải được công khai chậm nhất là 30 ngày kể từ
ngày văn bản được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung (nếu có).
- Kế hoạch tài chính hàng năm, trong đó có chi tiết các khoản thu, chi có
quan hệ với NSNN. Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kế hoạch tài chính năm
được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện việc
công khai tài chính theo những hình thức mà pháp luật quy định.
- Kết quả hoạt động và tài trợ (bao gồm cả cho vay và cấp không thu hồi)
của quỹ và quyết toán tài chính năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc
công khai tài chính phải được tiến hành chậm nhất là 120 ngày sau khi năm
dương lịch kết thúc.
Chủ tịch Hội đồng quản lý hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc); người có trách
nhiệm quản lý quỹ; Chủ tịch UBND các xã, thị trấn có tổ chức huy động đóng
góp của nhân dân cho đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, chủ tịch Hội
đồng xét thầu có trách nhiệm trả lời chất vấn về các nội dung công khai. Việc trả
lời chất vấn phải được thực hiện bằng văn bản và gửi tới người chất vấn. Thời
gian trả lời chất vấn chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận chất vấn. Trong trường
hợp nội dung chất vấn phức tạp thì phải có giấy hẹn và trả lời chậm nhất là 45
ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.
6. Xử lý vi phạm
Những hành vi sau bị coi là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về công
khai tài chính: Công khai không đầy đủ nội dung, hình thức, thời gian quy định,
công khai số liệu sai sự thật; công khai những số liệu thuộc bí mật nhà nước theo
quy định của pháp luật và không thực hiện báo cáo hoặc báo cáo chậm thời gian,
báo cáo sai sự thật.
Tùy theo tính chất, mức độ mà xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về xử
lý kết luận thanh tra, ý kiến chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra của Thủ trưởng
12
cơ quan quản lý nhà nước được công bố rộng rãi trên báo chí, phương tiện thông
tin đại chúng. Do đó, để tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động thanh
tra, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra thì cần có quy định cụ thể yêu cầu Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm công khai việc xử lý và chỉ đạo
thực hiện kết luận thanh tra. Thông qua đây cũng phát huy được vai trò giám sát
của các cơ quan nhà nước, của xã hội và nhân dân đối với việc thực hiện kết luận
thanh tra, bảo đảm thực hiện kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra.
Công tác công khai ngân sách vẫn còn nhiều những bất cập, đòi hỏi phải có
sự thay đổi kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của việc công khai ngân sách. Hạn
chế chủ yếu vẫn là các số liệu thống kê, công khai còn hạn chế. Hiện nay, các quy
định của pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định về nội dung công khai, đối
tượng công khai, trách nhiệm công khai, thời hạn và hình thức công khai mà chưa
chú trọng đến chất lượng của công khai. Điều này dẫn đến tình trạng các đối
tượng, mặc dù không công khai số liệu sai sự thật do đã có chế tài xử lý với hành
vi này, nhưng lại công khai những số liệu chung chung, chưa cụ thể, nhiều số liệu
còn nhập nhằng.
Công tác công khai hoạt động ngân sách vẫn chưa tạo được những hiệu quả thực
tế thật sự ấn tượng, chưa tạo được những chuyển biến tích cực trong hoạt động
của các đơn vị sử dụng ngân sách, đặc biệt là các Tổng công ty Nhà nước, các
doanh nghiệp nhà nước, các quỹ sử dụng ngân sách nhà nước. Nguyên nhân là do
công tác công khai ngân sách mới chỉ dừng lại ở việc công khai số liệu mà chưa
gắn với việc kiểm tra, thanh tra, chất vấn, làm rõ những số liệu chưa rõ ràng, phát
hiện những sai phạm và xử lí theo các quy định của pháp luật.
2. Để xuất pháp lí
2.1.Các biện pháp hoàn thiện pháp luật về công khai ngân sách
- Thực hiện đúng đắn, đầy đủ quy định công khai kết luận thanh tra
động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm thúc đẩy việc thực hiện giải pháp
phòng ngừa tham nhũng
14
-Tiếp tục hoàn thiện quy trình ngân sách, nhất là các thủ tục nộp cũng như
thanh toán ngân sách đơn giản hơn, rõ ràng, tránh chồng chéo, gắn quyền hạn với
trách nhiệm, nhất là trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu được giao giải quyết
công việc;
- Xây dựng một hệ thống kế toán nhà nước hoàn chỉnh và sát với thông lệ
quốc tế để sử dụng chung cho tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách Trung ương và
ngân sách địa phương; nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống phân loại ngân sách
hiện hành phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm phục vụ tốt hơn trong tổ chức quản
lý ngân sách như công tác công khai, minh bạch và hội nhập quốc tế;
- Cơ chế luật pháp cần phải hướng tới việc điều chỉnh việc chi tiêu, mua sắm
của Chính phủ. Cần kiểm tra, kiểm soát tài sản quốc gia, kể cả tài sản định lượng
được và tài sản không định lượng được. Việc nâng cao chất lượng chi tiêu của
Chính phủ sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng hoạt động tài chính, ngân
sách, tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân.
- Cần gắn chặt công tác công khai hoạt động ngân sách với hoạt động chất
vấn, kiểm tra, giám sát, để tăng cường hiệu quả thực tế của công tác công khai
ngân sách.
2.2 một số biện pháp hỗ trợ
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của những người có liên quan trực tiếp hay gián
tiếp đến hoạt động ngân sách
- Có những quy định thắc chặt hơn về hình thức kỷ luật, xử phạt
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quy chế công khai tài
chính - ngân sách trong các tầng lớp nhân dân để người dân hiểu biết về tình hình
công khai ở địa phương, từ đó thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát trong quá
thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các
tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
7. Thông tư của Bộ Tài Cính số 29/2005/TT-BCT ngày 14/04/2005 Hướng dẫn
quy chế công khai tài chính doanh nghiệp nhà nước.
8. Thông tư của Bộ Tài Chính số 54/2006/TT-BTC ngày 19/06/2006 Hướng dẫn
thực hiện quy chế công khai hỗ trợ trực tiếp của ngân sách nhà nước đối với cá
nhân, dân cư.
9. Thông tư số 05/2011/TT-TTCP ngày 10/01/2011 của Thanh tra Chính phủ quy
định về phòng, chống tham nhũng
10. Google. com
17